Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục tiểu học và THCS trên địa bàn thành phố hải phòng - Pdf 55

Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề giáo dục là vấn đề của mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc và cũng là của
mọi nhà, mọi người. Không chỉ là chiến lược “Quốc sách" mà còn là chuyện thường
ngày của từng gia đình.
Tuy thế việc nhận thức và làm công tác giáo dục không ph ải qu ốc gia nào c ũng
giống nhau. Nhưng tất cả cùng hướng về một điều bất biến đó là nhận thức thế giới để
cải tạo nó nhằm phục vụ cuộc sống. Các bậc vĩ nhân trong hoạt động và lãnh đạo cách
mạng của mình đã xác định vai trò vị trí giáo dục là nhân t ố thi ết y ếu m ở đường cho
sự nhận thức và cải tạo thế giới đồng thời cũng là vấn đề có ý nghĩa sống còn c ủa
cuộc cách mạng. Các Mác cho rằng "Chỉ có cái chưa biết, chứ không có cái không
biết". Còn V.I. Lê-Nin thì: "Học, học nữa, học mãi". Ðây là m ột m ệnh đề có tính
chiến lược thể hiện tư tưởng quan điểm, tầm quan trọng của giáo dục đối v ới cách
mạng. Chỉ có học mới có thể giải quyết được mọi chuyện cấp bách và bảo vệ vững
chắc thành quả cách mạng một cách tốt nhất. Ở Việt Nam ngay sau khi Cách m ạng
tháng Tám thành công Bác Hồ đã coi "D ốt" là m ột trong ba th ứ gi ặc c ực k ỳ nguy
hiểm của dân tộc cần phải tiêu trừ ngay. Dốt là một thứ giặc vô hình c ản tr ở cách
mạng hết sức tai hại. Bởi vì "Một dân tộc dốt là một dân t ộc y ếu", "d ốt thì d ại, d ại thì
hèn". Theo Bác: "một chế độ mới ra đời, điều cần thiết đầu tiên là nhanh chóng xóa
bỏ nền giáo dục nô lệ, Thực dân Pháp muốn làm cho dân ta ngu để trị"
Người đã xác định vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo là bước đầu tiên của sự
sống còn cho một quốc gia. Ngay sau khi hơn một tháng đọc "Tuyên ngôn Ðộc lập"
Người đã nói: "Nay chúng ta giành quyền độc lập. Một trong những công việc phải
thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí" vì "N ước nhà c ần ph ải ki ến thi ết.
Kiến thiết cần phải có nhân tài". Bác nhấn mạnh: "Bây giờ xây dựng kinh tế, không
có cán bộ không làm được. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì
đến kinh tế, văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu".


THPT và chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi
thường xuyên NSNN cho giáo dục tiểu học và THCS trên địa bàn thành phố Hải
Phòng” để nghiên cứu và viết chuyên đề của mình
Kết cấu của đề tài gồm có 03 chương:
Chương 1: Sự nghiệp giáo dục và những vấn đề cơ bản về chi thường xuyên
ngân sách cho sự nghiệp giáo dục
Chương 2: Thực trạng chi và quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục
tiểu học và THCS trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên

SV: Vũ Thị Khánh Hà

2

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi thường xuyên
NSNN cho giáo dục Tiểu học và THCS tại thành phố Vĩnh Yên trong thời gian tới.
Do hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế, nên bài luận văn không thể tránh
được sai sót, vì vậy em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của toàn các thầy cô và
các bạn.
Cuối cùng em xin cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo, Thạc sĩ Ngô
Minh Hoàng và các thầy cô khác trong khoa Tài Chính Công, các cô chú trong phòng
Tài Chính – Kế Hoạch thành phố Vĩnh Yên đã giúp đỡ tận tình giúp em hoàn thành
bài chuyên đề này.


ngành giáo dục được phát triển theo hướng xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư, đa dạng
hóa các hình thức giáo dục đào taọ, dân chủ hóa công tác quản lý trường học và hiện
đại hóa nội dung, phương pháp, trang thiết bị dạy học. Đến nay, ngành giáo dục đã
xây dựng được một hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, hoàn chỉnh bao gồm đủ
các cấp học, trình độ đào tạo, các loại hình nhà trường và phương thức giáo dục.
Theo luật giáo dục năm 2005 thì hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

SV: Vũ Thị Khánh Hà

4

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

1.

Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo .

2.

giáo dục phổ thông có tiểu học , trung học cơ sở , trung học phổ

3.

Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.


phải tham gia kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học của bộ giáo dục và đào tạo.
Học sinh muốn được theo học tại các trường trung học phổ thông công lập phải
dự một kỳ thi Tuyển sinh. Các kỳ thi này được tổ chức hàng năm, do Sở Giáo
dục và Đào tạo các địa phương chủ trì.

SV: Vũ Thị Khánh Hà

5

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

- Giáo dục chuyên biệt:


Trung học phổ thông chuyên, năng khiếu: Từ năm 1966, hệ thống

trung học phổ thông chuyên được lập ra, bắt đầu với những lớp chuyên Toán tại
các trường đại học lớn về khoa học cơ bản, sau đó các trường chuyên được thiết
lập rộng rãi tại tất cả các thành phố thành. Để được vào học tại các trường
chuyên, học sinh tốt nghiệp cấp II phải thoả mãn các điều kiện về học lực, hạnh
kiểm ở cấp II và đặc biệt là phải vượt qua các kỳ thi tuyển chọn đầu vào tương
đối khốc liệt của các trường này.


Trường phổ thông dân tộc nội trú: Đây là các trường nội trú dặc


SV: Vũ Thị Khánh Hà

6

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

vào cao đẳng thì đăng ký vào học cao đẳng. Chương trình cao đẳng thông
thường kéo dài 3 năm. Tuy nhiên, một số trường cao đẳng có thể kéo dài đến
3,5 năm hoặc 4 năm để phù hợp với chương trình học.


Đại học: Học sinh tốt nghiệp cấp ba muốn vào các trường đại học

phải tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học. Hệ thống đại học của Việt Nam bao
gồm 4 - 6 năm. 2 năm đầu là chương trình đại học đại cương, 2 năm sau là
chương trình chuyên ngành. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên được cấp bằng đại
học với các chức danh như: cử nhân, kỹ sư, kiến trúc sư, bác sĩ...
- Giáo dục sau đại học:


Cao học: các cá nhân sau khi tốt nghiệp đại học, có nhu cầu học

cao học, vượt qua được kỳ thi tuyển sinh cao học hằng năm sẽ được tham dự
các khoá đào tạo cao học. Thời gian đào tạo thường là 3 năm, có thể dài hơn

1.1.2. vai trò của giáo dục đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội
Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có vai trò rất quan trọng trong đời
sống xã hội , sản phẩm của giáo dục là tạo ra những con người có kiến thức, năng
lực , hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng giai đoạn cụ
thể . Phát triển giáo dục là một trong những nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững.
Ngày nay giáo dục đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã
hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ con người được giáo dục tốt
và biết tự giáo dục thường xuyên mới có khả năng giải quyết một cách sáng tạo và có
hiệu quả những vấn đề do sự phát triển của xã hội đặt ra. Con người được giáo dục và
biết tự giáo dục được coi là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển bền vững của xã
hội. Chính vì vậy, giáo dục là một bộ phận hữu cơ quan trọng nhất trong chiến lược ,
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, trong đó mục tiêu giáo dục phải được coi là một
trong những mục tiêu quan trọng nhất của sự phát triển.
Nhìn chung, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã và mang lại những lợi ích trên
nhiều khía cạnh, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, cụ thể
như:
Giáo dục đào tạo có tác dụng tích cực trong việc giúp cho người lao động có
năng lực tự giải quyết công ăn việc làm. Khả năng giải quyết việc làm phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, nhưng trí tuệ, hiểu biết có vai trò quan trọng nhất hình thành năng lực tự
giải quyết việc làm của người lao động. Thông thường, những người được đào tạo tốt,
có trình độ học vấn, có hiểu biết khoa học, kỹ thuật, kinh tế, có trình độ chuyên môn

SV: Vũ Thị Khánh Hà

8

Lớp CQ44/01.02

có vai trò cung cấp nguồn tài chính vừa có vai trò điều chỉnh, định hướng phát triển
đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo. Vai trò của chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục
được thể hiện qua các khía cạnh:
- NSNN là nguồn chủ yếu cung cấp nguồn tài chính để duy trì, định hướng sự
phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng
và Nhà nước. Đảng ta đã xác định giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự

SV: Vũ Thị Khánh Hà

9

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu. Do đó phần lớn nguồn kinh phí cho giáo dục được đảm bảo từ
nguồn cấp phát của NSNN bởi việc duy trì, củng cố và phát triển các hoạt động thuộc
lĩnh vực này là nhiệm vụ và mục tiêu mà nhà nước phải thực hiện trong quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế. Nhà nước quyết định mức chi cho sự nghiệp giáo dục chi
tiết theo từng mục, tiểu mục chi cụ thể nhằm đảm bảo chi theo đúng dự toán, kế
hoạch.
- Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất tạo
ra cơ sở vật chất, mua sắm, sửa chữa trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy. Đây là khoản
chi hết sức cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Nếu coi đội ngũ
giáo viên là lực lượng lao động, học sinh là đối tượng lao động thì trang thiết bị, cơ sở
vật chất chính là những công cụ lao động. Chúng gắn liền với nhau tạo thành một quy

phối quy mô, cơ cấu giữa các cấp học, ngành học, giữa các vùng là hết sức quan
trọng, đảm bảo cho giáo dục đào tạo phát triển cân đối, theo đúng định hướng đường
lối của Đảng và Nhà nước.
- Sự đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, kích thích thu hút các nguồn vốn
khác đầu tư cho giáo dục đào tạo. Nhà nước đầu tư hình thành nên các trung tâm giáo
dục có tác dụng thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân phát triển các loại dịch vụ
phục vụ cho trung tâm giáo dục đó. Mặt khác trong điều kiện các tổ chức, cá nhân
chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án giáo dục thì sự đầu tư vốn của
NSNN là số vốn đối ứng quan trọng để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho
giáo dục. Thông qua sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở vật chất và một phần kinh phí
hỗ trợ đối với các trường bán công, tư thục, dân lập có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ
phong trào xã hội hóa giáo dục đào tạo.
1.3. Nội dung chi và quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp
giáo dục
1.3.1. Nội dung chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục
Khái niệm chi ngân sách nhà nước: chi ngân sách nhà nước là quá trình phân
phối, sử dụng quĩ ngân sách nhà nước do quá trình thu tạo lập nên nhằm duy trì sự tồn
tại hoạt dộng bình thường của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ
của nhà nước.
Hoạt động chi ngân sách nhà nước phản ánh mục tiêu hoạt động của ngân sách
nhà nước, đó là đảm bảo về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của ngân sách , với
tư cách là chủ thể của NSNN trên hai phương diện:

SV: Vũ Thị Khánh Hà

11

Lớp CQ44/01.02



thường dưới một năm. Nhìn chung đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho
chức năng quản lý và điều hành xã hội một cách thường xuyên của nhà nước
trong các lĩnh vực như: quốc phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế ,
văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ ..)


Chi đầu tư phát triển (là những khoản chi có thời hạn tác động dài

thường trên một năm, hình thành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo
nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ sở vật chất của đất nước.)
Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là khỏan chi thường xuyên thuộc
nhóm chi hoạt động sự nghiệp cho lĩnh vực văn – xã. Đây là quá trình phân phối và sử
dụng một phần vốn tiền tệ từ quĩ NSNN nhằm duy trì và phát triển sự nghiệp giáo dục
theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.

SV: Vũ Thị Khánh Hà

12

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

Vai trò của chi ngân sách ko chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài chính để
duy trì, củng cố các hoạt động giáo dục đào tạo mà còn có tác dụng định hướng, điều
chỉnh các hoạt động giáo dục đào tạo phát triển theo đường lối chủ trương của đảng
và nhà nước. Đây là khỏan chi có tính tích lũy đặc biệt bởi khoản chi này là một trong

Học bổng học sinh, sinh viên.

o

Các khỏan thanh toán khác cho cá nhân (tiền ăn, trợ cấp, phụ cấp )

- Các khoản chi cho nghiệp vụ chuyên môn:
Đây là các khoản chi chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng số chi NSNN cho giáo
dục, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Thuộc nhóm chi

SV: Vũ Thị Khánh Hà

13

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

này bao gồm các khoản chi về giảng dạy, học tập cho giáo viên và học sinh, chủ yếu
là dùng để mua sắm sách vở, đồ dùng học tập, tài liệu tham khảo, đồ dùng giảng
dạy…
- Các khoản chi mua sắm, sửa chữa :
Đây là khỏan chi dùng để mua sắm thêm các tài sản và sửa chữa các tài liệu
đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu hoạt động và nâng
cao hiệu suất sử dụng các tài sản đó. Mức chi cho nhóm mục chi này phụ thuộc vào :
tình trạng tài sản của các trường thuộc diện được sử dụng vốn ngân sách nhà nước và
khả năng nguồn vốn ngân sách nhà nước có thể đáp ứng cho nhu cầu này.


Chủ trương của nhà nước về duy trì và phát triển sự nghiệp giáo

dục cụ thể năm kế họach .


Dựa vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phát

triển sự nghiệp giáo dục.


Khả năng các nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi

thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục kì kế hoạch.


Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thường xuyên cho sự nghiệp

giáo dục của ngân sách nhà nước hiện hành và dự toán những điều chỉnh hoặc
thay đổi có thể xảy ra trong kì kế hoạch.


Chỉ thị của thủ tướng chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội trong đó có kế hoạch cho phát triển giáo dục và dự toán
chi thường xuyên NSNN cho giáo dục năm sau.


Tình hình thực hiện dự toán các năm trước, đặc biệt là năm báo


nước đồng cấp chính thức phân bổ theo dự toán cho sự nghiệp giáo dục thông qua hệ
thống kho bạc nhà nước .
1.3.2.2 Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục.
Chấp hành dự toán chi thường xuyên là một trong những nội dung quan trọng
của chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước – là khâu thứ 2 của chu trình quản lý
ngân sachs nhà nước. Thời gian chấp hành NSNN được tính từ ngày 01 tháng 1 đến
hết ngày 31/12 năm dương lịch. Trong qua trình tổ chức chấp hành cần chú ý những
điểm sau:
Thứ 1: Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập chung có trọng
điểm trên cơ sở dự toán chi đã được xác định. Do đó cần phải qui định lại chế độ lập

SV: Vũ Thị Khánh Hà

16

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

và duyệt kế hoạch cấp phát hàng quí vừa đơn giản, vừa khoa học đảm bảo cấp phát
theo kế hoạch
Thứ 2: Thực hiện cấp phát kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽ, tránh lãng phí
cho ngân sách nhà nước.
Thứ 3 : Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải đảm bảo tính tiết
kiệm, hiệu qủa trong quản lý chi, đúng chính sách chế độ.
Thứ 4 : Tuân thủ nguyên tắc thanh toán trực tiếp qua kho bạc nhà nước. Mọi
khoản kinh phí chi trả từ ngân sách của các cơ sở giáo dục phải do kho bạc trực tiếp



Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

khỏan chi. Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng các chính sách, chế độ chi
phải đảm bảo khoa học , phù hợp với thực tiễn.
1.3.2.3.Quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo
dục:
Công tác quyết toán các khỏan chi thường xuyên của ngân sách nhà nước là
công việc cuối cùng trong chu trình quản lý các khỏan chi thường xuyên. Là quá trình
nhằm kiểm tra , rà soát , chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kì chấp
hành dự toán để phân tích , đánh giá kết quả chấp hành dự toán , rút ra những kinh
nghiệm bài học cần thiết cho kì chấp hành dự toán tiếp theo.
Vì vậy , trong quá trình quyết toán các khoản chi thường xuyên NSNN cho giáo
dục phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:


Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại

báo cáo đó cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ qui định.


Số liệu trong báo cáo phải chính xác ,trung thực . Nội dung các

báo cáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt và
theo đúng mục lục ngân sách.



Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục đào tạo được thực hiện tại các
đơn vị cụ thể . Do đó việc quyết toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là
trách nhiệm của các đơn vị dự toán và cơ quan tài chính.
Trình tự phê chuẩn và gửi báo cáo quyết tóan chi ngân sách nhà nước hàng năm
của một cấp ngân sách chẳng hạn ngân sách cấp huyện( thành phố ) như sau:
Phòng tài chính huyện ( thành phố ) có trách nhiệm thẩm định báo cáo quyết
toán chi ngân sách cho toàn ngành giáo dục trên địa bàn huyện ( thành phố ) trình
UBND huyện ( thành phố ) xem xét gửi sở tài chính , đồng thời UBND huyện trình
hội đồng nhân dân huyện phê duyệt . Sau khi hội đồng nhân dân phê duyệt , báo cáo
quyết toán năm được thành lập thành 4 bản gửi đến các cơ quan sau:
-

01 bản gửi hội đồng nhân dân thành phố

-

01 bản gửi gửi ủy ban nhân dân thành phố

-

01 bản gửi sở tài chính tỉnh

-

01 bản lưu lại phòng tài chính thành phố.

Trình tự lập,gửi ,xét duyệt các báo cáo tài chính đã được qui định như trên vừa
phản ánh một qui trình bắt buộc phải tuân thủ, vừa phản ánh yêu cầu cần phải tôn
trọng về thời gian tại mỗi cấp, mỗi đơn vị . Chỉ có vậy thì công tác quyết toán mới
đảm bảo được tính kịp thời, chính xác, trung thực, khách quan

Hiện nay, thành phố có 2 cụm công nghiệp lớn đó là khu công nghiệp Khai
Quang và khu công nghiệp Lai Sơn. Đây là những khu công nghiệp có điều kiện
thuận lợi về giao thông và nguồn lao động, cơ sở kết cấu hạ tầng tương đối hoàn thiện

SV: Vũ Thị Khánh Hà

20

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

và đặc biệt chính sách khuyến khích thu hút đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều
kiện để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển công nghiệp. Ngoài ra
thành phố đang triển khai 2 dự án là khu đô thị Nam đầm Vạc và khu đô thị Nam Hà
Tiên. Đây là các dự án rất khả quan góp phần xây dựng và phát triển thành phố Vĩnh
Yên.
Là trung tâm kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hoá xã hội của tỉnh với
tiềm năng tự nhiên dồi dào, phong phú đa dạng để phát triển kinh tế xã hội cùng nhiều
chính sách ưu đãi thông thoáng trong việc phát triển, thành phố Vĩnh Yên có đủ điều
kiện để hội nhập kinh tế.
Đặc biệt năm vừa qua thành phố vĩnh yên tự hào tròn 110 tuổi. Hơn một thế kỷ
qua, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Yên đã làm nên những trang sử vẻ vang trong đấu
tranh, bảo vệ và xây dựng quê hương. Đảng bộ luôn vận dụng sáng tạo các chủ trương
của Trung ương và tỉnh, tập trung phát huy tốt nội lực, khai thác hiệu quả các tiềm
năng, thế mạnh, động viên nhân dân tham gia xây dựng địa phương ngày càng phát
triển.

tăng dân số tự nhiên là 1,02% (Mục tiêu đến năm 2010 giữ mức 1%). Toàn thành phố
có 85 khu phố, thôn, làng đạt tiêu chuẩn văn hoá, tăng 27 đơn vị so với năm 2005
(Mục tiêu đến năm 2010 là 80 khu phố, thôn, làng); 86% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn
gia đình văn hoá, tăng 6% so với năm 2005, tăng 24,5% so với năm 2000 (Mục tiêu
đến năm 2010 là 90%). Trung bình mỗi năm giải quyết việc làm cho 2.300 lao động.
(Mục tiêu mỗi năm giải quyết trên 2.000người/năm). Tỷ lệ hộ nghèo còn 3,32% giảm
2,88% so với năm 2005, giảm 5,68% so với năm 1999 (Mục tiêu mỗi năm giảm 1%).
An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đảm bảo,
tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Công tác xây
dựng hệ thống chính trị được quan tâm, bộ máy chính quyền các cấp được củng cố,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả từng bước đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Các
chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh được Đảng bộ cụ thể hoá bằng các
chương trình, đề án, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

SV: Vũ Thị Khánh Hà

22

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

Đảng bộ đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng, giữ vững sự đoàn kết trong
Đảng và trong hệ thống chính trị, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng.
Thường xuyên củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng
và đảng viên.
Nhìn lại chặng đường 110 năm qua, Thành phố đã và đang đạt được những

cụ thể tình hình giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn trong thời gian qua
như sau:
2.1.2.1.Về qui mô giáo dục:
Bảng 2.1 : Qui mô phát triển giáo dục tiểu học và THCS ở thành phố Vĩnh
Yên giai đoạn 2007-2009
Chỉ tiêu

Số trường

Số lớp

Số học sinh

Năm học
08-09

07-08

08-09

07-08

08-09

Ngành học
Tiểu học

11

11

tăng 1 lớp so với cùng kì, tuy nhiên số học sinh có giảm 62 học sinh (do trường năng
khiếu của tỉnh chuyển về thanh vân, tam dương). Các trường đã huy động được 99.6%
học sinh lớp 5 vào lớp 6. Số trường tổ chức cho học sinh học 2 buổi/ ngày đạt tỉ lệ
100%.
Về qui mô giáo viên: Cùng với việc mở rộng về qui mô và số lượng học sinh ở
các trường tiểu học và THCS trên địa bàn thành phố, để đáp ứng được nhu cầu giảng

SV: Vũ Thị Khánh Hà

24

Lớp CQ44/01.02


Chuyên đề tốt nghiệp

khoa tài chính công

dạy, đào tạo của người dân, đòi hỏi số lượng giáo viên cũng phải tăng lên. Theo số
liệu thống kê các năm học gần đây: ( đơn vị : người )
Bảng 2.2: Qui mô đội ngũ giáo viên tiểu học và THCS ở thành phố Vĩnh
Yên giai đoạn năm 2007-2009
Năm học
20072008

20072008

20082009

Ngành học


Về chất lượng giáo dục đạo đức:

Trong các năm học qua các nhà trường đã tăng cường giáo dục đạo đức, lối
sống cho học sinh thông qua việc chỉ đạo nâng cao chất lượng các môn giáo dục công
nhân, các giờ sinh hoạt tập thể, sinh hoạt lớp, tuyên truyền phòng chống ma túy, các tệ
nạn xã hội, đẩy mạnh giáo dục an tòan giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục giới
tính và các họat động văn nghệ, thể dục thể thao. Đồng thời thực hiện nghiêm túc 3
cuộc vận động: “ học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ chí minh” ; cuộc vận

SV: Vũ Thị Khánh Hà

25

Lớp CQ44/01.02



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status