CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC
CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT
CHẤT CHO CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC SƠ SỞ
VÙNG KHÓ KHĂN
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao, có liên
quan trực tiếp đến mỗi người và lợi ích của mọi người trong
xã hội. Vì vậy, huy động mọi nguồn lực có thể của xã hội cho
sự phát triển giáo dục luôn được xem là sách lược phát triển
của nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù bản chất của giáo
dục ở các nước có khác nhau nhưng tất cả đều cho thấy xã hội
hóa sự giáo dục là cách làm phổ biến.
Huy động cộng đồng để phát triển giáo dục đã xuất hiện
từ khá sớm trong lịch sử giáo dục. Không chỉ ở Việt Nam mà
ở mọi Quốc gia khác trên thế giới, giáo dục luôn tự gắn liền
nó với sự phát triển cộng đồng với mục đích cộng đồng và
nâng cao chất lượng cuộc sống. Cũng chính bởi sự gắn kết
này, các lực lượng cộng đồng cùng với những nguồn lực vật
chất và tinh thần của riêng mình đã luôn đồng hành cùng sự
phát triển giáo dục.
Trải qua các giai đoạn lịch sử, việc chăm lo vật chất,
khích lệ cổ vũ người học, tôn vinh người Thầy trong xã hội và
những trò giỏi thành đạt đã trở thành truyền thống, đạo lý tốt
đẹp của Dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
nói: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt
già, trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học
tập, tham gia xóa nạn mù chữ...”
tri thức. Khuynh hướng cải cách giáo dục là tập trung thu hút
và tăng cường sự tham gia của các LLXH, gia đình, các tổ
chức trong và ngoài nước cùng với nhà nước tham gia vào
GD nói chung và giáo dục THPT nói riêng.
Việc huy động các LLXH, các tổ chức cùng với nhà
nước tham gia vào giáo dục và XHHGD đã đem lại nhiều
thành công cho quá trình đẩy mạnh cải cách giáo dục. Có thể
khái quát như sau: Phát huy vai trò của các đoàn thể cộng
đồng địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp về giáo dục ở các
khu vực. Mở rộng mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và
cộng đồng, cụ thể: tăng cường vai trò của gia đình trong giáo
dục và tăng cường sự nghiệp giáo dục cộng đồng.
Các tài liệu, công trình tiêu biểu đã đề cập đến vai trò
quan trọng của các LLXH trong việc tham gia vào sự nghiệp
phát triển nhà trường, cũng như quản lí một cách có hiệu quả
sự tham gia nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
và kết quả học tập của học sinh như Tài liệu hướng dẫn sự
tham gia hiệu quả của CMHS, gia đình và cộng đồng ở các
trường Bắc Carolina [27], Tangri, S. và Moles với cuốn sách
“Cha mẹ và cộng đồng” [25], Tác giả Walberg, H. J và cộng
sự với “Nhà trường dựa vào gia đình và cho kết quả” [26, tr.
509-514], Comer J. trong nghiên cứu “Sự tham gia của cha
mẹ học sinh trong các trường học” [20], Laura Brannelly và
Joan Sullivan - Owomoyela trong cuốn sách “Thúc đẩy sự
tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các
điều kiện xung đột” [20], tác giả Anne Henderson và Karen
Mapp đã nghiên cứu hơn 50 công trình được công bố từ năm
1995 để biên dịch cuốn sách: “Minh chứng mới về những tác
hội”. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá giáo dục
đã được thể chế hoá bằng pháp luật thể hiện ở Luật Giáo dục
là cơ sở pháp lý để tiến hành thực hiện. Trong Luật Giáo dục
số 38/2005/QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội, tại Điều 12
ghi rõ: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách
nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học
tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp nhà trường
thực hiện mục tiêu giáo dục. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo
trong phát triển sự nghiệp giáo dục..., khuyến khích vận động
và tạo điều kiện để tổ chức cá nhân tham gia phát triển sự
nghiệp giáo dục” [14]. Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 tại
Điều 13 quy định: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”
và “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và
bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức,
cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục” [15].
Ngày 18/4/2005 Chính Phủ đề ra “Nghị quyết
05/2005/NQ-CP về Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo
dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao” [5] để đẩy mạnh hơn
nữa quá trình xã hội hoá. Như vậy, quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta khẳng định chiến lược về Xã hội hoá sự nghiệp
giáo dục thực chất là để xây dựng, đầu tư, phát triển Giáo dục
và Đào tạo.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 coi
việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu để đạt được
mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhà nước tăng
đầu tư, đồng thời đẩy mạnh XHH, huy động toàn xã hội chăm
lo phát triển giáo dục [9].
dục trong công cuộc đổi mới” đã nhẩn mạnh tầm quan trọng
của quần chúng trong công tác GD, theo tác giả: “XXH trong
công tác GD là phải phát động phong trào quần chúng làm
GD, huy động toàn xã hội tham gia sự nghiệp GD&ĐT, hình
thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ” [16].
Vấn đề huy động cộng đồng để đầu tư cho giáo dục thực
chất là vấn đề tăng cường Xã hội hoá giáo dục, vấn đề này đã
được nhiều sách báo đề cập, ở nước ta đã có một số nhà khoa
học, nhà quản lý giáo dục nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề huy
động cộng đồng trong việc xây dựng cơ sở vật chất còn ở mức
khiêm tốn. Do đó, cần thiết phải xem xét huy động cộng đồng
từ góc độ khoa học để làm rõ mối liên quan giữa huy động
cộng đồng và Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, các biện pháp
huy động cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
của các biện pháp trong quá trình tham gia xây dựng và phát
triển giáo dục.
Mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng về địa lý,
dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì vậy, quá trình xã hội hóa
giáo dục, hay huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo
dục ở mỗi địa phương cũng mang tính chất đặc thù. Đã có
một số nghiên cứu về huy động cộng đồng tham gia xây dựng
cơ sở vật chất trường học ở nhiều địa địa phương khác nhau.
Tuy nhiên, chưa hề có nghiên cứu nào tập trung vào việc huy
động các nguồn lực cộng đồng trong xây dựng cơ sở vật chất
cho các trường THCS vùng khó khăn - một nét giáo dục đặc
thù của các huyện miền núi, nơi có nhiều dân tộc (đại đa số
kết xã hội luôn được các nhà nghiên cứu cộng đồng coi là đặc
tính hàng đầu của mỗi cộng đồng. Đây là ý chí và tình cảm của
những người cùng sống trong một địa vực có những mối liên
hệ về mặt huyết thống hay quan hệ láng giềng. Quá trình tổ
chức đời sống xã hội bởi các thiết chế xã hội lại càng thống
nhất ý chí, tình cảm của cộng đồng qua một số giá trị, chuẩn
mực và biểu tượng riêng. Đây cũng là mục tiêu mà các cộng
đồng đều mong muốn tập hợp và duy trì. Các lệch chuẩn xã
hội xuất hiện trong cộng đồng là do mất ý thức đoàn kết xã
hội, đi kèm theo đó là sự mất ý thức và nhân cách cá nhân.
Ngược lại, khi các cá nhân đồng nhất với cộng đồng, hoà mình
trong cộng đồng đã làm tăng tính đoàn kết xã hội đồng thời
cũng làm tăng ý thức và nhân cách của cá nhân. Cộng đồng tồn
tại được là do từng thành viên trong các nhóm thành viên của
cộng đồng có tiếng nói thống nhất trong các hành động tập thể,
khi không còn tâm thức chung tì cộng đồng đó bắt đầu lụi tàn.
Chẳng hạn, trong các làng, xã hiện đang tồn tại các nhóm
thành viên (tổ chức xã hội) như: Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên,
Hội Nông dân, một khi các thành viên của nhóm có cùng tiếng
nói và ý chí thì sức mạnh của nhóm sẽ tăng lên, các nhóm
thành viên đều hướng theo sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền
ở địa phương thì sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng được
củng cố và trở thành làng/xã mạnh.
Sự liên kết xã hội Đây là sự tương quan giữa người với
người, có tính kết hợp hay những phản ứng tương hỗ, theo đó
con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn.
- Tương quan cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt,
thẳng thắn chân tình, trên cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các
mối quan hệ cá nhân;
- Có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc
khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ
thể;
- Có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực
hiện các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ;
- Có ý thức đoàn kết tập thể.
Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ
giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu;
ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác. Cộng đồng có
sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng
thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như là một
hằng số.
- Nguồn lực cộng đồng và huy động cộng đồng
Nguồn lực cộng đồng: Nguồn là nguồn gốc; lực là sức
mạnh; cộng đồng là nhiều người họp lại, vậy nguồn lực cộng
đồng là tập thể nhiều người là nguồn gốc và sức mạnh cho
một việc nào đó. (ví dụ: Một ngân hàng muốn có nhiều vốn
thì phải huy động cộng đồng xã hội gửi tiền vào như thế cộng
đồng là nguồn lực của vốn của ngân hàng,…).
Huy động cộng đồng: là quá trình huy động các cá nhân
và tập thể (không phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách
địa lý, ...) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau để thu
hút và kéo các nguồn lực xã hội ấy về với giáo dục, đồng thời
thúc đẩy phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở từng cơ
sở và từng địa phương nhằm thực hiện được mục tiêu xã hội
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, phát triển
khoa học kỹ thuật, yêu cầu của xã hội về việc đào tạo con
người ngày càng cao, yêu cầu con người phát triển toàn diện,
hài hòa, đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, thì cơ sở vật chất kỹ thuật của trường học ngày càng
phong phú, phức tạp và nhiều mặt.
Cơ sở vật chất kỹ thuật trường học có vai trò rất quan
trọng cơ sở vật chất trường học là yếu tố tác động trực tiếp
đến quá trình giáo dục, góp phần vào quyết định chất lượng
của nhà trường.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của trường học là những điều
kiện vật chất cần thiết giúp học sinh nắm vững kiến thức, tiến
hành lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học,
hoạt động văn nghệ và rèn luyện thân thể, bảo đảm thực hiện
tốt phương pháp giáo dục và đào tạo mới. Không thể hình
dung việc dạy học mà không có đầy đủ sách giáo khoa, sách
hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên. Cũng như không thể hình
dung việc dạy học khoa học tự nhiên mà không có phòng thí
nghiệm, giáo dục kỹ thuật tổng hợp mà không có xưởng
trường. Giáo dục thể chất mà không có sân bãi và các dụng cụ
thể dục thể thao. Việc giáo dục vệ sinh mà không có các
phương tiện tối thiểu để nhà trường luôn sạch sẽ. Việc giáo
dục âm nhạc mà không có nhạc cụ.
Tổng kết kinh nghiệm của các trường tiên tiến cũng
khẳng định rằng, một trong những yếu tố của trường tiên tiến
là phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của trường học.
Các nhà kinh tế giáo dục đã chứng minh rằng hiệu quả
của việc giảng dạy và giáo dục phục thuộc một phần vào trình
thoáng mát đảm bảo quy định;
- Có cổng, biển tên trường, tường hoặc hàng rào bao
quanh theo quy định;
- Có sân chơi, bãi tập theo quy định.
Phòng học, bảng, bàn ghế cho giáo viên, học sinh.
- Số lượng, quy cách, chất lượng và thiết bị của phòng
học, bảng trong lớp học đảm bảo quy định của Điều lệ trường
tiểu học (nếu trường có cấp tiểu học), Điều lệ trường trung học
và quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế;
- Kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc của
bàn ghế học sinh đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế;
- Phòng học bộ môn đạt tiêu chuẩn theo quy định.
Khối phòng, trang thiết bị văn phòng phục vụ công tác
quản lý, dạy và học theo quy định của Điều lệ trường trung
học.
- Khối phòng phục vụ học tập, khối phòng hành chính quản trị, khu nhà ăn, nhà nghỉ (nếu có) đảm bảo quy định;
- Có trang thiết bị y tế tối thiểu và tủ thuốc với các loại
thuốc thiết yếu theo quy định;
- Có các loại máy văn phòng (máy tính, máy in) phục vụ
công tác quản lý và giảng dạy, máy tính nối mạng Internet
phục vụ các hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu.
Công trình vệ sinh, nhà để xe, hệ thống nước sạch, hệ
thống thoát nước, thu gom rác đáp ứng yêu cầu của hoạt động
giáo dục.
- Có công trình vệ sinh riêng cho cán bộ, giáo viên, nhân
viên, học sinh, riêng cho nam và nữ, thuận lợi cho học sinh
khuyết tật (nếu có), vị trí phù hợp với cảnh quan trường học,
Trong các tiêu chuẩn của trường THCS đạt chuẩn quốc
gia, cơ sở vật chất là một tiêu chuẩn quan trọng, cấp trung
học cơ sở có 5 tiêu chuẩn: (1) Tổ chức Nhà trường; (2) Cán
bộ quản lý và giáo viên; (3) Chất lượng giáo dục; (4) Cơ sở
vật chất; (5) Công tác xã hội hóa giáo dục.
Trong 5 tiêu chuẩn trên, tiêu chuẩn cơ sở về cở sở vật
chất là tiêu chuẩn khó khăn nhất. Vấn đề đặt ra là làm thế nào
để xây dựng Cơ sở vật chất - kỹ thuật của nhà trường theo
hướng đồng bộ hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa. Đây là câu hỏi
không chỉ dành cho các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền mà
còn đặt ra cho người cán bộ quản lý giáo dục một trách nhiệm
rất nặng nề.
- Trường trung học cơ sở vùng khó khăn
- Đặc điểm vùng khó khăn.