Địa lí địa phương tỉnh Lâm Đồng - Pdf 54

Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m so với
mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km
2
; địa hình tương đối phức tạp chủ yếu, là bình
sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu
tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật ... và những cảnh quan kỳ thú cho
Lâm Đồng.
- Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận
- Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai
- Phía nam – đông nam gáp tỉnh Bình Thuận
- Phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc
Lâm Đồng nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn; nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao và là thị trường có nhiều tiềm năng lớn. Toàn tỉnh có thể chia thành 3 vùng với 5 thế mạnh:
Phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia
súc.

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH LÂM ĐỒNG
Toàn tỉnh hiện có 12 đơn vị hành chính, bao gồm thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và 10
huyện:
- Lạc Dương
- Đơn Dương
- Đức Trọng
- Lâm Hà
- Di Linh
- Bảo Lâm
- Đạ Huoai
- Đạ Tẻh
- Cát Tiên
- Đam Rông
với 145 xã, phường, thị trấn; trong đó có 47 xã vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm nằm

kiềm có thể sử dụng trong kỹ nghệ làm khuôn đúc, chất tẩy rửa trong công nghiệp dầu mỡ, công nghiệp thực phẩm, chất
phụ gia trong sản xuất phân bón tổng hợp, sản xuất dung dịch bùn khoan dầu khí và khoan cọc nhồi theo tiêu chuẩn của
Mỹ và châu Âu.
Than nâu và diatomite được phát hiện tại nhiều điểm, nhưng mỏ Đại Lào (Bảo Lộc) là có khả năng khai thác công
nghiệp với trữ lượng 8,5 triệu m
3
, có thể sử dụng làm chất đốt, chất cách nhiệt, phụ gia trong sản xuất phân bón hoặc phụ
gia sản xuất xi măng.
Liên đoàn địa chất 6 đã tổng hợp được 165 điểm khoáng sản, trong đó có 23 mỏ lớn, 3 mỏ vừa, 48 mỏ nhỏ và 91 điểm
quặng. Các mỏ và điểm quặng được chia ra thành 7 nhóm

 Than: than nâu, than bùn
 Kim loại: sắt, wolfram, chì – kẽm, antimoan, nhôm, thiếc, vàng

Phi kim loại: cao lanh, felspat, bentonit, diatomit
 Vật liệu xây dựng: cát, đá, sét
 Đá quý và bán quý: saphyr, topa và thạch anh tinh thể, opan, tectit
 Dị thường phóng xạ
 Nước khoáng
Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm 8 nhóm đất và
45 đơn vị đất:
Nhóm đất phù sa (fluvisols)
Nhóm đất glây (gleysols)
Nhóm đất mới biến đổi (cambisols)
Nhóm đất đen (luvisols)
Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols)
Nhóm đất xám (acrisols)
Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols)
Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols)
Đất có độ dốc dưới 25

suối khá dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng.
Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6km/km
2
với độ
dốc đáy nhỏ hơn 1%. Phần lớn sông suối chảy từ hướng đông bắc xuống tây nam.
Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá
nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn.
Các sông lớn của tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai.
Ba sông chính ở Lâm Đồng là:
 Sông Đa Dâng (Đạ Đờng)
 Sông La Ngà
 Sông Đa Nhim
Hệ thống cung cấp nước
Hệ thống cấp nước đã hoàn thiện tương đối tốt, hiện có: nhà máy cấp nước Đà Lạt, công suất
35.000 m
3
/ngày-đêm hệ thống cấp nước thị xã Bảo Lộc, công suất 10.000 m
3
/ngày-đêm; hệ thống
cấp nước huyện Đức Trọng, công suất 2.500 m
3
/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Di Linh,
công suất 3.500 m
3
/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6.000 m
3
/ngày-đêm.
Đồng thời với việc cấp nước, hệ thống xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang được hoàn
thiện.
DA TOC DAN CU

định:
Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi năm thời kỳ 2001-2005, tăng 7,53%. Đây là tốc độ
tăng khá cao vì sản xuất nông nghiệp có đối tượng là cây trồng, vật nuôi, phụ thuộc vào đất đai
nên việc mở rộng quy mô diện tích là có giới hạn, mặt khác lại phụ thuộc lớn vào yếu tố thời tiết,
khí hậu, giá cả, thị trường nên khó có bước phát triển đột biến được. Trên cơ sở phát huy thế
mạnh cây công nghiệp dài ngày, đã hình thành những vùng chuyên canh tương đối tập trung về
cây công nghiệp như cà phê, chè, vùng rau, hoa với quy mô lớn và chất lượng ngày càng được
nâng lên làm cơ sở cho phát triển công nghiệp chế biến. Ngành nông nghiệp có mức tăng giá trị
tăng thêm hàng năm 7,88%, đóng góp từ 60-69% GDP (giá SS 1994), là ngành thu hút lực lượng
lao động khá lớn khoảng 63%. Sản xuất nông nghiệp trong những năm qua đã chú trọng ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có năng
suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của từng vùng. Hiệu quả sản xuất
trên đơn vị diện tích không ngừng tăng lên, qua kết qủa sơ kết chương trình 50 triệu đồng/ha/năm
do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phát động, tính đến nay toàn tỉnh có trên 8.000 ha canh
tác đạt doanh thu trên 50 triệu đồng/ha/năm. Thông qua đầu tư thâm canh, ứng dụng kỹ thuật
công nghệ sinh học vào sản xuất đã nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích: vùng
chuyên canh rau-hoa-dâu tây ở Đà Lạt-Lạc Dương có trên 100 mô hình trồng rau, hoa, dâu tây đạt
doanh thu từ 50 triệu đồng trở lên, trong đó có trên 50% đạt doanh thu từ 150-480 triệu
đồng/ha/năm; vùng chuyên canh chè chất lượng cao, tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hiện có 500 ha chè đạt doanh thu từ 150-180 triệu đồng/ha, cá biệt có doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài đạt 2-3 tỷ đồng/ha/năm. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng chuyên môn
hoá cây trồng, vật nuôi gắn với phát triển tổng hợp các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng về đất đai, vốn, lao động và kinh nghiệm sản xuất. Đã xuất
hiện nhiều mô hình sản xuất mới và có hiệu quả kinh tế-xã hội trong nông nghiệp như kinh tế
trang trại, kinh tế vườn rừng, vườn đồi, nông - lâm kết hợp... với nhiều thành phần tham gia, kể cả
đồng bào dân tộc. Tổng số trang trại trên địa bàn tỉnh tăng mạnh trong thời kỳ 2001-2005, từ 716
trang trại năm 2000 tăng lên 1.978 trang trại năm 2005, gấp 2,76 lần so năm 2000. Đến năm 2005,
các trang trại đã sử dụng tổng số vốn 455.128 triệu đồng và 8.389 ha đất để sản xuất kinh doanh
tạo ra 392.339 triệu đồng giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ. Thu nhập bình quân một trang trại
trong năm 2005 đạt trên 148 tỷ đồng, gấp 3,47 lần so năm 2000, bình quân hàng năm thời kỳ


2001 2002 2003 2004 2005
Tổng diện tích ( ha)
248.620 254.366 259.019 262.243 268.388
1 . Cây hàng năm
81.557 88.681 91.723 93.884 97.134
Trong đó:

- Cây lương thực
50.166 54.572 56.392 56.421 56.923
- Cây thực phẩm
25.159 27.611 29.535 30.778 32.719
2 . Cây lâu năm
167.063 165.685 167.296 168.359 171.254
Cùng với việc ổn định, tăng diện tích cây trồng, sản lượng các loại cây trồng chủ yếu trong thời
kỳ 2001-2005, cũng tăng lên cả về số lượng chủng loại cũng như chất lượng sản phẩm. Cụ thể
sản lượng một số cây trồng chủ yếu như sau :
Sản lượng lương thực: Do tác động của khoa học kỹ thuật như giống cây trồng, đầu tư thâm
canh, điều hoà nước tưới tiêu, phòng trừ dịch bệnh nên năng suất cây lương thực nhất là cây lúa
tăng lên rõ rệt. Năng suất lúa toàn tỉnh từ 31,07 tạ/ha năm 2000, tăng lên 39,21 tạ/ha năm 2004
và 38,37 tạ/ha ước năm 2005. Sản lượng lương thực có hạt tiếp tục tăng một cách ổn định chủ
yếu do tăng năng suất cây trồng và đưa các giống mới vào sản xuất đại trà; tỷ lệ giống lúa mới và
lúa cao sản hàng năm chiếm trên 50% diện tích và giống ngô lai chiếm khoảng 90% diện tích gieo
trồng. Sản lượng lương thực có hạt năm 2005 đạt 215.877 tấn, tăng 38,33% so năm 2000, bình
quân mỗi năm thời kỳ 2001-2005 tăng 6,7%; trong đó sản lượng lúa tăng từ 102.055 tấn năm
2000 lên 129.721 tấn, tăng bình quân 4,9%/năm và sản lượng ngô từ 54.005 tấn năm 2000 tăng
lên 86.156 tấn năm 2005, tăng bình quân 9,8% hàng năm. Sản lượng lương thực tăng, đã khắc
phục được tình trạng thiếu ăn trong dân cư, khắc phục dần tình trạng đói giáp hạt, ổn định đời
sống xã hội .
Sản lượng các loại nông sản hàng hóa tiếp tục tăng, nhất là các loại cây có giá trị kinh tế như

thuận với Công ty sữa Việt Nam để ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm sữa tươi cho nông dân với
giá từ 2.500 đồng/lít. Đến năm 2005, đàn bò sữa có 3.260 con, tăng 57% so năm 2004.
Đàn heo phát triển ổn định, tăng đều qua các năm thời kỳ 2001-2005 do tình hình giá cả heo hơi
trong các năm qua tương đối cao, trong lúc nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm từ gia cầm giảm do
dịch cúm gia cầm bùng phát nên nông dân chú trọng đầu tư chăn nuôi heo; mặt khác các mô hình
kinh tế trang trại ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy sản xuất trong đó có chăn nuôi. Đàn heo
phát triển theo hướng heo siêu nạc, giống heo tốt có tỷ lệ nạc cao chiếm từ 30-40% trên tổng đàn.
Tổng đàn heo năm 2005 ước đạt 339.855 con tăng 70,77% với 140.837 con so năm 2000, tốc độ
tăng bình quân trong 5 năm đạt 11,3%.
Đàn gia súc, gia cầm trong 3 năm đầu thời kỳ 2001-2005 phát triển mạnh từ 1.569 ngàn con
tăng lên 2.949 ngàn con năm 2003. Song trong 2 năm 2004, 2005 do xảy ra dịch cúm gia cầm
H
5
N
1
ở nhiều nước trên thế giới và nhiều tỉnh trong nước; tuy Lâm Đồng là địa phương chỉ xảy ra
dịch cúm gia cầm cục bộ ở một số địa bàn nhưng do tâm lý tiêu dùng nên các sản phẩm từ gia
cầm tiêu thụ chậm, thậm chí có thời điểm không tiêu thụ được ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất
và đời sống các hộ chăn nuôi gia cầm, vì vậy tổng đàn gia cầm giảm mạnh so năm 2003. Đến năm
2005, đàn gia cầm còn 1.819,8 ngàn con, giảm 1.129,2 ngàn con so năm 2003, giảm 110,6 ngàn
con so năm 2004.
* Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp:
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh về định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi giai
đoạn 2002-2005. Trong 4 năm qua cơ cấu cây trồng từng bước được chuyển đổi, trên cơ sở khai
thác sử dụng hợp lý quỹ đất hiện có, thông qua phân tích đặc điểm đất đai, khí hậu, thời tiết vùng
sinh thái để xác định cây trồng vật nuôi thích hợp cho từng vùng, lập quy hoạch phát triển tập
trung, chuyên môn hóa sản xuất. Theo hướng đó, trong thời gian qua, quy hoạch sản xuất nông
nghiệp được hình thành tương đối đồng bộ, phù hợp với đặc điểm tự nhiên từng địa phương trong
tỉnh. Đến nay tỉnh đã xác định nhóm cây trồng chủ yếu và hình thành các vùng cây công nghiệp,
cây lương thực và cây thực phẩm. Đối với cây hàng năm, điều chỉnh chuyển dần một số diện tích

năm 2001, giảm xuống từ 65,14% năm 2002, 64,59% năm 2003, 64,2% năm 2004 xuống còn
63,81% năm 2005; tỷ trọng cây hàng năm tăng từ 32,8% năm 2001, lên 36,19% năm 2005. Trong
cây hàng năm, cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng diện tích cây thực phẩm và
giảm tỷ trọng diện tích cây lương thực.
Đi đôi với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đồng thời đã từng bước chuyển đổi cơ cấu mùa vụ. Một
số diện tích gieo trồng cây lương thực, thực phẩm ở các vùng trũng, vùng thường bị ngập úng do
ảnh hưởng của thiên tai đã chuyển đổi gieo trồng các loại cây trồng khác. Cơ cấu mùa vụ gieo
trồng cây lương thực nói chung và cây lúa nói riêng cũng được thay đổi phù hợp hơn với điều kiện
tự nhiên và thời tiết từng vùng, từng địa phương. Sự thay đổi mùa vụ đã tạo điều kiện mở rộng
diện tích gieo trồng, hạn chế sâu bệnh và phòng chống thiên tai, là một trong những nhân tố góp
phần làm tăng năng suất cây trồng.
Do tác động của cơ sở vật chất kỹ thuật, chọn bước đi thích hợp đã tạo cơ sở vững chắc cho
sản xuất nông nghiệp giữ ổn định và phát triển mạnh. Cơ cấu sản xuất cũng được bố trí, điều
chỉnh dần phù hợp với điều kiện đất đai, tập quán canh tác từng vùng và phát triển của trình độ
sản xuất, khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên nông nghiệp, cụ thể cơ cấu giữa trồng trọt và chăn
nuôi, giữa lương thực và nông sản hàng hoá, làm cho sản phẩm nông nghiệp ngày càng phong
phú, đa dạng, đạt giá trị cao. Trong 5 năm 2001-2005, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự
chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng dần tỷ trọng ngành chăn
nuôi và dịch vụ. Tỷ trọng ngành trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp từ 83,48% năm 2001
giảm xuống còn 80,19% năm 2005, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên từ 14,63% năm 2000 đến
17,53% năm 2005 và hoạt động dịch vụ nông nghiệp từ 1,89% năm 2001 tăng lên 2,28% năm
2005.
Bảng số liệu về cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp :

2001 2002 2003 2004 2005
Cơ cấu nội bộ ngành NN ( %)

Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1 . Trồng trọt 83,48 81,85 83,02 80,79 80,19
2 . Chăn nuôi 14,63 16,09 14,99 17,14 17,53

Rừng Lâm Đồng phân bố ở thượng nguồn các sông, suối lớn của khu vực nên có vai trò quan
trọng trong phòng hộ, du lịch nghiên cứu, tham quan... Diện tích đất có khả năng trồng rừng
nguyên liệu khoảng 50.000-70.000 ha, thuận lợi cho ngành công nghiệp chế biến bột giấy, giấy.
Đặc biệt trên địa bàn tỉnh có phần đất thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc và rừng quốc gia Cát
Tiên, ở đây có trên 544 loại thực vật, 44 loài thú, gần 200 loài chim và có sự xuất hiện những động
vật quý hiếm như loài Tê giác Zava.
Tình hình sản xuất lâm nghiệp qua 5 năm (2001-2005):
Sản xuất lâm nghiệp qua 5 năm đã từng bước chuyển dịch theo hướng giảm khai thác; tăng
cường công tác lâm sinh, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng
cho nhân dân, gắn với việc đưa đồng bào dân tộc tham gia vào làm nghề rừng để tạo cho họ ổn
định cuộc sống, gắn bó thật sự với rừng tiến tới không còn nạn phá rừng làm nương, rẫy nhằm
xây dựng vốn rừng, duy trì và bảo vệ tài nguyên .
Hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 5 năm 2001-2005 đã có nhiều đổi mới về cơ chế
tổ chức quản lý nhằm mục đích giữ rừng và phát triển vốn rừng, chuyển từ hoạt động lâm nghiệp
truyền thống sang hoạt động lâm nghiệp xã hội. Sắp xếp lại các lâm trường và các ban quản lý
rừng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các lâm trường, làm tốt vai trò nòng cốt
trong sản xuất lâm nghiệp, thực hiện bảo vệ và phát triển rừng, tạo thêm việc làm góp phần xóa
đói giảm nghèo tại các địa phương trong tỉnh. Phát triển lâm nghiệp đã gắn với tạo việc làm cho
hàng chục ngàn hộ nông dân, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân ở vùng xa, vùng sâu,
vùng đồng bào dân tộc. Bằng các nguồn vốn và các hình thức đầu tư khác nhau như: vốn dự án
661, vốn đầu tư từ ngân sách tỉnh và vốn của các thành phần kinh tế đã đầu tư trồng rừng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status