(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất vàng mã đến chất lượng môi trường tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 54

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG HÀ NỘI

TRẦN ANH THƢ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đ NH GI ẢNH HƢỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT VÀNG MÃ ĐẾN CHẤT LƢỢNG MÔI
TRƢỜNG TẠI HUYỆN THUẬN THÀNH,
TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG

HÀ NỘI, NĂM 2019


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG HÀ NỘI

TRẦN ANH THƢ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đ NH GI ẢNH HƢỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT VÀNG MÃ ĐẾN CHẤT LƢỢNG MÔI
TRƢỜNG TẠI HUYỆN THUẬN THÀNH,
TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
MÃ SỐ: 8440301
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ PHƢƠNG MAI

HÀ NỘI, NĂM 2019


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả các thầy cô
giáo trong khoa Môi trường, trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội. Tôi
cám ơn các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa học.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Phương
Mai đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những lời khuyên cần thiết đ tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Lãnh đạo, các cô chú, các anh chị tại
Ph ng Tài nguyên Môi trường của t nh Bắc Ninh, y ban nhân dân xã Song Hồ đã
tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực
hiện luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian c n hạn chế, cùng với những thiếu
sót về kiến thức và kinh nghiệm của tôi nên luận văn này không tránh khỏi những
thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý từ phía các thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng 04 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần An T ƣ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 10
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................... 3
1.1. Tổng quan về làng nghề, phân loại và lịch sử phát tri n làng nghề .....................3
1.1.1. Khái niệm làng nghề .....................................................................................3
1.1.2. Phân loại làng nghề .......................................................................................3

3.1.3. Hiện trạng sản xuất của làng nghề ..............................................................44
3.2. Hiện trạng môi trường tại làng nghề sản xuất vàng mã xã Song Hồ, huyện
Thuận Thành, t nh Bắc Ninh .....................................................................................45
3.2.1. Hiện trạng môi trường nước tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, t nh
Bắc Ninh ...............................................................................................................45
3.2.2. Đánh giá về hiện trạng chất thải rắn ...........................................................62
3.3. Đánh giá của ảnh hưởng hoạt động sản xuất tới môi trường nước và sức
khoẻ người dân ..........................................................................................................63
3.3.1. Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất đến hiện trạng môi trường nước tại
xã Song Hồ............................................................................................................63
3.3.2. Áp lực đối với môi trường nước tại xã Song Hồ ........................................66
3.3.3. Tác động của hoạt động sản xuất vàng mã tới sức khoẻ người dân ...........69
3.4. Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường làng nghề sản xuất vàng mã
huyện Thuận Thành, t nh Bắc Ninh ..........................................................................71
3.4.1. Hiện trạng công tác quản lý môi trường tại xã Song Hồ ............................71
3.4.2. Một số giải pháp về công tác quản lý môi trường ......................................72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 78
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1.
Bảng 1.2.
Bảng 1.3.
Bảng 1.5.
Bảng 1.6.
Bảng 1.7.
Bảng 2.1.
Bảng 2.2.

Tình hình tham gia sản xuất vàng mã của các hộ gia đình tại xã
Song Hồ, huyện Thuận Thành, t nh Bắc Ninh ......................................44
Kết quả phân tích nước mặt tại làng nghề sản xuất vàng mã Song Hồ .......46
Giá trị WQI của các mẫu mặt tại xã Song Hồ .......................................50
Diễn biến chất lượng nước mặt xã Song Hồ tại vị trí NM6, NM7
năm 2016 - 2018 ....................................................................................52
Kết quả phân tích nước dưới đất tại làng nghề sản xuất vàng mã .........53
Diễn biến chất lượng nước dưới đất xã Song Hồ tại vị trí NM6,
NM7 năm 2016 - 2018 ..........................................................................56
Kết quả phân tích nước thải tại làng nghề sản xuất vàng mã ................58
Bảng khối lượng chất thải rắn theo nguồn gốc phát sinh tại xã Song Hồ.... 63
So sánh chất lượng môi trường nước mặt tại xã Song Hồ ....................64
So sánh thành phần nước thải tại xã Song Hồ .......................................65
Tải lượng nước thải sinh hoạt của xã Song Hồ, năm 2018 ...................66
Ước tính tải lượng một số chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
xã Song Hồ, năm 2018 ..........................................................................66
Thải lượng thông số ô nhiễm trong nước thải của làng nghề sản
xuất vàng mã Song Hồ ..........................................................................68
Thống kê các bệnh liên quan tới ô nhiễm tại xã Song Hồ, giai đoạn
2016 – 2018 ...........................................................................................69
Thống kê một số bệnh thường gặp tại xã Song Hồ ...............................70


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1.

Vị trí địa lý xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, t nh Bắc Ninh ..............16

Hình 2.1.


Bi u đồ th hiện độ cứng tổng trong các mẫu nước dưới đất tại xã
Song Hồ .................................................................................................55

Hình 3.7.

Bi u đồ hàm lượng NH4+ trong nước dưới đất tại xã Song Hồ .............55

Hình 3.8.

Bi u đồ xác định TSS trong nước thải tại xã Song Hồ .........................59

Hình 3.9.

Bi u đồ xác định BOD5 trong nước thải tại xã Song Hồ.......................60

Hình 3.10. Bi u đồ xác định COD trong nước thải tại xã Song Hồ ........................61
Hình 3.11. Bi u đồ xác định Pb trong nước thải tại xã Song Hồ ............................61
Hình 3.13. Bi u đồ bi u diễn một số bệnh thường gặp tại xã Song Hồ ..................70
Hình 3.14. Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường t nh
Bắc Ninh ................................................................................................71
Hình 3.15. Sơ đồ xử lý nước thải làm vàng mã quy mô hộ gia đình ......................75


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kí iệu viết tắt

Giải ng ĩa

BOD5


QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

QLMT

Quản lý môi trường

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TDS

Tổng chất rắn hoà tan

TSS

Tổng chất rắn lơ lửng

TT

Thông tư

UBND

Uỷ ban nhân dân

WQI (Water Quality Index)


làm nghề sản xuất vàng mã. Nói đến làng nghề sản xuất vàng mã tại huyện Thuận
Thành, t nh Bắc Ninh là nói đến làng nghề sản xuất vàng mã tại xã Song Hồ. Quá
trình sản xuất sản phẩm đ i hỏi sử dụng khối lượng lớn giấy màu, bìa, tre nứa và
phẩm màu đ nhuộm giấy tạo nhiều màu sắc đa dạng cho sản phẩm. Rác thải và
nước thải trong quá trình sản xuất là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm


trọng, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân, sản xuất nông nghiệp và cảnh quan
khu vực. Kết quả điều tra khảo sát chất lượng môi trường tại một số vị trí trên địa
bàn xã Song Hồ cho thấy các mẫu nước mặt, nước ngầm, nước thải đều có dấu hiệu
ô nhiễm với mức độ khác nhau.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá ản

ƣởng của

oạt động sản xuất vàng mã đến c ất lƣợng môi trƣờng tại huyện T uận
Thành, tỉn Bắc Ninh”.
Mục tiêu ng iên cứu
- Đánh giá được chất lượng môi trường nước mặt, nước dưới đất và thành
phần nước thải tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, t nh Bắc Ninh.
- Đánh giá được ảnh hưởng của hoạt động sản xuất vàng mã đến môi trường
nước và sức khoẻ người dân tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, t nh Bắc Ninh.
Nội dung ng iên cứu
- Thu thập thông tin, số liệu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có về tự
nhiên, kinh tế - xã hội, và hoạt động sản xuất vàng mã tại xã Song Hồ, huyện Thuận
Thành, t nh Bắc Ninh.
- Điều tra, khảo sát hiện trạng môi trường nước, hiện trạng chất thải rắn bằng
phương pháp lập phiếu điều tra. Đối tượng điều tra gồm hộ sản xuất, hộ kinh doanh
vàng mã và cán bộ quản lý. Số lượng phiếu điều tra: 80 phiếu dành cho các hộ gia
đình, 30 phiếu dành cho cán bộ quản lý.

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản
phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi,
góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông
nhàn. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát tri n hàng ngàn năm, song song
với quá trình phát tri n KT – XH, văn hóa và nông nghiệp của đất nước. Ví dụ như
làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát tri n, làng nghề gốm Bát
Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình)
hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây
hơn 400 năm… Nếu đi sâu vào tìm hi u nguồn gốc của các sản phẩm từ các làng
nghề đó, có th thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban đầu đều được sản xuất đ
phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là công cụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu được

3


làm trong lúc nông nhàn. Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản đ làm ra
các sản phẩm này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [3, 16].
Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyền thống
và làng nghề mới.
Phân loại dựa vào phương thức sản xuất thì làng nghề được chia làm 5 loại
chính như sau:
- Làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm.
- Làng nghề sản xuất nguyên vật liệu xây dựng và gốm sứ.
- Làng nghề tái chế chất thải.
- Làng nghề dệt nhuộm.
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ.
Ngoài ra có th phân loại làng nghề theo các ki u dạng sau [3]:
Phân loại theo quy mô sản xuất, trình độ công nghệ. Chia thành 3 dạng chính:
làng nghề có quy mô lớn, làng nghề có quy mô vừa và làng nghề có quy mô nhỏ.
Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm.

định ở các thị trường Đông Âu và Liên Xô. Tuy vậy, do biến động của nền kinh tế
thế giới, mà xuất phát từ sự sụp đổ của mô hình CNXH của Liên Xô và Đông Âu,
sản xuất của các làng nghề bị đình trệ do thị trường tiêu thụ không c n như trước
nữa, số lao động trong các làng nghề giảm nhanh chóng.
Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: do tìm được hướng đi mới cho các sản phẩm
của làng nghề và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung mà nền kinh tế Việt Nam
bước sang một giai đoạn mới. Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với thời kỳ dỡ
bỏ sự cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế và thị trường của Việt Nam không ngừng
được mở rộng. Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, trong đó nhiều làng vẫn
duy trì được cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (như làng chạm bạc Đồng
Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng, giấy Phú Lâm…). Hơn nữa
nhiều làng nghề mới đã được hình thành (làng gỗ Đồng Kỵ, gạch ngói Hương
Canh…).
Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát
tri n, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã có
nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát tri n làng nghề. Tuy
nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên
nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn đ cải tiến
sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…). Đ giải quyết những khó khăn này, cần có cái
nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế
giới nói chung.
Sự phát tri n của làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá
nông nghiệp nông thôn. Sản xuất công nghiệp tại làng nghề trực tiếp từ các hộ gia
đình. Tính trung bình, hoạt động sản xuất công nghiệp tại các t nh tăng từ 60 đến

5


80%, và tỷ lệ này sẽ ngày càng tăng trong tương lai (Vietnam agricultural science
institute) [3].

phong phú đa dạng của làng nghề trong hệ thống cấu trúc làng xã Việt Nam. Ví dụ,

6


khi nói đến làng gốm Bát Tràng người ta không ch biết đến sản phẩm gốm mà c n
nhận biết các thông tin về địa lý, nhân văn, lễ hội truyền thống, lịch sử một làng
nghề bên sông Hồng đầy ấn tượng và cả một chút “huyền bí”. Hoặc khi nói đến làng
dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông, người ta không ch biết về "lụa là Hà Đông" mà c n
biết đến những nương dâu hai bờ sông Đáy, biết đến kỹ thuật nuôi tằm ươm tơ và
những bí quyết về kỹ thuật dệt lụa của cư dân làng Vạn Phúc. Tóm lại, đặc đi m
này cho chúng ta nhận dạng các giá trị văn hoá đặc biệt là văn hoá phi vật th từ
nguồn gốc và đặc trưng xã hội nông nghiệp sản xuất mùa vụ, cơ cấu quy mô thông
qua chế độ làng xã Việt Nam [3, 13, 17].
Làng nghề truyền thống Việt Nam c n tồn tại đến ngày nay hầu hết là những
nghề lâu đời ở những làng cổ dựa trên hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên liệu và
điều kiện giao thông, mà đường thuỷ là chính. Làng gốm Bát Tràng có lịch sử hình
thành đã hơn 6 thế kỷ, làng giấy Yên Thái (Bưởi) đã có cách đây 800 năm, làng kim
hoàn Định Công có cách đây 1400 năm và làng dệt lụa Vạn Phúc thì đã có hơn 1700
năm có lẻ... Theo chúng tôi, điều này phản ánh đúng logic lịch sử vì nó đáp ứng yêu
cầu của sản xuất và nhu cầu của con người. Do ở thời nào con người cũng cần công
cụ lao động, cần ăn, ở, mặc, đi lại và các hoạt động văn hoá khác. Khẳng định tính
truyền thống của nghề thủ công Việt Nam và làng nghề đ khẳng định sự tồn tại của
nó qua các hình thái kinh tế xã hội hay các phương thức sản xuất khác nhau, là rất
cần thiết, đ góp phần khẳng định được các giá trị văn hoá đích thực và ngôi vị lịch
sử cuả nó trong quá trình tồn tại và phát tri n của lịch sử dân tộc. Một khía cạnh
khác của đặc đi m này là làng nghề hoặc các cụm làng nghề ở nước ta được hình
thành hầu hết đều gắn liền với vùng nguyên liệu tại chỗ và thuận lợi với giao thông
đường thuỷ. Ví dụ như gốm Bát Tràng, Hải Dương, Quảng Ninh... nguyên liệu đất
sét trắng ở vùng đó quyết định đặc trưng sản phẩm, tính ổn định và phát tri n của

cần đề cập đến trong đặc đi m sinh hoạt văn hoá tinh thần của làng nghề là: hầu như
làng nghề nào cũng có tục thờ cúng tổ nghề và gắn liền với lễ hội cùng với các hoạt
động văn hoá dân gian khác. Ví dụ: thợ kim hoàn ở làng chạm bạc Đồng Xâm (Thái
Bình) thờ tổ nghề Nguyễn Kim Lâu, hàng năm vào ngày 5/1 âm lịch là ngày giỗ tổ
nghề - đúng ngày đó thợ Đồng Xâm dù làm ăn sinh sống ở đâu cũng phải về quê
làm lễ tổ bằng chính sản phẩm độc đáo nhất mà mình làm ra. Tại lễ tổ này có trao
đổi kinh nghiệm, đánh giá kết quả và đặc biệt là xem xét việc giữ gìn những "quy
lệ" của làng nghề, hội nghề. Thưởng cho những ai có công và phạt những người vi
phạm với các hình thức từ khi n trách trước phường hội đến đánh 30 roi trước sân
đình. Những người bỏ bê giỗ tổ nghề thì bị coi là kẻ "phản tổ"... Ở làng Châu Khê
(Hải Dương) một làng kim hoàn nổi tiếng cũng có lệ đối với việc cúng tế tổ nghề
Lưu Xuân Tiến, với một năm có hai dịp tế lễ là Xuân tế từ ngày mùng 1 đến ngày
12 tháng 2 (âm lịch) và Thu tế từ ngày mùng 1 đến ngày 12 tháng tám 8 (âm lịch).
Việc giỗ tổ được tổ chức đồng thời với lễ Thành hoàng làng Châu Khê tại đình làng
và đền thờ tổ nghề ở phố Hàng Bạc (Hà Nội), Đối với giỗ tổ nghề của làng nghề
Châu Khê thì yếu tố trung thực rất được đề cao. Những người làm đồ giả, làm ăn
gian dối, bị trừng trị từ phạt đến khai trừ khỏi phường nghề hoặc đuổi ra khỏi làng.

8


Gắn với nghi thức thờ tổ nghề là phần hội mang màu sắc văn hóa dân gian. Như
vậy, ở làng nghề ngoài yếu tố sản xuất c n mang rất đậm yếu tố văn hoá và phần
nào c n có những yếu tố tâm linh phù hợp. Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản
xuất và khái niệm đơn vị hành chính c n có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng
cư trú và cộng đồng lợi ích cao.
1.2. Tìn

ìn p át triển làng ng ề sản xuất vàng mã ở Việt Nam



những người ở thế giới bên kia có một cuộc sống đầy đủ và luôn phù hộ cho những
người đang sống có cuộc sống an bình.
Những năm gần đây cùng với quá trình chuy n đổi nền kinh tế thì trong tín
ngưỡng văn hoá cũng đã nảy sinh ra nhiều yếu tố vượt qua giới hạn của văn hoá
tinh thần đã làm ảnh hưởng tới đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Với lập luận
“trần sao âm vậy” người sống sợ người chết thiếu thốn mà đua nhau sắm nhiều các
loại đồ mã đ gửi sang thế giới bên kia và quan niệm càng mua nhiều loại đồ mã,
đốt đồ mã càng đắt tiền thì càng đạt nhiều tài, nhiều lộc. Chính đó đã đẩy nhanh
hiện tượng “thánh một cân, trần một yến” khiến cho đồ mã “lên ngôi” trong sự tiêu
cực của xã hội.
Đốt vàng mã không ch c n nằm trong phạm vi nghi lễ tại gia đình, tế lễ ở
chùa, đền mà đã vựợt ra khỏi khuôn khổ đó. Hàng mã được sử dụng ngày càng
nhiều, hàng mã được bán nhiều nơi và trở thành một mặt hàng có tính thương mại.
Nó không ch là vài đinh tiền vàng, mà đã có nhiều loại hình như: nhà lầu, xe hơi, ti
vi, xe máy, vi tính và những đồ dùng cao cấp mang tính thời thượng... Có một điều
mà bất cứ ai cũng rõ việc mua hàng mã đều phụ thuộc hoàn toàn vào người bán và
người chủ trì làm lễ (thầy cúng), họ bảo mua thứ hàng nào thì chủ nhân ch việc
mua, người mua không mặc cả, nếu mặc cả thì thiếu l ng thành và sẽ bị người thuộc
thế giới bên kia oán trách. Việc đốt hàng mã c n tạo nên nhiều điều ảo tưởng, sự
mơ hồ về những niềm tin không giới hạn…
Hiện nay, trong đời sống tín ngưỡng văn hoá của người dân tục đốt vàng mã
đang có xu hướng phát tri n và ngày càng chiếm ưu thế, cũng không ít người cho
rằng đồ mã đã đến thời thịnh vượng, tục đốt vàng mã đang trở thành một nhu cầu
không th thiếu trong đời sống tâm linh. Chính vì vậy nhu cầu sử dụng vàng mã trên
cả nước ngày càng tăng, nhu cầu đốt vàng mã ngày càng nhiều đặc biệt là vào các
ngày lễ tết, ngày giỗ…
Không biết từ bao giờ, vàng mã đã trở thành một phần không th thiếu trong
đời sống cúng kỵ của mọi gia đình mà không ít các phật tử khi tới chùa vẫn có thói
quen rải và đốt vàng mã thật nhiều đ gặp may mắn, cầu an. Chính vì vậy việc hóa

thì từ nhà trệt đến nhà phố, biệt thự có sân vườn, hồ bơi, nhà đ xe hơi… góp phần
làm cho ngành sản xuất hàng mã ngày càng phát tri n cả về quy mô và công xuất.
Theo Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở Hà Nội, những nơi sản xuất vàng mã
lớn như làng Cót, Nhân H a (Từ Liêm - Hà Nội) và làng Hồ (Thuận Thành - Bắc
Ninh) mỗi ngày tiêu thụ từ 2 – 3 tấn giấy. Trong một năm, cả nước có khoảng
50.000 tấn vàng mã được sử dụng, riêng Hà Nội, tiêu thụ trên 400 t đồng cho việc
đốt tiền, vàng mã [17].
* Thành phố Hà Nội
Tại thành phố Hà Nội, trung tâm thủ đô của cả nước nhưng vấn đề tâm linh,
linh thiêng vẫn được coi trọng và gìn giữ từ bao đời nay, có nguyên cả phố Hàng
Mã chuyên bày bán các mặt hàng dành cho người cõi âm. Hoặc, ghé thăm hai làng

11


làm vàng mã nổi tiếng Phúc Am, Duyên Trường (xã Duyên Thái, huyện Thường
Tín, TP Hà Nội), chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh những bộ khung hình voi, hình
ngựa... được xếp dàn hàng trên đường lớn từ đầu làng tới cuối làng, trong các ngõ
nhỏ, trong sân nhà, trong xưởng đ chờ được gia công, hoàn thiện. Theo lời một
người dân nơi đây, trước kia, người dân Phúc Am chủ yếu làm sơn mài, cuốn thuốc
lá, đan rổ rá, ch có vài cụ già làm vàng mã như nghề tay trái và chủ yếu là cuốn các
thỏi vàng thoi. Song, khoảng 20 năm trở lại đây, do nhu cầu của người dân chuy n
sang dùng rổ nhựa khiến nghề đan rổ không c n đất phát tri n, kết hợp với tình
trạng đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, người dân mất ruộng nên đổ dồn sang làm vàng
mã. Vài nhà làm thấy có lợi nên mọi người truyền tai nhau, dần dần, nghề vàng mã
lan rộng ra cả làng, và thực sự phát tri n mạnh mẽ khoảng 6, 7 năm trở lại đây.
Hiện cả làng có 250 hộ dân với hơn 1.000 nhân khẩu, trong đó ch có khoảng
20 chủ cơ sở. C n lại, đa phần người dân trong làng mỗi người nhận thực hiện một
công đoạn khác nhau như người nhận làm khung, người dán hoa văn. Đồng thời,
hàng c n được chuy n đi nhiều t nh như Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ninh…

thậm chí làm giàu cho người thợ.
Hiện nay, trên khắp các ngả đường Lương Văn Can, Chi Lăng, Nhật Lệ,
Nguyễn Sinh Cung, Đặng Văn Ngữ… của thành phố Huế hàng ngày vẫn có rất
nhiều các cửa hàng bán vàng mã với đa dạng các hình dáng, chủng loại. Ngoài
những đồ vàng mã “truyền thống” c n có rất nhiều loại như ô tô, xe máy, nhà lầu...
Mặc dù những loại này chưa nhiều nhưng đây cũng là một bi u hiện cho sự “thực
dụng hóa” trong nét đẹp văn hóa dân gian và đang có dấu hiệu phát tri n [16].
* Thành phố Hồ Chí Minh
Tại thành phố Hồ Chí Minh nghề làm vàng mã cũng phát tri n mạnh mẽ
không kém so với các t nh ngoài miền Bắc. Các mặt hàng sản phẩm đa dạng chủng
loại, mua bán tấp nập vàng mã trên các tuyến đường Chu Văn An, Phan Văn
Khỏe… khu vực chợ s Bình Tây (Q.6, TP.HCM). Vàng mã, đồ cúng liên tục được
đóng trong những kiện lớn đ chuy n về các cửa hàng tại các quận, huyện của thành
phố và các t nh. Các mặt hàng có đến cả trăm loại khác nhau. Ch riêng tiền, vàng
đã có vài chục loại, thị trường có loại xe gì, hàng mã đều có đủ, k cả những vật
dụng như ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy lạnh, bàn ghế, giường tủ, bếp núc, người hầu,
tài xế. Thời trang, thiết bị điện tử cho người cõi âm cũng đa dạng ki u dáng: quần
áo, giày dép, nước hoa, trang sức, son phấn, thẻ thanh toán các loại, điện thoại, máy
tính đời mới [16].
1.2.3. Tình hình phát triển nghề làm vàng mã tại Bắc Ninh
Bắc Ninh là một trong những t nh có nhiều làng nghề nhất ở nước ta. Hiện
nay toàn t nh có 62 làng nghề, trong đó có 30 làng nghề truyền thống và 32 làng
nghề mới với những sản phẩm nổi tiếng như sắt thép (Đa Hội, Châu Khê, Từ Sơn),
giấy (Phong Khê, Phú Lâm), nấu rượu (Đại Lâm, Tam Đa), đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng
Kỵ)...

13


Hàng năm, các làng nghề đã đóng góp ngân sách nhà nước, tạo việc làm tại

3

Tái chế phế liệu

9

15,3

4

Thủ công mỹ nghệ, thêu ren

9

15,3

5

Vật liệu xây dựng, khai thác đá

2

3,3

6

Các nghề khác

19


trẻ em và một số lao động nhàn rỗi. Giấy đ làm vàng mã được sản xuất chủ yếu tại
Đông Cao, huyện Yên Phong, t nh Bắc Ninh là nơi cung cấp nguyên liệu cho các cơ
sở sản xuất vàng mã.
Nổi tiếng nhất phải nhắc đến làng Đông Hồ. Trước đây, làng nổi tiếng với
nghề làm tranh dân gian, nhưng khoảng hơn 10 năm trở lại đây làng Đông Hồ được
biết tới như “đại công xưởng” sản xuất đồ vàng mã lớn nhất cả nước.
Thời gian tiêu thụ vãng mã nhiều nhất là ngày rằm tháng 7, nhu cầu về đồ
vàng mã của người dân càng nhiều. Tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, t nh Bắc
Ninh - nơi được coi là "kinh đô vàng mã" những ngày này, không khí mua bán trở
nên tấp nập hơn bao giờ hết.
Tháng bảy âm lịch được người Việt Nam gọi bằng những tên khác nhau như
tháng báo hiếu, tháng phóng sinh, tháng cô hồn…. Những ngày này, không khí
chuẩn bị hàng hóa cho dịp rằm tháng bảy đã bắt đầu nhộn nhịp.
Không ch sản xuất đồ mã phục vụ cho các t nh trong nước, đồ mã của xã
Song Hồ c n được xuất sang các nước khác như Trung Quốc, Lào… [16, 17].
1.3. Điều kiện tự n iên, kin tế - xã ội xã Song Hồ, uyện T uận T àn , tỉn
Bắc Nin
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Xã Song Hồ nằm gần trung tâm của huyện Thuận Thành, t nh Bắc Ninh; có
diện tích tự nhiên là 370,72 ha. Cách Hà Nội 25km về phía Tây. Vị trí địa lý như
sau:
- Phía Bắc giáp xã Tân Chi, huyện Tiên Du.
- Phía Nam giáp xã Gia Đông.
- Phía Đông giáp thị trấn Hồ.
- Phía Tây giáp xã Đại Đồng Thành.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status