Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------------

NGUYỄN MẠNH DŨNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------------

NGUYỄN MẠNH DŨNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60 85 01 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, cán bộ địa chính, các hộ gia đình
thuộc các xã Kim Sơn, Trung Mầu huyện Gia Lâm, TP Hà Nội đã giúp đỡ tôi
trong việc cung cấp tài liệu của địa phương, của các hộ gia đình để tôi nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này./.
Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Dũng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC

Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng

vi

1. C
1. hí
1. C
1. hí
1. T
2 ổ
1. T
2. h
1. T
2. h
1. T
3 ìn
1. T
3. ìn
1. T
3. ìn
1. H
4 iệ
1. H
4. iệ
1. C
4. á
Chươ
ng 2.
2.1
Đối
2.2
Nội

4



2. Điều
2. tra
hì 3
n 4
2. T 3
2. h 4
2. Ả
2. n
n 3
g 4
2. Đ
2. ề
c 3
a 5
2. P 3
3 h 5
2. P 3
3. h 5
2. P 3
3. h 5
2. P 3
3. h 6
2. P 3
3. h 7
2. P 3
3. h 7
Chương
3. KẾT

Page 4


3. 7
3. 1
3.
3.
c7
ể6
3.
4
c7
nô7
3. 7
4. 7
3. 7
4. 7
3. 7
4. 7
K 7
ẾT 9
1 7
Kế 9
2 8
Ki 0
T 8
ÀI 1
P 8
H 3


3.
9
3.
10
3.
11
3.
12
3.
13
3.
14
3.
15
3.
16

T
b
T 11
h
M 12

M 12

T 42

B 44
iế
H 49

i
D 71
iệ
Ả 73
n
K 75
ết

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


DANH MỤC HÌNH
STT

Tên hình

Trang

3.1

Sơ đồ hành chính huyện Gia Lâm

39

3.2

Cơ cấu sử dụng đất năm 2014 huyện Gia Lâm


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Chú giải

BCĐ

: Ban chỉ đạo

CĐRĐ

: Chuyển đổi ruộng đất

CN - TTCN

: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

CNH - HĐH

: Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá

ĐBSH

: Đồng bằng sông Hồng

DĐĐT

: Dồn điền đổi thửa

GCNQSDĐ

: Sử dụng đất

SXNN

: Sản xuất nông nghiệp

TDTT

: Thể dục – Thể thao

TW

: Trung ương

UBND

: Uỷ ban nhân dân

GTGT

: Giá trị gia tăng

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii


Page 1


đai đã từng bước đáp ứng được nhu cầu về quản lý đất đai, nhờ những đột phá
quan trọng trong các chính sách đất đai đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản
xuất ở nông thôn, người nông dân thực sự trở thành người chủ trên mảnh đất
của mình, đây là động lực tạo nên sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp
Việt Nam, từ chỗ thiếu đói và khủng hoảng lương thực, vươn lên đủ ăn và trở
thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới; cùng với đó, nhiều nông
sản khác như cao su, cà phê, điều, tiêu và thủy sản đã tham gia xuất khẩu vào
các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU,…
Gia Lâm là một huyện đồng bằng, nằm về phía Đông TP Hà Nội, trong
những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Kinh tế Xã hội, Quốc phòng - An ninh. Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá, cơ cấu
kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng. Với trên 65% dân số dựa vào nông
nghiệp, công tác chỉ đạo phát triển sản xuất rất được quan tâm, công tác dồn
điền đổi thửa đã và đang được thực hiện, song mức độ vẫn còn hạn chế: quy
mô diện tích của thửa đất sau chuyển đổi còn nhỏ; bình quân số thửa/hộ còn
cao, chưa hình thành được vùng chuyên canh lớn hiệu quả kinh tế cao. Việc
chuyển đổi ruộng đất ở các vùng màu, vùng bãi chưa được quan tâm, quy
hoạch và quản lý quỹ đất công ích còn bất cập. Những hạn chế này đã ảnh
hưởng lớn đến công tác quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, đầu tư thâm canh trên địa bàn.
Nhằm đánh giá việc thực hiện dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Gia
Lâm một cách khách quan, sát thực, từ đó đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh
công tác dồn điền đổi thửa, tạo ra các vùng sản xuất chuyên canh, tiến tới phát
triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng được
yêu cầu của việc xây dựng Nông thôn mới, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”.


dưới ba hình thức: sở hữu nhà nước; sở hữu làng, xã; sở hữu tư nhân. Sở hữu
dưới dạng đất công của nhà nước quy định đất đai thuộc quyền sở hữu của
nhà vua, hoa lợi do đất đai này mang lại chủ yếu dùng vào việc công như ban
thưởng, lễ hội, công trình xây dựng, an ninh, quốc phòng ... đất công của làng,
xã gọi là sở hữu cộng đồng xuất hiện rất sớm ở Việt Nam. Hình thức sở hữu
này gắn liền với văn hóa làng, xã của Việt Nam, nhất là ở Đồng bằng sông
Hồng. Về mặt hình thức thì đất công của làng, xã vẫn thuộc quyền sở hữu của
Nhà nước nhưng quyền sử dụng hoàn toàn do làng, xã quy định. Việc sử dụng
đất công của làng, xã được thực hiện theo 2 cách: cho nông dân cấy rẽ hoặc
sử dụng lao dịch của nông dân thu hoa lợi trang trải cho việc công của làng,
xã. Ruộng đất tư: Trong lịch sử nước ta có hai thời kỳ ruộng đất tư khá phát
triển là trước thế kỷ 14 và trong thế kỷ 17. Sở dĩ hai thời kỳ này đất tư phát
triển là do trước thế kỷ 14 tầng lớp quý tộc phong kiến đang hình thành, còn
trong thế kỷ 17, chiến tranh liên tiếp xẩy ra giữa các phe phái làm cho nhà
nước suy yếu đến mức không thể kiểm soát được phát triển của sở hữu tư
nhân về ruộng đất.
Ngoài ba hình thức sở hữu truyền thống đó, trước cách mạng Tháng
Tám, ở Việt Nam còn hiện hữu hình thức sở hữu ruộng đất của tư bản Pháp
dưới dạng các đồn điền.
Mặc dù tồn tại sở hữu tư nhân về đất đai nhưng vào đầu thế kỷ 20,
nông dân lao động Việt Nam làm chủ được rất ít đất đai, 95% dân số là nông

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


dân nhưng chỉ sở hữu 30% diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt 60% nông dân
là bần nông chỉ có 10% đất canh tác, (Chu Mạnh Tuấn, 2007).
- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước trước năm 1945


Page 6


trọng lớn, xã viên chưa thực sự làm chủ trong quá trình sản xuất vì tư liệu sản
xuất, đặc biệt là đất đai vẫn do hợp tác xã quản lý tập trung, thu nhập của
nông dân từ kinh tế tập thể còn thấp, mức khoán không ổn định ...
Nhằm khắc phục nhược điểm của khoán 100, Bộ Chính trị đã ra Nghị
quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới cơ chế quản lý trong nông
nghiệp. Theo cơ chế khoán 10, ruộng đất được giao ổn định đến hộ xã viên
trong khoảng 15 năm, sản lượng khoán ổn định trong 5 năm, các hộ xã viên
nhận khoán được hưởng khoảng 40% sản lượng khoán. Tiếp theo đó Hội nghị
TW 6 (khóa VI) đã ra Nghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị
kinh tế tự chủ. Việc khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ và
được nhận khoán đất nông nghiệp sử dụng lâu dài đã tạo ra động lực mới
trong sản xuất, khuyến khích hộ nông dân bỏ thêm vốn liếng, công sức, vật tư
vào sản xuất.
Sau một thời gian tạo ra động lực mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp,
chính sách quản lý đất đai dựa trên cơ chế khoán thể hiện một số hạn chế như
cơ chế quản lý và phân phối kết quả sản xuất do nông dân làm ra chưa công
bằng; Về mặt pháp lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTXNN.
Cơ chế này làm cho hộ nhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi,
từ đó không thấy hấp dẫn để đầu tư tăng năng suất. Từ đó Đảng và Nhà nước
ta tiếp tục tìm kiếm những quyết sách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ
của hộ xã viên với ruộng đất nhận khoán tạo động lực mới trong nông nghiệp.
- Quan hệ giữa Nhà nước và nông dân trong sở hữu và sử dụng đất
theo tinh thần đổi mới từ năm 1993 đến nay
Luật Đất đai 1993 ra đời bước tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ
thống các chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta. Theo đó, hộ
nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển

năm 2003 đều quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông
nghiệp được giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả
những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng
đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có quyền sử dụng đất đều

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Việc giao đất, cấp GCNQSDĐ nông nghiệp
cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư
thâm canh trên diện tích đã được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để
người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định.
- Chính sách tích tụ và tập trung ruộng đất nông nghiệp
Luật Đất đai năm 1993 cũng như các luật sửa đổi sau này mới chú
trọng đến vấn đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân sử dụng đất để
kinh doanh nông nghiệp mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tích tụ, tập
trung đất cho sản xuất nông nghiệp theo quy mô hiệu quả. Do diện tích đất
nông nghiệp nước ta nhỏ, cách giao đất lại theo kiểu bình quân, có tốt, có xấu,
có gần, có xa dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được phân chia rất manh
mún. Tình trạng các hộ chỉ có 0,2 - 0,3 ha đất canh tác nằm rải rác trên nhiều
xứ đồng vẫn rất phổ biến, nhất là ở Miền Bắc. Các quy định của Luật Đất đai
về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, đấu thầu đất là cơ sở pháp lý quan
trọng, tạo điều kiện từng bước cho tích tụ ruộng đất, nhưng chưa đủ để khắc
phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ. Do đó “dồn điền đổi thửa” được coi là một
trong những việc cần thiết của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước ta
trong một số năm gần đây.
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981
đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và

và những nguyên nhân gây nên tình trạng này. Manh mún ruộng đất ở
ĐBSH là một hiện tượng mang tính lịch sử. Tình trạng manh mún thể hiện
trên cả 2 góc độ: manh mún về ô thửa và bình quân quy mô ruộng đất/hộ gia
đình nông dân. Vào những năm 30 của thế kỷ trước, ĐBSH đã có đến 16,0
triệu thửa ruộng to nhỏ khác nhau. Diện tích trung bình mỗi thửa ở tỉnh Bắc
Ninh lúc bấy giờ là 680
2

m . Nếu tính riêng diện tích phải giành ra làm bờ vùng, bờ thửa thì ĐBSH
đã
mất đi trên 3% diện tích đất canh tác. Đến năm 1997, tình trạng manh mún
ruộng đất ở ĐBSH vẫn đứng ở vị trí thứ 2 trong 7 vùng sinh thái cả nước, chỉ
sau miền núi phía Bắc.
Ở đồng bằng sông Hồng hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ
thể hiện ở các đặc điểm sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


khoảng 0,25 ha/hộ).
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1ha trở lên không đáng kể (chưa đầy
15%) đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha.

3
1
,
0
,
0
,

Loại quy mô hộ
2005
1994
2
0
1 3
1
2 6 1
4 3 4
1 0
6
1 2
0
0 0
9
0 0
1
0 0
0
(Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2006)

So sánh


T
T
1
2
3
4
5
6
7

V
nT C
s r á
Tr h 1u 1b
un
Đ 0 7 52
ồn
D 7 5
3
uy 5– 3
0
D
uy
Tâ – 5 0
2

4 5
1
ôn

Bảng 1.3. Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng
ĐBSH
Tổng số thửa/hộ
STT
Ít
nhất
1
2
3
4
5

Tỉnh
5
,9
,7
,
3
,3
,

Nhiều

Trung

2

Diện tích bình quân/thửa (m )
Nhỏ




Kết quả ở bảng 1.3 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất thuộc một số
tỉnh đồng bằng sông Hồng rất khác nhau; ở các tỉnh đông dân, diện tích đất
nông nghiệp ít thì mức độ manh mún càng cao và đây cũng là yếu tố ảnh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


hưởng trực tiếp đến sản lượng các loại cây trồng.
b. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún
Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún
ruộng đất là sự phức tạp của địa hình đất đai ở mỗi địa phương trong ĐBSH;
hầu như trong mỗi làng, xã đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp. Đây
chính là hệ quả của việc xây dựng đê điều từ rất sớm trong đồng bằng.
Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả
con cái. Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các
con sau khi ra ở riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ
phát triển của nông hộ.
Nguyên nhân thứ 3 là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ. Do
quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi
liên quan đến ruộng đất.
Nguyên nhân thứ tư liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân
theo nguyên tắc xuất có tốt có xấu khi thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP năm
1993. Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp
phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH. Quan
điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và
nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status