ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG MƯA TỚI MỨC ĐỘ BỊ
BỆNH
DO NẤM CERATOCYSTIS GÂY HẠI TRÊN KEO TAI TƯỢNG
(ACACIA MANGIUM WILLD ) TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy :
Chuyên ngành
Lâm nghiệp :
Khoa Khóa
Lâm nghiệp :
học
2011 - 2015
Thái nguyên, 2015
hướng dẫn xem và sửa.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015.
Giảng viên hướng dẫn
Th.S Trần Thi Thanh Tâm
Giảng viên phản biện
(ký và ghi rõ họ tên)
Sinh viên
Lương Văn Kiếm
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước
lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại
những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng
như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất.
Đe đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm
Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của lượng mưa tới mức độ bị bệnh do
nấm Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng (Acacia mangium Willd) tại Tỉnh
Thái Nguyên Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình của
cán bộ địa phương, người dân nơi tôi thực tập và đặc biết là sự hưỡng dẫn chỉ
bảo tận tình của cô giáo hưỡng dẫn Th.S Trần Thị Thanh Tâm đã giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình làm đề tài.
MỤC LỤC
5.1.....................................................................................................................
1
0
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.
Đặt vấn đề
Vốn được mệnh danh là “lá phoi” của trái đất, rừng giữ vai trò điều hòa
khí hậu, bảo vệ sự sống. Rừng cây xanh bạt ngàn là lá phổi khổng lồ thanh lọc
không khí, cung cấp nguồn dưỡng khí duy trì sự sống cho con người. Có loại
rừng chắn gió, chắn cát ven bien. Có loại rừng ngăn nước lũ trên núi. Rừng
giúp con người hạn chế thiên tai. Đặc biệt, rừng là khu bảo tồn thiên nhiên vô
giá với hàng ngàn loài chim, loài thú quí giá, là nguồn đề tài nghiên cứu bất tận
cho các nhà sinh vật học. Rừng ngập mặn là bức tường thành ngăn chặn bão
gió, sóng thần, lũ lụt, ... Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, rừng
cung cấp gỗ củi, nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ,các loại đặc sản lâm
sản ngoài ngỗ.
Hiện nay sản lượng gỗ lấy ra từ rừng tự nhiên còn ít trong khi nhu cầu
sử dụng các sản phẩm được chế biến từ gỗ của con người vẫn không ngừng
tăng, gỗ vẫn là nguồn nguyên liệu không the thiếu được trong cuộc sống hàng
ngày.
Đe đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy xí nghiệp và bảo
bệnh phấn trắng lá Keo,
khá
Bệnh bồ hóng do
nấmMeliola spp... tuy nhiên gần đây ở các khu rừng trồng Keo sản xuất đang
xuất hiện cây bị chết hàng loạt qua đánh giá ban đầu được cho là do nấm
ceratocystis gây ra, việc nghiên cứu về loại nấm này còn hạn chế.
Nhận thấy sự ảnh hưởng của nấm Ceratocystis spp ảnh hưởng rất lớn đến
cây Keo tôi quyết định nghiên cứu đề tài : “Đánh giá ảnh hưởng của lượng
mưa tới mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng
(Acacia mangium Willd) tại Thái Nguyên”.
1.2.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Đánh giá
ảnh hưởng của lượng mưa tới mức độ bị bệnh do nấm
Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng (Acacia mangium Willd ). Phát hiện
được bệnh và làm quen được với công tác điều tra
1
2
1.3.
hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ bình quân 29-300C. Chỉ chịu được sương giá nhẹ,
lượng mưa 1000-4500mm/năm và không có mùa khô kéo dài. Độ am cũng là
nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây Keo, do
khí hậu ở Miền Bắc nước ta thuộc kiểu nhiệt đới ẩm mưa nhiều nên nhiều loài
Keo gần đây đã xuất hiện nhiều loài nấm bệnh gây hại tới cây trồng nói chung
cũng như cây keo nói riêng.
Việc nghiên cứu về các bệnh hại cây trồng trong lâm cũng được quan tâm
nhiều hơn và được đầu từ nhiều hơn trong việc phòng trừ sâu bệnh hại nhằm
góp phần làm giảm làm tăng năng suất cũng như chất lượng của rừng trồng.
Diện tích
rừng trồng Keo đã và đang tăng mạnh ở Việt Nam trong
thập kỷ qua. Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (Acacia
auriculiformis) và Keo lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm là những loài cây
được gây trồng chính trên phạm vi cả nước. Trong cùng một điều kiện khí hậu,
đất là nhân tố quyết định đến sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu trúc sản
lượng rừng và tính ổn định của rừng. Độ phì của đất còn ảnh hưởng nhiều mặt
đến đời sống của rừng. Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên hình thành đất, có ảnh
hưởng
trực tiếp đến đặc điểm sinh lý học và hóa học của đất,
thông qua đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của Keo tai tượng.
Keo tai tượng là cây gỗ nhỡ sinh trưởng nhanh có nguồn gốc từ Úc được
nhập vào
nước ta từ những năm 1960, nhưng từ năm 1976 trở lại đây mới
được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng trong cả nước. Keo tai tượng là loài cây đa
ở Ôxtrâylia có tới 850 loài, trong đó có hàng trăm loài có kiểu lá giả như Keo tai
tượng. Trong vài ba thập kỉ gần đây ở vùng nhiệt đới Châu Á, đặc biệt là vùng
Đông Nam Á, các loài Keo nhập từ Ôxtrâylia đóng một vai trò rất quan trọng
trong các chương trình trồng rừng, trong đó nổi bật là Keo lá tràm và Keo tai
tượng (Acacia mangium).
Chi Keo là một chi của một số loài cây thân bụi và thân gỗ có nguồn gốc
tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) thuộc họ
Đậu (Fabaceae), lần đầu tiên được Linnaeus miêu tả năm 1773 tại châu Phi.
Hiện nay, người ta biết khoảng 1.300 loài cây Keo trên toàn thế giới trong đó
Khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia , và phần còn lại pho biến trong các
khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu
Phi, miền nam châu Á, châu Mỹ.
Keo tai tượng là loài cây mọc nhanh có biên độ sinh thái khá rộng. Keo tai
tượng rất kén đất đòi hỏi đất phải tốt và sâu ẩm. Là cây họ đậu nên Keo tai
tượng không chỉ là cây kinh tế mà còn là cây che phủ cải tạo đất và cải thiện
điều kiện môi trường, ngày nay loài cây này đang được mở rộng ở nhiều nước,
điển hình như Inđônêxia, Malaixia, Philippin,Thái Lan, Ản độ, Nigiêria,
Tanzania, Băng-la-đét, Trung quốc, Mỹ. Ngay cả Papua Niu Ghine, nơi có Keo
tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Đông và phía Nam cũng đã tiến hành dẫn
giống lên phía Bắc để phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo đất thoái hóa sau
nương rãy.
Ở Inđônêxia Keo tai tượng cũng được trồng từ những năm 1940. Ở Thái
Lan, Keo tai tượng đã được đưa vào trồng từ năm 1935, nhưng mãi đến năm
1964 trở lại đây mới được phát triển mạnh. Năm 1961 Trung Quốc đã nhập
khoảng 50 loài từ Ôxtrâylia vào trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có
triển vọng và được gây trồng trên diện rộng, trong đó có Keo tai tượng Tình
hình sinh trưởng của Keo tai tượng trên các địa điểm của mỗi nước cũng rất
khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây trồng.
năm.
Thời kì đầu là nghiên cứu chủng loại, phân bố, mức độ bị hại, quy luật
phát bệnh và biên pháp phòng trừ.
Thời kì thứ hai đã chuyển hướng sang nghiên cứu thăm dò đặc tính
sinh thái các bệnh có tính hủy diệt, các biện pháp chọn giống và kĩ thuật lai tạo
các gloài cây chống chịu bệnh. Các quan hệ bệnh hại và ô nhiễm môi trường,
các bệnh do Mycoplasma gây ra.
Thời kì thứ ba từ năm 1970 đến nay, bệnh cây rừng bước váo nghiên
cứu sâu hơn về đánh giá ton thất, dự tính dự báo hiệu quả kinh tế thông qua toán
học hiện đại, quản lí thông tin và đưa việc “ Quản lí tổng hợp sâu bệnh hại rừng
” (IPM) đến với những người làm công tác lâm nghiệp.
Đầu thế kỷ xx đến nay khoa học công nghệ ngay càng phát triển nên nên
nền sản xuất nông lâm nghiệp đòi hỏi kỹ thuật ngày càng cao cân các nghiên
cứu tìm hiện quá trình phát sinh phát triển các loại bệnh gây hại để tìm ra các
biện pháp phòng trừ co hiệu quả nhất. Nhưng năm 50 của thế kỷ xx, nhiều nhà
bệnh cây đã tập trung vào viêc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh, điều
kiện phát sinh, phát triển bệnh. Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L.loger (1953) đã
nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn bệnh hại cây rừng
nhiệt đới. Trong đó có một số bệnh hại cây thông, bạch, đàn Keo. Theo kết qua
nghiên cứu của pedlay năm 1978 và baland 1986 với tong số 1200 loài Keo
acacia là một loài chi thực vật quan trọng với nhiều nước. Theo các nghi chép
của trung tâm rừng giống Ôxtrâylya thì các loài Keo acacia của Ôxtrâylya đã
đươc trồng ở trên 70 nước với diện tích là 1.750.00 0 ha vào thời điêm đó.
Nhiêu loài đã đáp ứng được yêu cầu sử dụng cho mục đích công nghiệp, xã hội
và môi trường (maslin và mcdonald 1996). Các loài có tiếng về cung cấp
nguyên liệu bột giấy là Keo lá tràm A.auriculiformid, Keo tai tượng acacia
mangium, Keo lá liền A.crassicarpa còn các loài khác như Acolei, A.tumida lại
có tiền năng cung cấp gố củi chống gió làm thức ăn cho con người ở một số
ellis & Halst sensu lato (s. 1) gây chết hàng loạt bạch đàn ở cộng hòa Công gô
và Braxin (Roux et al, 2000) [11]; cây cà phê (coffe sp.) ở Colombia và
Venezuela (marin et al, 2003. Pontis, 1951) [15].
Ở Inonexia Ceratocystis spp. lần đầu tiên được ghi nhận với tên là
Ceratocystis fimbriata (còn có tên là Rostrella cofeae Zimm) được công bố năm
1900 trên cây Cà phê (Coffea arabica L.) ở đảo Java (Zimmerman, 1900) [9].
Nấm Ceratocystis được xác định là một mối đe dọa mới cho rừng trồng Keo ở
Châu Á và Úc (Wingield et al. 2009) [12]. Gần
sự (2011)
đã
phát
đây nhất, Tarigan và
cộng
hiện
nấm
ba loài
Ceratocystis mới gây hại trên Keo tai tượng ở Indonexia đó là các loài
Ceratocystis inquinans, C. sumatrana và C. Microbasis .
Sau đó nhiều loài ceratocystis đã được tìm thấy trên nhiều cây chủ khác
nhau trên nhiều nhiều hòn đảo ở Indonesia. Gần đây nhất là phát hiện 5 loài nấm
ceratocystis mới gây hại trên cây Keo.
Năm 2011 Tarigan et al. đã phát hiện thêm hai loài nấm mới gây bệnh
Biện pháp sinh học: bón phân hữu cơ, phân chuồng đã ủ hoai kết hợp với
nấm đối kháng Trichoderma để cải thiện hệ vi sinh vật đất đồng góp phần làm
giảm mầm bệnh lưu tồn trong đất.
+ Biện pháp hoá học: phun thuốc diệt trừ kiến đen, mối và bọ cánh cứng
trên cây; Đối với việc khoanh vỏ xử lý ra hoa: không nên mở vết khoanh quá
lớn và nếu được có thể dùng thuốc trừ nấm (Coc 85, Mancozeb) quét quanh vết
khoanh để hạn chế sự tấn công cuả bệnh.
2.3.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.1.
Nghiên cứu về gây trồng keo tai tượng
Cùng với một số loài Keo khác Keo tai tượng được nhập vào trồng thử
nghiệm ở miền Nam nước ta từ những năm 1960 (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê
Đình Khả,1993). Năm 1970-1971 Keo tai tượng được đưa ra Huế trồng để trang
trí đường phố và làm cây phong cảnh dọc hai bên bờ sông Hương. Năm 1976,
Keo tai tượng được trồng thử nghiệm mở rộng trên một số dạng lập địa
như đất phèn ở Tân Tạo (TP Hồ Chí Minh), đất xám miền đông nam bộ, đất
Bazan Tây Nguyên (Lâm Đồng và Pleiku). Năm 1977-1980, Keo tai tượng được
trồng mở rộng từ vĩ tuyến 17 trở ra như Đông Hà-Quảng Trị, Đại Lải- Vĩnh
Phúc, Hữu Lũng-Lạng Sơn, Đồng Hỷ-Thái Nguyên,vv...Với điều kiện khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm và cận ẩm, Keo tai tượng tỏ ra thích hợp, sinh
trưởng và phát trien rất nhanh, nó đã trở thành một trong những loài cây chủ lực
để trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc trong nhưng năm tiếp theo. Bắt
đầu từ năm 1982, với sự tài trợ của tổ chức Quốc tế như FAO, SAREC, PAM,
2003) [2].
Do nguồn hạt giống có hạn nên mãi đến năm 190-1991 mới tiến hành mở
rộng các khảo nghiệm xuất xứ ra các vùng sinh thái như: Bầu Bàng (Bình
Dương), La Ngà (Đồng Nai), Đông Hà (Quảng Trị), Cẩm Quỳ (Hà Tây), Đại
Lải (Vĩnh Phúc). Từ kết quả của các khảo nghiệm đã xác định được một số xuất
xứ có khả năng thích ứng rộng và sinh trưởng nhanh ở nhiều vùng trong cả
Nước.
2.3.2.
Nghiên cứu về bệnh hại Keo
Từ đầu năm 1980 trở lại đây nhiều loài keo đã được nhập về thử nghiệm
trồng ở nước ta như Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, sau này Keo lai
được phát hiện và chủ động lai tạo (sedgleye.al,1992).[13]
Theo kết quả nghiên cứu của (Phạm Quang Thu năm, 2002) [7] chỉ ra
rằng, một vài năm gân đây khi diện tích trồng Keo tăng lên đáng kể gần
230.000 ha rừng cuối năm 1999 thì cũng đã xuất hiên bệnh ở rừng trồng. Tại Đạ
Tẻ (Lâm Đồng) Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích 400 ha co 118.7 ha
bị mắc bệnh với tỷ lệ 7 đến 59% trong đó có một số diện tích bị khá nặng. tai
bầu bàng một số keo lai bi mắc bệnh phấn hồng với tỷ lệ mắc bệnh ở mức khá
cao gây thiệt hại cho sản xuất. tại Kon tum năm 2001, có khoảng 1000 ha rừng 2
tuổi bị bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn.tỷ lệ năng nhất là ở ngọc
tụ ,ngọc hồi (kon tum) lên đên 90% cây bị chết ngọn .
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa từ (2001-2005) thực hiện đề tài
“Chọn giống kháng bệnh cho năng suất cao, kháng bệnh cho Bạch đàn và Keo”
tác giả đã tiến hành điều tra bệnh hại các loài Keo ở vườn ươm và rừng
trồng...một số bệnh quan trọng được tác giả nhắc đến là bệnh phấn hồng do nấm
corticium salnamicolor, bệnh loét thân do nấmcolletotrichum gloeosporioides,
Trong những năm gần đây, phong trào trồng rừng sản xuất phát triển mạnh
ở tỉnh Thái Nguyên. Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lai (A. mangium x A.
auriculiformis) được chọn là những loài cây trồng chính. Rừng trồng sản xuất
đã
mang
lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cho người
trồng rừng. Trong thời gian vừa qua, một bệnh mới hại các loài Keo đã xuất
hiện với triệu chứng héo lá, loét thân, nấm làm gỗ bị biến màu và cuối cùng cây
chết. Phân lập nấm bệnh bằng phương pháp nuôi cấy đơn bào tử, các mẫu gỗ bị
bệnh được cắt thành các mẩu nhỏ, một số mẩu để trong hộp lồng ẩm, một số
mẩu kẹp vào giữa 2 lát cà rốt mỏng và đặt trong túi bóng giữ ẩm trong 3-5 ngày
để hình thành bào tử hoặc cho đến khi thể quả của nấm được hình thành (Moller
và De Vay, 1968) [14]
Nấm gây bệnh đã được xác định là Ceratocystis sp. Nấm Ceratocystis là
nấm gây bệnh nguy hiểm cho nhiều loài cây gỗ, có phân bố toàn thế giới
nhưng gây hại nặng ở các nước nhiệt đới (Kile, 1993) [8]. Loài nấm này được
xác định là một mối đe dọa mới cho rừng trồng các loài Keo .
Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài nấm phát
triển đặc
biệt là Ceratocystis đã bắt đầu xuất hiện trên cây Keo tại
một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm
Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh. Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì
cụ từ cây bị bệnh sang cây khoẻ nên khử trùng dụng cụ bằng cách ngâm dụng cụ
trong dung dịch cồn 900 trong 10 phút nhằm tiêu diệt mầm bệnh cũng như tránh
sự lây lan; Cắt bỏ cành, cây bị bệnh nặng. Tiêu huỷ tập trung. Quét thuốc trừ
nấm hoặc nước ngay vết cắt để tránh nhiễm bệnh ngay vết thương.
Điều tra thường xuyên phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh. Khi bệnh
mới xuất hiện, tỷ lệ bị bệnh còn ít, xử dụng thuốc Bordeaux nồng độ 1% phun
hoặc quét lên các vết bị bệnh.
Chặt toàn bộ cây bị chết hoặc nhiễm bệnh nặng đưa ra khỏi rừng để tiêu
diệt nguồn xâm nhiễm.
Thường xuyên kiểm tra rừng để sớm phát hiện những lô bị bệnh...
Chú ý: Cần hạn chế gây vết thương trên cây đặc biệt là vào mùa mưa, khi khai
thác chặt hạn chế gây ton hại cho cây chưa khai thác, khi cắt tỉa cành nên
dùng Keo hay mỡ bò bôi kín vết cắt.
2.3.5.
Thông tin chung về Keo tai tượng
2.3.5.1.
Phân loại khoa học
-
Giới (regnum): Thực vật (Plantate)
-
đường kính 40-50cm, cây non mới mọc lúc đầu (khoảng 1-2 tuần tuổi) có lá kép
long chim 2 lần, sau đó mới ra lá thật lá đơn mầu trắng hoặc màu vàng nhạt, lá
Keo to rộng 10cm, hoa màu trắng hoặc vàng, quả xoắn vặn (Vũ Văn Dũng,
1999)
2.3.5.3.
Đặc điểm sinh thái
Keo tai tượng là cây ưa sáng mọc nhanh. Cây gỗ nhỡ, vỏ mầu xám nâu,
nứt dọc, tán hình trứng hoặc hình tháp, thường phân cành thấp. Cây ở tuổi 20 trở
đi tốc độ sinh trưởng chậm dần. Keo tai tượng ra hoa vào tháng 910, quả chín
tháng 2-3 năm sau. Cây 2 tuổi có thể ra hoa và kết quả. Keo tai tượng là cây ưa
sáng sinh trưởng nhanh, rễ có nốt sần, có khả năng tái sinh hạt và chồi tốt. Keo
tai tượng thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ bình quân 29-30 0C chỉ chịu
được sương giá nhẹ, lượng mưa 1000-4500mm/năm và không có mùa khô kéo
dài. Keo tai tượng sinh trưởng trên đất bồi tụ, dốc tụ sâu, ẩm độ tốt, trên đất xói
mòn mỏng lớp đất khô hạn nghèo dinh dưỡng, độ chua pH 4-5 vẫn sống, song
sinh trưởng kém (Vũ Văn Dũng, 1999)
2.3.5.4.
Phân bố địa lý
Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở Đông Bắc Úc, Papua Newghine, Đông
Indonexia, ở độ cao dưới 100m so với mực nước biển, thường mọc ven sông,
vùng đồng cỏ, rừng ngập mặn, rừng tràm. Ở Việt Nam, hiện nay đang mở rộng
trồng ở hầu hết các tỉnh đồng bằng cũng như trung du đến độ cao 400-500m so
với mực nước biển, trên nhiều loại đất khác nhau: đồi bị xói mòn, chua, nghèo,
xấu, khô hạn... nó vẫn sinh trưởng bình thường và ra hoa kết quả (Vũ Văn