ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI THU NGA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI THU NGA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SÔ: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ SỸ TRUNG
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................... ii
MỤC LỤC .............................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................... vii
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................... viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................... 3
4. Dự kiến đóng góp của luận văn........................................................... 3
5. Cấu trúc của luận văn .......................................................................... 3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ ............... 4
1.1. Làng nghề thủ công mỹ nghệ ........................................................... 4
1.1.1. Khái niệm ...................................................................................... 4
1.1.2. Đặc điểm của làng nghề thủ công mỹ nghệ .................................. 7
1.1.3. Vai trò của làng nghề thủ công mỹ nghệ ...................................... 9
1.2. Quản lý nhà nước đối với làng nghề thủ công mỹ nghệ ................ 11
1.2.1. Khái niệm .................................................................................... 11
1.2.2. Vai trò của quản lý nhà nước đối với làng nghề thủ công mỹ
nghệ ....................................................................................................... 12
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với làng nghề thủ công mỹ
nghệ ....................................................................................................... 14
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với làng nghề thủ
công mỹ nghệ ........................................................................................ 17
3.1.2. Quá trình hình thành và phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ trên
địa bàn thành phố Hà Nội...................................................................... 37
3.2. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề thủ
công mỹ nghệ trên địa bàn thành phố Hà Nội ...................................... 39
v
3.2.1. Số lượng làng nghề TCMN trên địa bàn thành phố Hà Nội ....... 39
3.2.2. Quy mô hộ tại các làng nghề TCMN thành phố Hà Nội ............ 41
3.2.3. Quy mô lao động tại các làng nghề TCMN thành phố Hà Nội .. 42
3.2.4. Thu nhập của lao động nghề tại các làng nghề TCMN thành phố
Hà Nội ................................................................................................... 43
3.2.5. Quy mô vốn và giá trị tài sản của các làng nghề TCMN thành phố
Hà Nội ................................................................................................... 44
3.2.6. Tác động của làng nghề TCMN thành phố Hà Nội đến phát triển
kinh tế địa phương ................................................................................. 46
3.3. Thực trạng quản lý nhà nước về làng nghề thủ công mỹ nghệ trên
địa bàn thành phố Hà Nội...................................................................... 47
3.3.1. Thực trạng quy hoạch phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ thành
phố Hà Nội ............................................................................................ 47
3.3.2. Thực trạng ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển làng
nghề TCMN trên địa bàn thành phố Hà Nội ......................................... 49
3.3.3. Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của làng nghề
TCMT trên địa bàn thành phố Hà Nội .................................................. 60
3.4. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về làng nghề
thủ công mỹ nghệ trên địa bàn thành phố Hà Nội ................................ 61
3.4.1. Các yếu tố bên trong làng nghề ................................................... 62
3.4.2. Các yếu tố bên ngoài làng nghề .................................................. 66
3.5. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về làng nghề thủ công mỹ trên
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ/LĐ
Bình quân/ lao động
DN
Doanh nghiệp
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
HTX
Hợp tác xã
LN
Làng nghề
NSNN
Ngân sách nhà nước
SX
Bảng 3.1.
Số lượng làng nghề thành phố Hà Nội giai đoạn 20152017 ................................................................................... 39
Bảng 3.2.
Số lượng làng nghề TCMN chia theo nhóm sản phẩm ..... 40
Bảng 3.3.
Số lượng hộ tham gia sản xuất nghề thành phố Hà Nội giai
đoạn 2015-2017 ................................................................. 41
Bảng 3.4.
Số lượng lao động tham gia sản xuất nghề tại các làng nghề
thành phố Hà Nội giai đoạn 2015-2017 ............................ 42
Bảng 3.5.
Thu nhập bình quân của lao động nghề tại các làng nghề trên
địa bàn thành phố Hà Nội .................................................. 43
Bảng 3.6.
Quy mô vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh của các làng
nghề TCMN được khảo sát (tính bình quân trên 1 hộ
nghề) .................................................................................. 44
Bảng 3.7.
kinh doanh trong các làng nghề TCMN thành phố Hà
Nội ..................................................................................... 65
Bảng 3.16. Đánh giá của các hộ nghề về hệ thống chính sách PTLN
TCMN trên địa bàn thành phố Hà Nội .............................. 66
Bảng 3.17. Trình độ của cán bộ quản lý nhà nước về làng nghề TCMN
của thành phố Hà Nội giai đoạn 2015-2017 ..................... 67
Bảng 3.18. Đánh giá của các hộ nghề về cán bộ quản lý làng nghề
TCMN trên địa bàn thành phố Hà Nội .............................. 68
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã ở khu vực nông
thôn Việt Nam. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà
nước đã rất quan tâm đến phát triển làng nghề, tạo công ăn việc làm cho hơn 11 triệu
lao động, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia như: Kinh tế cá thể, kinh tế tập
thể, doanh nghiệp tư nhân. Làng nghề là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp,
giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện đại; góp phần đáng kể vào sự
phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng khả năng huy động
nguồn lực tại chỗ, tăng nhanh khối lượng hàng hóa tiêu dùng và hàng xuất khẩu, cải
thiện đời sống cho người lao động ở các địa phương. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất
trong làng nghề còn giúp người dân gắn bó với nhau, tạo ra những truyền thống, nét
đẹp trong đời sống văn hóa, tinh thần cho nông thôn Việt Nam.
Hà Nội được biết đến là địa phương có nhiều làng nghề, phố nghề (gọi
chung là làng nghề) nổi tiếng nhất cả nước, với 1.350 làng nghề và làng có nghề,
trong đó 292 làng nghề đã được công nhận danh hiệu “Làng nghề truyền thống Hà
Nội”, song chủ yếu là làng nghề thủ công mỹ nghệ chiếm 57,53%, với những làng
nghề nổi tiếng như làng nghề truyền thống Bát Tràng, làng nghề lụa Vạn Phúc,
làng nghề mây tre đan Phú Vinh..., góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với làng
nghề TCMN của thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề thủ công mỹ nghệ, quản
lý nhà nước đối với làng nghề thủ công mỹ nghệ.
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với làng nghề thủ công mỹ nghệ
của thành phố Hà Nội hiện nay.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với làng nghề thủ
công mỹ nghệ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với làng nghề thủ
công mỹ nghệ của thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước đối với làng
nghề thủ công mỹ nghệ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu một số nội dung cơ bản của hoạt động quản
lý nhà nước đối với làng nghề TCMN, bao gồm: Quy hoạch phát triển làng nghề
TCMN; ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề TCMN; thanh
tra, kiểm tra đối với các làng nghề TCMN.
- Về không gian: Nghiên cứu các làng nghề TCMN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trong đó, điều tra, khảo sát tại 3 làng nghề TCMN điển hình của thành phố Hà Nội, gồm:
Làng nghề gốm Bát Tràng; làng nghề lụa Vạn Phúc; làng nghề mây tre đan Phú Vinh.
- Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề TCMN
của thành phố Hà Nội giai đoạn 2015-2017, đề xuất giải pháp đến năm 2025.
làng nghề như sau: (1) “Làng nghề là tập hợp các nhóm hộ nông dân sống ở một làng,
tham gia sản xuất một loại ngành nghề điển hình và có vai trò quan trọng đối với thu
nhập, đời sống của cộng đồng” (Lê Quốc Doanh và cộng sự, 2003); (2) “Làng nghề
là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và
nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia
đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội
và văn hóa” (Trần Minh Yến, 2004); (3) “Làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt,
chăn nuôi và nhiều nghề phụ… song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một
lớp thợ thủ công ít nhiều chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, phó cả… với một
cơ cấu tổ chức nào đó, chuyên tâm và có thể sống chủ yếu bằng nghề đó, và mặt hàng
thủ công của họ đã là sản phẩm hàng hóa, có quan hệ tiếp thị với một thị trường,…
Những làng ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu, dân biết mặt, nước biết tên, tên tuổi đã đi
vào ca dao tục ngữ, truyền thống dân gian… trở thành di sản văn hóa dân gian” (Trần
Quốc Vượng, 2012).
Một số quan điểm lại cho rằng, làng nghề phải là nghề thủ công và tách biệt
khỏi nông nghiệp như: (1) “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội, một cụm hoặc
nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách
ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập và tồn tại trong một không gian
địa lý nhất định, thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm
của toàn làng” (Đinh Xuân Nghiêm và cộng sự, 2010); (2) “Làng nghề là những làng
ở nông thôn có các nghề không phải là nông nghiệp mà chúng chiếm ưu thế về số
lượng, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông” (Trịnh Kim Liên, 2013);
5
(3) “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công hầu như được
tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao
động làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu
nhập của làng” (Lê Xuân Tâm, 2014).
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, trong nhiều văn bản chính sách của bộ,
hình là thủ công truyền thống và có vai trò quan trọng đối với thu nhập, đời sống của
cộng đồng. Cùng với quá trình phát triển quan niệm về làng nghề đã có sự tách biệt
“làng” và “nghề”, trong các nghề không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà
đã có những cơ sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất.
Trong các quan điểm, định nghĩa về làng nghề nêu trên, tác giả nhận thấy cách
định nghĩa về làng nghề của các nhà hoạch định chính sách Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn là rất cụ thể và sát với đặc điểm nông thôn Việt Nam. Với đề tài lựa
chọn gắn với hoạt động quản lý nhà nước, cho nên, trong cách tiếp cận về làng nghề,
tác giả sử dụng định nghĩa do các nhà hoạch định chính sách của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn đưa ra làm khái niệm công cụ cho việc nghiên cứu đề tài, theo đó:
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc
hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành
nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
b) Làng nghề thủ công mỹ nghệ
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nghề thủ công hình thành ngay từ trong lòng
xã hội nguyên thủy, không đợi đến khi xuất hiện của làng. Tuy nhiên, phải đợi cho
đến khi cơ cấu làng Việt ra đời và ổn định thì làng nghề mới trở thành một bộ phận
quan trọng cấu thành lịch sử kinh tế -văn hóa Việt Nam [Tổng tập Nghề và Làng nghề
truyền thống Việt Nam - Tập 1], trong đó, nghề thủ công gắn liền với lao động mang
tính kỹ thuật, kỹ xảo… Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về nghề TCMN và làng nghề
TCMN, mỗi nghiên cứu được thực hiện ở những khía cạnh khác nhau.
Một số quan niệm cho rằng, làng nghề TCMN là làng nghề ngoài sản xuất
nông nghiệp thuần túy, còn làm các nghề sản phẩm hàng hóa tiêu dùng được sản xuất
thủ công, có tính mỹ thuật cao, luôn gắn với phong tục tập quán và mang đậm các nét
văn hóa của nơi rạo ra hàng hóa đó [Bộ Thương Mại (2007), Đề tài “Phát triển hàng
TCMN xuất khẩu của tỉnh miền núi phía Bắc qua thực tiễn của Yên Bái”]; Làng nghề
TCMN là làng nghề có nghề thủ công mỹ nghệ có trên 50% số lao động tham gia
nghề TCMN, và thu nhập từ nghề chiếm trên 30% tổng thu nhập của hộ trong làng
của người thợ được tích lũy qua nhiều thế hệ, giữ được tính chất bí truyền của nghề.
8
Do không được tổng kết thành lý luận hoặc được ghi chép mà chỉ được truyền miệng
hoặc truyền nghề trực tiếp trong gia đình, trong dòng họ, trong làng, cho nên trong
lịch sử, đã có những bí quyết bị thất truyền.
- Lao động thủ công, phụ thuộc vào sự khéo léo của các nghệ nhân
Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, địa điểm sản xuất nghề
thủ công truyền thống là tại gia đình họ. Trong một quãng thời gian dài của lịch sử,
hoạt động quản lý sản xuất của các hộ sản xuất TCMN là tự quản lý, phân công lao
động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ
công lúc nông nhàn. Ngày nay, do nhu cầu của thị trường về hàng TCMN ngày càng
cao, cho nên đã dần hình thành phương thức quản lý sản xuất chuyên nghiệp, theo đó
đã có nhiều hộ sản xuất TCMN tập trung chuyên sâu vào phát triển các mặt hàng
TCMN với sự hỗ trợ của kỹ thuật, công nghệ và lao động tập trung.
- Sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất; có tính thẩm mỹ và mang
đậm bản sắc văn hóa
Sản phẩm của làng nghề TCMN nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất.
Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có
giá trị thẩm mỹ hoặc chỉ là vật để dụng trang trí ở nhà, công sở, nơi tôn nghiêm như đình,
chùa. Các sản phẩm của làng nghề mang tính chủ quan sáng tạo, hoàn toàn phụ thuộc
vào trình độ và bàn tay khéo léo của người thợ. Dưới bàn tay tài hoa của người thợ thủ
công, một số sản phẩm thủ công mỹ nghệ đạt độ tinh xảo điêu luyện, có giá trị nghệ thuật
cao. Cho nên, sản phẩm của làng nghề TCMN in đậm dấu ấn người thợ và khó sản xuất
đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc. Nhược điểm này làm cho làng nghề khó đáp ứng đơn
đặt hàng lớn do chất lượng sản phẩm không đồng đều.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm là thị trường địa phương, liên tỉnh, một số ít
cho xuất khẩu
Mặc dù sản phẩm TCMN không phải là mặt hàng thiết yếu trong cuộc sống,
hội nhập của các làng nghề.
1.1.3. Vai trò của làng nghề thủ công mỹ nghệ
- Giải quyết việt làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
Làng nghề nước ta với nhiều ngành nghề không đòi hỏi nhiều vốn hay yêu cầu
kỹ thuật cao, chủ yếu là tận dụng lao động và có khả năng làm việc trong từng hộ gia
đình. Giá trị lao động sống trong giá thành sản phẩm chiếm tỷ lệ cao. Do đó, các làng
nghề TCMN thu hút được nhiều lao động nông thôn, tạo việc làm cho nhiều lao động
nhàn rỗi ở nông thôn.
- Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp.
10
Dân số khu vực nông thôn chiếm 80% dân số cả nước, sự chênh lệch về thu
nhập giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn đã tạo ra sự phát triển mất cân đối
về kinh tế tại các khu vực này. Nhiều lao động nông thôn không có việc làm hoặc việc
làm không ổn định (nông nghiệp sản xuất theo thời vụ) gây mất ổn định cho quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Trước tình hình đó, phát triển ngành nghề nông thôn, các
làng nghề, trong đó có làng nghề TCMN đang được coi là phương pháp hữu hiệu nhằm
tạo ra cơ hội việc làm cho nông dân; là giải pháp tối ưu trong việc tạo thêm nhiều công
ăn việc làm, tận dụng lao động nhàn rỗi cho lao động nông thôn. Đồng thời, nghề
TCMN là nghề phi nông nghiệp, phát triển làng nghề TCMN sẽ giúp phát triển công
nghiệp hóa nông thôn và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, qua đó, giúp ổn định
kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân khu vực làng nghề.
- Bảo tồn và phát triển nhiều ngành nghề truyền thống và phát triển du lịch.
Các làng nghề nhìn chung gắn liền với lịch sử phát triển của nền văn hóa địa
phương. Các sản phẩm làng nghề chứa đựng những nét văn hóa riêng có của mỗi làng
nghề, chứa đựng những phong tục, tập quán, tín ngưỡng,... Nhiều sản phẩm làng nghề
là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, độc đáo, đạt trình độ cao về mỹ thuật.Bên
cạnh những giá trị truyền thống của sản phẩm nghề, hiện nay, các làng nghề TCMN
gắn với bến nước, sân đình, đang là điểm đến được yêu thích của nhiều du khách
1.2.1. Khái niệm
Trong khoa học hành chính, khoa học quản lý, quản lý nhà nước được hiểu
một cách chung nhất là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà
nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục
tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi, bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà
nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất, việc
chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo
bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực vực hành chính học cũng đã đề cập
đến khái niệm quản lý nhà nước như: (1) “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ
chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật
tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa” (Nguyễn Hữu
Hải, 2014); (2) “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà
12
nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành
vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự
pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” (Ngô Huy Toàn,
2009), …
Đối với tác giả, trên cơ sở những kiến thức chuyên ngành; những hiểu biết về
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng với sự kế thừa những quan điểm
khoa học của các nhà nghiên cứu nêu trên, có thể xác định quản lý nhà nước là một
dạng quản lý do Nhà nước (các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến
địa phương) làm chủ thể, có tác động định hướng điều hành, chi phối... đến các đối
tượng quản lý xã hội trong phạm vi (quốc gia hoặc địa phương) nhằm đạt được mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Từ các khái niệm về làng nghề, làng nghề TCMN và quản lý nhà nước như đã
phát triển, đòi hỏi một lượng vốn lớn cho các làng nghề đổi mới trang thiết bị, công
nghệ mở rộng sản xuất kinh doanh. Bằng công cụ quản lý của Nhà nước, thông qua
các chính sách tín dụng ưu đãi cho các làng nghề vay vốn tạo điều kiện cho cơ sở sản
xuất kinh doanh giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận. Mặt khác, thông
qua các kênh tài chính khác, Nhà nước có thể kiểm soát các cơ chế điều hành để các
cơ sở sản xuất kinh doanh huy động thêm vốn từ việc phát hành các chứng chỉ có giá
để huy động thêm vốn. Bên cạnh đó, thông qua công cụ là chính sách thuế (miễn giảm
thuế) đối với lĩnh vực sản phẩm TCMN, Nhà nước khuyến kích các cơ sở SXKD, các
THT, HTX, DN tích tụ vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Góp phần định hướng và điều tiết hoạt động các làng nghề TCMN
Thông qua các hoạt động quản lý nhà nước đối với các làng nghề TCMN, Nhà
nước có thể định hướng các hộ, tổ chức SXKD phát triển những ngành nghề ưu tiên,
mở rộng quy hoạch phát triển làng nghề TCMN,… hạn chế những tác động xấu như
ô nhiễm môi trường, cạnh tranh không lành mạnh tại các làng nghề TCMN.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Nhà nước giữ vai trò là người điều hành
nền kinh tế thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, mà trực tiếp là chi đầu tư của Nhà
nước. Vốn đầu tư phát triển của Nhà nước được xem như một công cụ nhằm khuyến
khích tạo điều kiện, môi trường và định hướng đầu tư cho các nguồn vốn khác. Bên
cạnh đó là các chính sách đầu tư như khuyến khích đầu tư trực tiếp từ các cá nhân, tổ
chức vào sản xuất kinh doanh tại các làng nghề TCMN,… Như vậy, quản lý nhà nước
về làng nghề góp phần định hướng và điều tiết cho các làng nghề TCMN phát triển.
14
- Tạo lập môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi nhằm nâng cao sức cạnh
tranh của các làng nghề TCMN
Bên cạnh các công cụ là các chính sách hỗ trợ cho phát triển làng nghề TCMN,
quản lý nhà nước đối với làng nghề TCMN tạo môi trường SXKD thuận lợi thông
qua các chính sách tài trợ trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp trong các làng nghề TCMN như trợ giá xuất khẩu, hỗ trợ đào tạo cán