BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI PHƯỜNG NGHĨA ĐÔ,
CẦU GIẤY, HÀ NỘI
Ngành đào tạo: Công tác xã hội
Mã số ngành: 7760101
Họ và tên sinh viên: Đặng Thị Nhâm
Người hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp:
TS. Nguyễn Thị Hương
HÀ NỘI, NĂM 2018
2
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Hương.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận
văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Sinh viên thực hiện luận văn
4
4
MỤC LỤC
4
5
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nội dung đầy đủ
1
2
3
4
CTXH
NKT
NVXH
khuyết tật (NKT).
Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc (2016) ước tính có khoảng 10-15%
dân số thế giới ( tức là khoảng 700 triệu cho đến 1 tỉ người) là NKT và 80%
trong số họ đang sống ở các nước đang phát triển. NKT chiếm 20% trong số
người nghèo nhất trên thế giới và rất khó khăn trong tiếp cận giáo dục, việc
làm, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ trợ giúp xã hội khác.
Tại Việt Nam, ước tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2017 NKT
Việt Nam chiếm khoảng 8% dân số tương đương 8,6 triệu người. Tỉ lệ NKT
trên dân số dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng lên do những nguyên nhân xuất phát
từ ảnh hưởng hệ quả của quá trình phát triển xã hội, tai nạn, ô nhiễm môi
trường, do bom mìn còn thất lạc sau chiến tranh…NKT phải đối mặt với rất
nhiều những khó khăn khi hòa nhập đời sống xã hội, một trong số đó là vấn
đề việc làm.
Nhằm hỗ trợ NKT phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu của
bản thân, tạo điều kiện để vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động
kinh tế xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội, Thủ tướng chính phủ
đã phê duyệt đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020. Theo đó mục tiêu đề
ra đến năm 2020, cả nước ta có 300.000 NKT trong độ tuổi lao động còn khả
năng lao động được học nghề và tạo việc làm phù hợp.
“Được lao động, được có việc làm” không chỉ là một trong những nhu
cầu cơ bản mà còn là quyền của mỗi con người. Việc làm cho NKT ngoài đem
lại thu nhập, tự chủ về kinh tế mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
NKT. Họ được tự khẳng định mình, hòa nhập cộng đồng, lạc quan, xóa tự ti
và mặc cảm.
Theo báo cáo tổng kết năm 2017 của hội NKT quận Cầu Giấy, chi hội
NKT phường Nghĩa Đô là chi hội có số lượng hội viên cao nhất quận Cầu
7
8
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là: CTXH trong hỗ trợ việc làm
cho NKT tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
5. Khách thể nghiên cứu
Điều tra bằng bảng hỏi 48 NKT tại phường Nghĩa Đô.
8
9
9
Phỏng vấn sâu 2 thành viên trong ban lãnh đạo chi hội NKT phường
Nghĩa Đô và 5 người thân của NKT.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu về thực trạng CTXH trong hỗ trợ việc làm cho NKT.
Không gian: phường Nghĩa Đô, quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Thời gian: từ ngày 09/04/2018-30/04/2018.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tác giả chủ yếu sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
7.1.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản là phương pháp sử dụng kĩ
thuật chuyên môn nhằm thu thập và rút ra từ những nguồn tài liệu các thông
tin cần thiết cho việc nghiên cứu thực trạng CTXH trong hỗ trợ việc làm cho
NKT tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Các tài liệu được tập trung thu thập bao gồm: các văn bản, chính sách
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi trong phạm vi 48
NKT thuộc chi hội NKT phường Nghĩa Đô để thu thập thông tin phục vụ mục
đích nghiên cứu của đề tài.
7.3.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập những thông tin
mang tính chiều sâu, những vấn đề chưa được đề cập, cần được làm rõ hơn
thông qua chia sẻ của những người được phỏng vấn. Thông qua quá trình
phỏng vấn, người nghiên cứu cũng có khả năng kiểm chứng mức độ tin cậy
của thông tin thu được và có thể dẫn dắt người được phỏng vấn theo định
hướng của nhà nghiên cứu, nhằm thu được những thông tin cần thiết cho đề
tài nghiên cứu.
Trong đề tài này, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 2 thành viên trong
ban lãnh đạo chi hội NKT phường Nghĩa Đô, 5 người thân của NKT để nắm
bắt được tình hình các đối tượng và tìm hiểu thực trạng hỗ trợ việc làm cho
NKT trên địa bàn phường, những khó khăn trở ngại trong quá trình thực hiện.
7.4.
Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp thu thập thông tin xã hội sơ cấp về đối tượng
nghiên cứu bằng cách quan sát lại các hành vi, cử chỉ và ghi chép lại những
nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu và có ý nghĩa với mục đích
nghiên cứu.
Trong bài khóa luận, phương pháp quan sát được sử dụng để quan sát
trực quan từ những hoạt động, hành vi của NKT, thực tế cơ sở vật chất và các
tương tác của NKT với môi trường xung quanh để có những thông tin bổ sung
thêm luận chứng cho kết quả nghiên cứu.
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho
người khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người
khuyết tật tại địa bàn phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
-
Phần kết luận, giải pháp và khuyến nghị
11
12
12
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ
TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm người khuyết tật
1.1.1.1 Khái niệm
Theo Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 định nghĩa
“Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất,
tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác
nhau có thể cản trở đến sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội
trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” .
Theo Điều 2 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 thì dạng
khuyết tật được hiểu là những biểu hiện thực thể bên ngoài của NKT và là căn
cứ để xếp loại các nhóm khuyết tật. Theo quy định dạng mức độ khuyết tật
hiện nay gồm 6 dạng như sau:
Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển;
Khuyết tật nghe nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói
hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế
trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói;
Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận
ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường
bình thường;
Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm
xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động
bất thường.
Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nhận thức, tư
duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật,
hiện tượng, giải quyết sự việc.
Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể
khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không
thuộc các dạng khuyết tật trên.
Khái niệm mức độ khuyết tật
Mức độ khuyết tật được hiểu là các tiêu chí hay căn cứ để xác định và
xếp loại mức độ khuyết tật của NKT theo mức độ khó khăn trong lao động,
học tập và sinh hoạt của NKT. Theo quy định hiện nay (Khoản 2 Điều 3, Luật
Người khuyết tật), thì mức độ khuyết tật được chia làm 3 mức độ như sau:
Khuyết tật đặc biệt nặng: mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát
hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá
nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà
cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
cộng, giáo dục, việc làm… và cuối cùng họ bị cô lập hoặc bị loại trừ khỏi
những sinh hoạt cộng đồng. Cũng từ chỗ khó tiếp cận các dịch vụ công cộng,
tiếp cận giáo dục… NKT bị đẩy vào tình trạng có trình độ học vấn thấp hơn
và cơ hội việc làm cũng như thu nhập cũng thấp hơn. Vòng luẩn quẩn còn
được tiếp tục khi những khó khăn về vật chất lại dẫn đến những thiệt thòi về
tinh thần: NKT có thể bị coi là gánh nặng của gia đình, xã hội, bị coi thường,
bị ngược đãi hoặc bỏ mặc… Như vậy, tình trạng khuyết tật làm tăng nguy cơ
nghèo đói và sự nghèo đói lại làm tình trạng khuyết tật bị trầm trọng thêm.
Như vậy, chỉ khi nắm bắt được tâm lý NKT, NVXH mới tìm ra được
những cách thức can thiệp phù hợp vừa để tránh làm tổn thương NKT, vừa
giúp NKT hòa nhập cộng đồng, ổn định tâm lý, xây dựng cuộc sống tốt đẹp
hơn, góp phần củng cố nền an sinh nước nhà
14
15
15
1.1.1.4 Nhu cầu của người khuyết tật
Mỗi cá nhân NKT là một bức tranh hết sức đa dạng, phong phú về nhân
cách, có khả năng, nhu cầu và sở thích riêng. Tuy nhiên, điểm chung của họ là
đều có nhu cầu được tôn trọng, được đối xử bình đẳng, hòa nhập cộng đồng.
Và một trong những biểu hiện cụ thể là họ mong muốn có được việc làm phù
hợp để tự nuôi sống bản thân, không phụ thuộc vào ai.
Chỉ khi họ có thể tự tạo ra thu nhập, bản thân họ mới cảm thấy tự tin vì
mình không phải là người vô dụng và mình có khả năng nuôi sống bản thân
và những người xung quanh. Điều đó sẽ là động lực để NKT vươn lên trong
cuộc sống. Tuy nhiên không phải NKT nào cũng biết cách để tìm kiếm việc
làm, do đó họ rất cần được hỗ trợ. Có nhu cầu được tư vấn, học tập dạy nghề,
biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân”.
Tại Đại hội liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế ở Canada năm 2004,
CTXH được định nghĩa với ý nghĩa tăng cường năng lực và phát triển, giải
phóng con người: “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay
đổi (phát triển) của xã hội. Bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn
đề xã hội ( vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng
cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng
đồng, CTXH giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn, đem lại
cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”.
Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004) : Định
nghĩa cổ điển công tác xã hội nhằm giúp cá nhân và cộng đồng Tự Giúp. Đó
không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh
của hệ thống thân chủ cá nhân nhóm và cộng đồng để họ tự giải quyết vấn đề
của mình.
Tóm lại, “Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao
năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc
đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá
nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp
phần đảm bảo an sinh xã hội”[4,tr.28].
1.1.3 Khái niệm hỗ trợ việc làm
Khái niệm hỗ trợ:
Theo từ điển Tiếng Việt thì hỗ trợ là: Giúp đỡ nhau, giúp thêm vào: hỗ
trợ bạn bè, hỗ trợ cho đồng đội kịp thời.
Hỗ trợ về khía cạnh xã hội là sự tương trợ giữa người với người, những
người biết hỗ trợ cho những người chưa biết. Kẻ mạnh có thể hỗ trợ cho
những kẻ yếu thế để tạo ra mỗi quan hệ tốt đẹp cùng phát triển, tiến tới xã hội
văn minh hơn.
Hỗ trợ về khía cạnh kinh tế : Người có tiền sẽ hỗ trợ cho những người
không có tiền, người có tiềm lực kinh tế hỗ trợ cho những người có trí tuệ để
Từ 2 khái niệm trên tác giả đưa ra khái niệm về hỗ trợ việc làm là:
“Hỗ trợ việc làm là các hoạt động của Nhà nước, các tổ chức xã hội,
nhằm tạo ra các cơ hội, các hướng đi mới, giúp cho người lao động, mất việc
làm có được việc làm, đồng thời giúp cho người lao động có thể định hướng
được nghề nghiệp, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp điều kiện, năng lực của bản
thân từ đó ổn định đời sống hạn chế tình trạng thiếu việc làm và thất
nghiệp.”
1.1.4 Khái niệm công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
Tại Việt Nam, bên cạnh những hình thức trợ giúp NKT như can thiệp
sớm, giáo dục, phục hồi chức năng thì công tác dạy nghề và giải quyết việc
làm cho NKT cũng là một hình thức được đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện
thuận lợi từ phát triển hạ tầng cơ sở đến chính sách trợ giúp NKT tham gia
học nghề cũng như giáo viên dạy nghề. Luật Dạy nghề năm 2012 đã dành
toàn bộ chương VII quy định dạy nghề cho người tàn tật, người khuyết tật với
mục tiêu giúp đối tượng có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao
17
18
18
động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm, ổn định đời sống.
Với hỗ trợ việc làm : Để tăng khả năng tiếp cận chính sách của NKT
và thực thi chính sách tạo việc làm hiệu quả , bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà
nước, sự nỗ lực tự thân của NKT thì nhân viên xã hội bằng các phương pháp
của CTXH có thể thực hiện chức năng kết nối nguồn lực, vận động chính
sách, hỗ trợ pháp lý cho NKT. Nhân viên CTXH có thể kết nối với các đơn vị
có nhu cầu để sử dụng NKT vào làm việc thông qua các chương trình hợp tác,
dự án với các tổ chức trong và ngoài nước.
19
-
19
bất hạnh.
Không tin vào khả năng của bản thân, nghĩ rằng mình là gánh nặng cho gia
đình, người thân.
Biểu hiện qua cảm xúc, tình cảm:
-
Dễ tự ái, hay xúc động
Hay cảm thấy cô đơn, buồn tủi.
Tự ti về chính bản thân mình.
Có những dự đoán bi quan và tiêu cực trong cuộc sống
Biểu hiện qua hành vi:
-
Dễ nổi nóng, cáu giận
Ít nói, không muốn giao tiếp với mọi người, sống khép kín.
Không muốn ra ngoài, không tham gia vào các hoạt động xã hội.
Không phát huy khả năng của bản thân, có thể có những hành động hủy hoại
bản thân.
Có rất nhiều những NKT còn mang gánh nặng tâm lý, chưa thực sự tự
tin và sẵn sàng học nghề hòa nhập cộng đồng thì nhiệm vụ của nhân viên
CTXH sẽ tham vấn tâm lý giúp họ ổn định trong suy nghĩ và mạnh mẽ đưa ra
thường không biết phải làm gì hoặc tìm đến ai khi cần. Và thái độ thương hại
hay tội nghiệp của những người thân quen càng làm cho họ đau khổ hơn. Họ
hết sức cần những hỗ trợ thích hợp để không cảm thấy đơn độc hay bị bỏ rơi
trong tình huống bất ngờ nhưng sẽ gắn bó lâu dài với cuộc sống của họ và cả
gia đình.
Người NVXH phải hiểu được cảm xúc và phản ứng của TC đối với sự
khuyết tật, ảnh hưởng của sự khuyết tật đối với gia đình của NKT, tác động
của sự khuyết tật đến vai trò và mối quan hệ của các thành viên trong gia
đình, và cả những rắc rối cá nhân hay vấn đề xã hội khác để từ đó tham vấn
cho NKT và gia đình, giúp họ lập kế hoạch cá nhân và sử dụng tối đa những
nguồn nội lực và ngoại lực sẵn có trong cộng đồng để có thể giải quyết vấn đề
đang gặp phải.
1.2.2 Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm
Tư vấn là hoạt động thu thập, xử lý thông tin, vận dụng kiến thức chuyên
môn, phát hiện vấn đề từ đó đề xuất những phương án, giải pháp để giải quyết
vấn đề. NVXH tư vấn cho NKT về các chính sách, chương trình dịch vụ của
Nhà nước về hỗ trợ việc làm cho NKT, những thủ tục vay vốn, cung cấp
những thông tin về cơ hội việc làm đồng thời, kết nối họ với các nguồn lực trợ
giúp như các trung tâm dạy nghề, các câu lạc bộ việc làm của NKT,..
Người khuyết tật có những hạn chế nhất định trong các chức năng vận
động, nghe, nhìn....ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề sao cho phù hợp với
bản thân. Rất nhiều NKT còn khả năng lao động và mong muốn có việc làm
nhưng họ chưa biết bắt đầu từ đâu và làm như thế nào, bối rối trong việc lựa
chọn việc làm sao cho phù hợp. Do đó, NVXH cần có những can thiệp giải
quyết vướng mắc trong việc chọn nghề gì phù hợp cho học viên, xác định
hướng tạo việc làm sau đào tạo cho họ như thế nào là tốt. NVXH sẽ có vai trò
tư vấn, khích lệ sự tham gia, tư vấn chọn nghề, hỗ trợ NKT tiếp cận được với
chính sách đào tạo nghề phù hợp với tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh và nhu
cầu nguyện vọng của họ.
20
1.2.3 Hoạt động hỗ trợ tìm kiếm việc làm
Sau khi được giới thiệu vào các trung tâm đào tạo nghề, mặc dù đã được
đào tạo việc làm nhưng rất nhiều NKT vẫn chưa tìm kiếm được việc làm cho
mình. Hoặc có những NKT chưa có trình độ chuyên môn nhưng có mong
muốn có được việc làm, do đó cần thực hiện hoạt động hỗ trợ tìm kiếm việc
làm.
Với hoạt động này, NVXH còn đóng vai trò là người tuyên truyền, vận
động nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất khi nhận lao
động là NKT sẽ được hưởng những ưu đãi gì trong hoạt động sản xuất kinh
doanh (hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện môi trường làm việc phù hợp cho
21
22
22
NKT; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; vay vốn ưu đãi theo dự án phát triển
sản xuất kinh doanh; miễn hoặc giảm tiền thuê đất mặt bằng làm sản xuất
kinh doanh…) để nâng cao cơ hội việc làm cho NKT. Tuy nhiên, để NKT trở
thành người lao động bình thường đòi hỏi rất nhiều hỗ trợ để có thể đảm bảo
tiếp cận được thị trường lao động và các hoạt động dạy nghề và đào tạo nghề.
NVXH cần phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể hỗ
trợ NKT được tham gia hỗ trợ học nghề miễn phí, dạy nghề gắn với tạo việc
làm phù hợp cho NKT.
Trong những năm qua, Nhà nước cũng đã có nhiều biện pháp xúc tiến
việc làm cho NKT như ban hành và thực thi nhiều chính sách ưu đãi, khuyến
khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh
doanh của NKT, thành lập Quỹ Quốc gia về việc làm, triển khai nhiều chương
trình dự án tạo việc làm cho NKT tại một số địa phương như “Dự án xây
rõ hơn về NKT và bản chất của sự khuyết tật để xã hội có cái nhìn đúng về
NKT và sự thiếu công bằng cơ hội mà họ luôn gặp phải, từ đó tác động đến
những người liên quan đến việc phát triển các chính sách cũng như những tổ
chức có những chương trình phát triển xã hội để những người này bao gồm sự
tham gia của NKT vào quá trình ra quyết định, cũng như tham gia giám sát và
lượng giá việc thực hiện những quyết định liên quan đến cuộc sống của chính
họ.
Phối hợp, vận động tìm nguồn lực, nguồn tài nguyên hỗ trợ cho NKT,
gia đình NKT. Xây dựng các chương trình kế hoạch hành động giúp đỡ NKT
và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động, kế hoạch đã xây dựng. Đề xuất
ý kiến soạn thảo chính sách về NKT. Làm công tác biện hộ cho NKT khi
NKT không được hưởng những quyền lợi mà đáng ra họ được hưởng.
Tất cả những hoạt động đó đều nhằm hỗ trợ NKT tìm kiếm việc làm, có
thể khẳng định đây là một hoạt động quan trọng và ý nghĩa với NKT, do đó
những NKT có mong muốn tìm được việc làm đều rất quan tâm đến hoạt
động này.
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.3.1. Yếu tố bản thân người khuyết tật
Có nhiều yếu tố từ bản thân NKT cản trở họ tiếp cận việc làm, đầu tiên
phải kể đến là yếu tố thể chất. NKT đa phần đều có sức khỏe không tốt, sự
khuyết tật một hoặc một vài bộ phận trên cơ thể khiến họ gặp khó khăn trong
di chuyển, sinh hoạt hàng ngày, thường xuyên ốm đau, bệnh tật khiến sức
khỏe yếu đi, không làm được những công việc nặng nhọc. Do đó việc tìm
kiếm một công việc phù hợp cũng gặp rất nhiều khó khăn. Có rất nhiều NKT
mong muốn được làm việc, được lao động không chỉ để tạo ra thu nhập mà
hơn hết còn khiến họ vơi bớt đi cảm giác buồn chán, cảm thấy bản thân có
ích. Tuy nhiên, do tình trạng sức khỏe khiến họ “lực bất tòng tâm”.
Tiếp nữa phải kể đến yếu tố về tâm lý NKT. Như đã phân tích ở trên,
NKT đa phần đều mang trong mình sự tự ti, mặc cảm chính điều đó đã khiến
để NKT tham gia các buổi tư vấn, giới thiệu việc làm bằng việc không đưa
đón, hỗ trợ vấn đề đi lại, hay không hợp tác cùng NVXH trong quá trình giúp
đỡ NKT.
Do đó, không chỉ làm việc với đối tượng mà còn phải làm việc với cả
gia đình họ. Một cá nhân không thể tách khỏi hệ thống tổng thể, gia đình có
vai trò vô cùng quan trọng, đó có thể là nguồn lực to lớn trong trợ giúp đối
tượng đồng thời cũng có thể là trở ngại khiến quá trình trợ giúp gặp khó khăn.
Do đó chúng ta hãy làm hết sức để tạo điều kiện cho gia đình hoàn thành vai
trò trong việc bảo đảm rằng những NKT được hưởng đầy đủ các quyền con
người và nhân phẩm, được phát triển đầy đủ với tư cách là những cá nhân
bình thường. Đó là thông điệp mà xã hội ngày nay luôn hướng đến nhằm góp
phần vào sự phát triển an sinh xã hội.
1.3.3 Yếu tố cơ sở vật chất
Đa phần những NKT đều gặp phải khó khăn khi tiếp cận các cơ sở vật
24
25
25
chất. Cuộc sống của họ luôn gặp khó khăn trong các vấn đề như di chuyển,
tiếp cận với các công trình công cộng. Ví dụ như đường đi không bằng phẳng,
gồ ghề, không phải mọi xe buýt đều được trang bị thiết bị nâng xe lăn, việc
chờ đợi thường là quá dài và không thật sự thoải mái. Hơn nữa, vào giờ cao
điểm nhiều NKT bị từ chối lên xe buýt với lý do xe quá chật, không có chỗ
cho xe lăn; Nhiều nhà vệ sinh công cộng không có buồng thiết kế riêng cho
người dùng xe lăn hoặc nếu có thường nằm ở các vị trí cuối và khó tiếp cận,
các thiết kế tại các công trình công cộng, văn phòng làm việc còn chưa thực
sự thân thiện với NKT như vị trí lắp đặt công tắc đèn, bậc thềm lên xuống,…