Xây dựng hệ thống bài tập chương Nhóm oxi hóa học 10 nâng cao nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 10 - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA

Họ và tên sinh viên: Phạm Thị Diễm Vy

Tên đề tài: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG NHÓM OXI HÓA HỌC 10 NÂNG CAO
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CHO HỌC SINH LỚP 10

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân sư phạm

Đà Nẵng, tháng 4/2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA

Tên đề tài: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG NHÓM OXI HÓA
HỌC 10 NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CHO HỌC SINH LỚP 10

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân sư phạm
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Diễm Vy
Lớp

:14SHH

Giáo viên hướng dẫn: Th.S Ngô Minh Đức

(Kí và ghi rõ họ, tên)

Giáo viên hướng dẫn
(Kí và ghi rõ họ, tên)

PGS. TS. Lê Tự Hải
TS. Ngô Minh Đức
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 15 tháng 4 năm 2018
Kết quả điểm đánh giá …………
Ngày….tháng….năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ, tên)


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, em đã nhận được nhiều sự hỗ trợ và giúp đỡ của người
khác. Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy TS. Ngô Minh Đức, người
đã tận tình truyền đạt những kiến thức và trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo những kinh nghiệm
quý báu để hoàn thành tốt bài khóa luận này.
Tiếp theo, không ai hơn là thầy TS. Phan Văn An và cô Nguyễn Thị Lan Anh cùng các
thầy cô khác trong khoa Hóa, đã nhiệt tình giúp đỡ, tận tụy trong việc truyền kiến thức
cho em mấy năm ngồi trên ghế nhà trường.
Sau cùng, em xin gửi lời chân thành đến các thành viên trong lớp 14SHH đã không ngần
ngại giúp đỡ em trong việc tìm tài liệu, trả lời những khúc mắc để em có thể hoàn thành
tốt khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trong quá trình làm khóa luận, em đã có thời gian ôn lại kiến thức cũ, nắm vững hơn
những năm còn ngồi trên ghế cấp ba, đồng thời, tạo điều kiện để em tổng hợp, củng cố
kiến thức và đúc kết lại các kinh nghiệm mà em có thể vận dụng sau khi tốt nghiệp.
Trong quá trình làm khóa luận, do trình độ cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, nên không

1.1.6. Phân loại năng lực .........................................................................................9
1.1.7. Các năng lực cốt lõi của học sinh ..................................................................9
1.1.8. Năng lực trong bộ môn hóa học ..................................................................10
1.1.9. Tăng cường xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo định hướng phát triển
năng lực cho học sinh ............................................................................................11
1.2. BÀI TẬP HÓA HỌC......................................................................................12
1.2.1. Khái niệm bài tập hóa học ...........................................................................12
1.2.2. Ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong giảng dạy hóa học ...........................13
1.2.3. Phân loại bài tập ..........................................................................................14
1.2.4. Xu hướng xây dựng bài tập mới ..................................................................15
1.2.5. Những chú ý khi ra bài tập ..........................................................................15
1.2.6. Những chú ý khi chữa bài tập cho HS .........................................................16
1.3. QUAN HỆ GIỮA BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ VIỆC NÂNG CAO KHẢ
NĂNG NHẬN THỨC VÀ TƯ DUY CỦA HỌC SINH .......................................17
1.3.1. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học .....................................................17
1.3.2. Quan hệ giữa bài tập hóa học với việc nâng cao khả năng nhận thức và tư
duy của học sinh ....................................................................................................17
1.4. NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN BÀI TẬP ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CỦA HỌC SINH ...................................................................................................18
1.4.1. Quán triệt mục tiêu dạy học.........................................................................18
1.4.2. Đảm bảo tính khoa học, chính xác của nội dung.........................................18
1.4.3. Gây hứng thú học tập, phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực sáng tạo
của học sinh. ..........................................................................................................19
1.4.4. Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng ...........................................................19


1.4.5. Rèn luyện, phát triển tư duy cho học sinh ...................................................19
1.4.6. Tính yêu cầu cao và phù hợp với trình độ từng đối tượng HS ....................20
1.5. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BTHH ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HS
HIỆN NAY ............................................................................................................20

PHỤ LỤC
1. BÀI TẬP LUYỆN TẬP THEO TỪNG DẠNG CỦA MỖI BÀI HỌC
2. BÀI TẬP CẢ CHƯƠNG CÓ ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI
2.1. PHẦN LÍ THUYẾT
2.2. PHẦN BÀI TẬP
3. BÀI TẬP TỔNG HỢP CẢ CHƯƠNG CÓ ĐÁP ÁN .......................................25
3.1. PHẦN LÍ THUYẾT .......................................................................................25
3.2. PHẦN BÀI TẬP .............................................................................................28


GV

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
: Giáo viên

HS
PTHH

: Học sinh
: Phương trình hoá học

PTN
PTPƯ
NL

: Phòng thí nghiệm
: Phương trình phản ứng
: Năng lực

CTCT

: phản ứng
: electron

BT

: bài tập

HH

: hóa học


DANH MỤC HÌNH VẼ
Tên các hình vẽ

Số

Trang

Hình 3.1

Thí nghiệm điều chế khí Y từ chất Z

36

Hình 3.2

Mô hình thí nghiệm điều chế oxi trong PTN

39

thế giới quan khoa học, đạo đức, phẩm chất của người lao động mới…
Tuy nhiên một trong những hạn chế, khó khăn của bộ môn Hóa học hiện nay đang
gặp phải đó là tài liệu còn thiếu, chưa cập nhật và liên kết giữa các trường. Đi cùng với
xu hướng phát triển mới của giáo dục là dạy học theo hướng phát triển năng lực, thì hệ
thống BTHH còn đang thiếu những bài tập phù hợp để phát huy tối đa sự sáng tạo cũng
như tính chủ động của HS, đặc biệt là tính tích cực khi vận dụng những tri thức hóa học
đã học được vào thực tiễn.
Thực tế cho thấy, nếu chỉ cung cấp cho HS những kiến thức hóa học về mặt lý
thuyết thì HS sẽ khó ghi nhớ, khó hiểu rõ bản chất cũng như hiểu được ý nghĩa của
những kiến thức đó. Chỉ khi vận dụng được những kiến thức đó vào thực tiễn, vào việc
xử lý các bài tập, hay giải quyết những vấn đề thực sự gần gũi trong cuộc sống, thì các
tôi mới hiểu hết ý nghĩa cũng như có sự chú ý, thu hút đối với tri thức đó. Trong quá
trình này, BTHH đóng vai trò vô cùng quan trọng, bài tập vừa là mục đích, vừa là nội
dung, lại là một phương pháp dạy học hiệu quả để hướng người học vào thực tiễn đồng
thời hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục trong thời kì mới mà Đảng và nhà nước ta đã đề
ra.
Bài tập hóa học có rất nhiều dạng bài tập. Chính vì vậy, việc xây dựng một hệ thống
bài tập hóa học sẽ rất có lợi cho người dạy và học. Ngoài việc sử dụng triệt để các bài
tập có sẵn trong SGK, SBT hoặc các tài liệu tham khảo khác, trong quá trình dạy học,
người giáo viên Hóa học cần xây dựng một hệ thống bài tập phù hợp với từng đối tượng
học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu. Có như vậy mới kích thích niềm say mê học tập bộ
môn của các em. Đồng thời, khuyến khích các em học tập phát huy năng lực tự học, tự
nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, vận dụng linh hoạt các kiến thức vào các tình huống thực
tế nhằm khắc sâu kiến thức.
Chính vì vậy, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG NHÓM OXI – HÓA HỌC NÂNG CAO ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CHO HỌC SINH LỚP 10”. Để có một hệ thống bài tập phù hợp với từng đối tượng
học sinh, giúp học sinh nắm được các dạng bài tập và phương pháp giải, từ đó góp phần

1

cao lớp 10 THPT.
6. Giả thiết nghiên cứu
Nếu xây dựng được hệ bài tập đa dạng, phong phú có chất lượng tốt và sử dụng hợp
lí trong dạy học thì sẽ phát triển được năng lực cho học sinh ở trường THPT.
7. Cái mới của đề tài
- Xây dựng HTBT hóa học hữu cơ chương Nhóm oxi – chương trình Hóa học nâng
cao lớp 10.

2


- HTBT được phân dạng và định hướng cách giải theo chương nhằm giúp HS dễ sử
dụng.
- Bài tập được phân thành 4 mục tiêu “Hiểu – Biết – Vận dụng bậc thấp – Vận dụng
bậc cao”
- Rèn cho học sinh phương pháp tự nghiên cứu, tự giải bài tập theo chủ đề.

3


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1.1. Định hướng đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục phổ thông sau 2015
❖ Đối với công tác quản lý
- Từ năm 2002 bắt đầu triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới mà
trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh.
- Các sở giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo các trường thực hiện các hoạt động đổi mới
phương pháp dạy học thông qua tổ chức các hội thảo, các lớp bồi dưỡng, tập huấn về
phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo cụm chuyên môn, cụm

Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục, phát triển chương trình giáo dục
nhà trường phổ thông cho đội ngũ giảng viên các trường/khoa sư phạm, giáo viên các
trường phổ thông tham gia thí điểm; (4) Góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận, cơ sở thực
tiễn đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015.
- Triển khai áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục
và Đào tạo tại Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2013; sử dụng di sản văn
hóa trong dạy học theo Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013
của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; triển khai sâu rộng
Cuộc thi dạy học các chủ đề tích hợp dành cho giáo viên.
- Quan tâm chỉ đạo đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức thi, kiểm tra đánh giá
như: Hướng dẫn áp dụng ma trận đề thi theo Công văn số 8773/BGDĐT-GDTH, ngày
30/12/2010 về việc Hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra vừa chú ý đến tính bao quát nội
dung dạy học vừa quan tâm kiểm tra trình độ tư duy. Đề thi các môn khoa học xã hội
được chỉ đạo theo hướng "mở", gắn với thực tế cuộc sống, phát huy suy nghĩ độc lập
của học sinh, hạn chế yêu cầu học thuộc máy móc. Bước đầu tổ chức các đợt đánh giá
học sinh trên phạm vi quốc gia, tham gia các kì đánh giá học sinh phổ thông quốc tế
(PISA). Tổ chức Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống
thực tiễn dành cho học sinh trung học; Cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho
học sinh trung học nhằm khuyến khích học sinh trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa
học, công nghệ, kỹ thuật và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề
thực tiễn cuộc sống; góp phần thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy
học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực
học sinh.
- Thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 về chống tiêu cực và khắc
phục bệnh thành tích trong giáo dục và phát động cuộc vận động “Nói không với tiêu
cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” đã hạn chế được nhiều tiêu cực
trong thi, kiểm tra.
❖ Đối với giáo viên
- Đông đảo giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều
giáo viên đã xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ

Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng
vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có,
phần lớn do giáo dục, tập luyện.
- Năng lực được đào tạo là những phẩm chất trong quá trình hoạt động tâm lí tương
đối ổn định và khái quát của con người, nhờ nó chúng ta giải quyết được (ở mức độ
này hay mức độ khác) một hoặc một vài yêu cầu mới nào đó trong cuộc sống” – Nguyễn
Huy Tú .
- X.L.Rubinxtein cho rằng: “Năng lực là toàn bộ các thuộc tính tâm lí làm cho
con người thích hợp với một hoạt động có lợi ích xã hội nhất định”.
- Tâm lí chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng
lực chuyên môn. Năng lực được chia thành ba mức độ: năng lực, tài năng và thiên tài.
1.1.3. Cấu trúc của năng lực

6


-Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm
vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có
phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội
dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức tâm lý vận động.
-Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành
động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên
môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là ngững khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh
giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận
- giải quyết vấn đề.
-Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những
tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối
hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
-Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được

người ngày càng phát triển theo để đáp ứng với yêu cầu xã hội.
Năng lực con người con phụ thuộc vào chế độ chính trị xã hội, sự phân công lao động
của xã hội, sự giáo dục,... trong đó giáo dục là tác động tích cực nhất của xã hội đối với
sự hình thành và phát triển năng lực của cá nhân. Bởi vì, năng lực là điều kiện để lĩnh
hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo luôn có mối quan hệ thống nhất với nhau. Năng lực không
biểu hiện trong tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà nó được phát hiện ra trong quá trình lĩnh
hội tri thức.
Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất, nhưng điều chủ yếu là năng lực được
hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới tác động
của dạy học và giáo dục. Vì vậy, vấn đề phát hiện và bồi dưỡng năng lực, năng khiếu
là một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược giáo dục nhằm: nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân
cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực. Mỗi người đếu có năng lực
đối với một hoạt động nào đó. Vì vậy, khi phân công lạo động ta cần phải tìm hiểu năng
lực của mỗi người sao cho phù hợp với từng loại công việc.
1.1.5. Năng lực của học sinh
Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái
độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện
thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các
em trong cuộc sống.

8


Năng lực học sinh là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng
bậc, hàm chứa trong đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng… mà cả niềm tin, giá trị, trách
nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học
phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.
1.1.6. Phân loại năng lực
Nếu dựa theo năng lực cá nhân, năng lực được phân thành năng lực chung và năng lực

9


1.1.8. Năng lực trong bộ môn hóa học
Trong môn Hóa học bao gồm 6 năng lực đặc thù
Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
-Nghe và hiểu, trình bày và vận dụng được nội dung các thuật ngữ hóa học, danh pháp
hóa học và các biểu tượng hóa học (kí hiệu, hình vẽ, mô hình cấu trúc các phân tử các
chất, các liên kết hóa học).
-Biểu diễn đúng công thức hóa học của các hợp chất vô cơ và các hợp chất hữu cơ các
dạng công thức, đồng đẳng, đồng phân.
-Quy tắc đọc tên tên theo các danh pháp khác nhau đối với các hợp chất hữu cơ.
Năng lực nghiên cứu và thực hành hóa học
-Sử dụng thành thạo các đồ dùng thí nghiệm, lắp đặt các bộ dụng cụ thí nghiệm, hiểu
được tác dụng của từng bộ phận, biết phân tích sự đúng sai trong cách lắp.
-Mô tả và giải thích được các hiện tượng thí nghiệm và rút ra những kết luận về tính
chất của chất, được các phương trình hóa học và rút ra được những kết luận cần thiết
-Năng lực này bao gồm các năng lực tiến hành thí nghiệm, sử dụng và vận dụng thí
nghiệm, năng lực quan sát, mô tả, giải thích các hiện tượng tự nhiên.
-Tiến hành độc lập các thí nghiệm nghiên cứu, tìm kiếm và thu được những kiến thức
cơ bản để hiểu biết giới tự nhiên và kĩ thuật.
Năng lực tính toán
- Vận dụng thành thạo phương pháp bảo toàn (bảo toàn khối lượng, bảo toàn điện tích,
bảo toàn electron…) trong việc tính toàn giải các bài toán hóa học.
-Sử dụng thành thạo phương pháp đại số trong toán học và mối liên hệ với các kiến
thức hóa học để giải các bài toán hóa học. Đồng thời sử dụng hiệu quả các thuật toán
để biện luận và tính toán các dạng bài toán hóa học.
Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học
-Phân tích được tình huống, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học
tập, trong cuộc sống.

giả thuyết nghiên cứu phù hợp với câu hỏi nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo.
- Đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi để kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu, thực
hiện phương án thực nghiệm. Sau đó, các em sẽ xây dựng báo cáo kết quả nghiên cứu
và trình bày kết quả nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo.
1.1.9. Tăng cường xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo định hướng phát
triển năng lực cho học sinh
1.1.9.1. Sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học để rèn các kiến thức kĩ năng
THTN góp phần phát triển năng lực thực hành hóa học cho HS
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh các bước giải bài tập thực nghiệm:
Bước 1: Giải lí thuyết, hướng dẫn học sinh phân tích lí thuyết, xây dựng các bước giải,
dự đoán hiện tượng, kết quả thí nghiệm, lựa chọn hóa chất, dụng cụ, dự kiến cách tiến
hành.
Bước 2: Tiến hành thí nghiệm, chú trọng đến các kỹ năng:
- Mô tả đầy đủ, đúng hiện tượng thí nghiệm và giải thích đúng các hiện tượng đó.
- Đối chiếu kết quả thí nghiệm với việc giải lí thuyết, rút ra nhận xét, kết luận.
Với các dạng bài tập khác nhau thì các hoạt động cụ thể của học sinh cũng có thể thay
đổi cho phù hợp. Cần chú ý rằng khi sử dụng các bài tập thực nghiệm, có thể dùng
nhiều hình thức khác nhau:
11


+ Sử dụng các thí nghiệm hóa học và các dụng cụ hóa chất cần thiết để làm bài tập
(toàn thể học sinh làm hoặc một vài em làm thí nghiệm biểu diễn, kết hợp vừa giải bằng
lí thuyết và có một phần bằng thực nghiệm).
+ Bài tập chỉ được giải bằng lí thuyết (mang tích chất thực nghiệm tưởng tượng).
+ Bài tập bằng hình vẽ, sơ đồ (dùng hình vẽ để mô tả cách lắp đặt dụng cụ, thu khí, ...
hoặc từ hình vẽ, sơ đồ cho trước, phân tích các khả năng phù hợp)
1.1.9.2. Tăng cường các dạng bài tập có sử dụng sơ đồ, hình vẽ
Các dạng bài tập này hiện nay còn ít được sử dụng trong dạy học, việc sử dụng dạng
bài tập này sẽ góp phần hình thành cho HS năng lực quan sát, năng lực tư duy hóa học.

kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời
giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời
điểm mà bài tập được đặt ra”.
Từ những quan niệm và những ý kiến trên có thể hiểu rằng: Bài tập là một hệ
thống thông tin được đưa ra một cách có vấn đề, đòi hỏi HS phải sử dụng những kiến
thức đã có bằng cách lập luận hay tính toán để giải quyết vấn đề.
Về mặt lí luận dạy học hóa học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán mà khi
hoàn thành hệ thống những bài tập này, HS sẽ nắm được hay hoàn thiện một kiến thức,
một kĩ năng nào đó thông qua việc xử lý, tính toán bài tập, hệ thống bài tập.
BTHH là những câu hỏi hay bài toán về lĩnh vực hóa học được sử dụng như là
các vấn đề hoặc các tình huống học tập để HS suy luận, tư duy dựa trên những kiến
thức đã học, mục tiêu là khi hoàn thành những câu hỏi hay bài toán này, HS sẽ nắm
được một lượng kiến thức hay một kĩ năng nhất định.
Tóm lại, thuật ngữ “bài tập” chủ yếu được sử dụng theo quan niệm: bài tập bao
gồm cả những câu hỏi và bài toán mà khi giải quyết chúng HS phải nhờ những suy
luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở các khái niệm, định luật,
học thuyết và phương pháp hóa học. Khi hoàn thành bài tập, HS hoàn thiện được một
tri thức hay một kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thí
nghiệm.
1.2.2. Ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong giảng dạy hóa học
- Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để dạy HS tập vận
dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa
học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính
mình. Vì chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thức một
cách sâu sắc. Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A.
Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng
thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành".
- Bài tập hóa học là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách
tốt nhất, đồng thời giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động,
phong phú. bài tập hóa học còn làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học.

- Bài tập hóa vô cơ
- Bài tập hóa hữu cơ
4. Dựa vào cách thức tiến hành kiểm tra:
- Bài tập trắc nghiệm
- Bài tập tự luận
5. Dựa vào mức độ nhận thức:
- Hiểu
- Biết
- Vận dụng bậc thấp
- Vận dụng bậc cao
6. Dựa vào nhiệm vụ đặt ra và yêu cầu của bài tập:
- Bài tập cân bằng PTPƯ
- Bài tập viết chuỗi phản ứng
- Bài tập điều chế
- Bài tập nhận biết
14


- Bài tập tách chất
- Bài tập xác định phần trăm hỗn hợp
- Bài tập lập CTPT
- Bài tập tìm nguyên tố chưa biết…
7. Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập:
- Bài tập dạng cơ bản
- Bài tập tổng hợp
8. Dựa vào phương pháp giải bài tập:
- Bài tập tính theo công thức và phương trình
- Bài tập biện luận
- Bài tập dung các giá trị trung bình
9. Dựa vào mục đích sử dụng:

- Xác định rõ mục đích của từng bài tập. Mục đích của tiết bài tập. Cần đặt câu hỏi:
cần ôn tập kiến thức gì? Kiến thức cơ bản nào cần củng cố? Những lổ hổng kiến thức
nào của học sinh cần bổ sung? Cần hình thành cho học sinh những phương pháp giải
nào?
1.2.6. Những chú ý khi chữa bài tập cho HS
- Cần chọn chữa các bài tập tiêu biểu điển hình, tránh trùng lặp về kiến thức cũng như
về dạng bài tập. Cần chú ý các bài
+ Có phương pháp giải mới.
+ Dạng bài quan trọng phổ biến hay được ra thi.
+ Có trọng tâm kiến thức hóa học cần khắc sâu.
- Phải nghiên cứu chuẩn bị trước thật kỹ càng như là:
+ Tính trước kết quả.
+ Giải bằng nhiều cách khác nhau.
+ Dự kiến trước những sai lầm học sinh hay mắc phải và cả những thắc mắc của học
sinh.
- Giúp học sinh nắm chắc các phương pháp giải các bài tập cơ bản:
+ Chữa bài mẫu thật kỹ.
+ Cho bài tương tự về nhà làm.
+ Khi chữa bài tập tương tự có thể: cho học sinh lên bảng, chỉ nói hướng giải, các
bước tiến hành và đáp số, chỉ nói những điểm mới cần lưu ý, ôn luyện thường xuyên.
- Biết sử dụng hình vẽ, sơ đồ một cách linh hoạt trong quá trình giải bài tập vì nó có
tác dụng sau:
+ Cụ thể hóa các vấn đề, các quá trình trừu tượng
+ Trình bày bảng ngắn ngọn.
+ Học sinh dễ hiểu bài.
+ Giải được nhiều bài tập khó.
- Cần hình thành cho học sinh kỹ năng tóm tắt đề bởi nó sẽ giúp HS hình dung một
cách khái quát các dữ kiện tạo thuận lợi cho quá trình tư duy, tìm ra lời giải.
- Dùng phấn màu khi cần làm bật các chi tiết đáng chú ý.
- Cần phải biết tiết kiệm thời gian (photo đề bài, sử dụng phiếu học tập).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status