(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm pháp lý tố tụng hình sự đối với việc thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Vương Sơn Hà

BẢO ĐẢM PHÁP LÝ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Vƣơng Sơn Hà

BẢO ĐẢM PHÁP LÝ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC


sơ thẩm vụ án hình sự ...........................................................................................24
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật để thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét
xử vụ án hình sự ở Tây Ninh ................................................................................49
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VIỆC

THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .......................................................................................66
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự ...........................................................................................66
3.2. Giải pháp hoàn thiện bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền bào chữa trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ................................................................67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQTHTT

: Cơ quan tiến hành tố tụng

HĐXX


VKS

: Viện kiểm sát

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số liệu VAHS sơ thẩm có NBC tham gia ở tỉnh Tây Ninh từ năm
2013 – năm 2017: ..............................................................................................52
Bảng 2.2. Số liệu VAHS sự sơ thẩm có NBC tham gia ở huyện Tân Châu, tỉnh
Tây Ninh từ năm 2013 – năm 2017: ..................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay,
Việt Nam rất coi trọng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm hướng đến điều
chỉnh tốt hơn các quan hệ xã hội và bảo vệ tốt hơn quyền con người. Cụ thể hóa
cho chủ trương này, Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định:“Ở nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến
pháp và pháp luật”. Việc bảo vệ quyền con người đòi hỏi phải được pháp luật quy

hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS trên tinh thần cải cách
tư pháp, việc hoàn thiện các quy định trong TTHS sẽ góp phần vào việc bảo đảm
dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm quyền con người trong hoạt
động tư pháp, tạo cơ hội cho bị cáo có thể tiếp cận với công lý. Vì vậy, tác giả quyết
định chọn đề tài: “Bảo đảm pháp lý tố tụng hình sự đối với việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh”
làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quyền
bào chữa, chức năng bào chữa như: Luận án tiến sĩ luật học: “Bảo đảm quyền bào
chữa của người bị buộc tội, so sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và
Mỹ” của Lương Thị Mỹ Quỳnh; luận văn thạc sĩ: “Các chức năng tố tụng cơ bản
trong tố tụng hình sự” của Lê Tiến Châu; Luận văn thạc sĩ “Vai trò của luật sư bào
chữa trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự” của Nguyễn Cảnh Tuyến; luận văn thạc
sĩ: “Người bào chữa trong tố tụng hình sự” của Trần Văn Bảy và một số bài viết:
“Người bào chữa trong vụ án hình sự” của Nguyễn Mai Bộ, bài viết: “Các chức
năng buộc tội, bào chữa, xét xử trong tố tụng hình sự” của Hoàng Thị Sơn; bài viết:
Quyền bào chữa của người bị buộc tội theo BLTTHS 2015 của thạc sĩ, NCS Tôn
Thiện phương...
Các đề tài, bài viết nêu trên đã đi sâu vào phân tích, nghiên cứu các quy định
của pháp luật về nhiều khía cạnh của quyền bào chữa, chức năng bào chữa trong
pháp luật TTHS nhưng lại mang tính khái quát, giàn trải toàn bộ các giai đoạn của
2


quá trình tố tụng hoặc chỉ là một giai đoạn như giai đoạn điều tra, riêng trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án, đặc biệt là từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh thì chưa có công
trình nghiên cứu nào.
Tuy nhiên, những công trình khoa học nghiên cứu nêu trên phần nào đã là
nguồn tài liệu tham khảo để tác giả tham khảo và kế thừa có chọn lọc trong quá

thấm VAHS từ thực tiễn địa bàn tỉnh Tây Ninh. Kết quả nghiên cứu về lý luận và
pháp luật thực định cũng như những kiến nghị mà tác giả đưa ra có ý nghĩa như một
đề xuất khoa học góp phần hoàn thiện quyền bào chữa và những bảo đảm cho
quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị buộc tội.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích
cho những người quan tâm đến quyền bào chữa trong TTHS nói chung và quyền
bào chữa từ thực tiễn của tỉnh Tây Ninh nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ
viết tắt thì nội dung luận văn được chia thành ba chương với kết cấu như sau:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Tây Ninh.
Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị về bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

4


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
Quyền bào chữa của người bị buộc tội là một trong những quyền con người
trong lĩnh vực tư pháp được pháp luật quốc tế tôn trọng, ghi nhận và bảo vệ. Một
trong những văn bản pháp luật quốc tế điển hình có ghi nhận quyền bào chữa là

tra, truy tố và xét xử vụ án ngoài chứng cứ buộc tội cũng phải có nghĩa vụ tìm
những chúng cứ gỡ tội để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho
người bị buộc tội. Tuy nhiên, theo quan điểm này thì pháp luật chỉ thừa nhận khả
năng bào chữa của người bị buộc tội, không thừa nhận người bị buộc tội được
quyền nhờ người khác bào chữa.
PGS.TS Phạm Hồng Hải khi cho rằng:“Trong TTHS, quyền bào chữa chỉ
xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội” [8]. Bản chất của bào chữa là việc bảo vệ
người bị buộc tội khỏi sự buộc tội, kết tội một cách oan sai của các cơ quan có thẩm
quyền TTHS bằng cách đưa ra những lý lẽ, chứng cứ xác định vô tội, những tình
tiết giảm nhẹ TNHS. Đồng thời, PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn cho rằng:“Quyền
bào chữa là tất cả các quyền mà pháp luật quy định để chống lại sự buộc tội …”
[28, tr. 49].
Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền bào chữa nhưng nhìn
chung các quan điểm này điều xác định chủ thể, phạm vi, cách thức và nội dung của
quyền bào chữa. Theo chúng tôi, quyền bào chữa có thể được hiểu là: Là quyền
năng tố tụng đặc biệt mà pháp luật TTHS trao cho người bị buộc tội để tự mình
hoặc nhờ người khác đưa ra chứng cứ, lập luận chống lại sự buộc tội và bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng của mình.
Từ những nội dung trên có thể thấy quyền bào chữa có những đặc điểm sau:
- Quyền bào chữa là quyền hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp, có vị
trí và tầm quan trọng đặc biệt so với các quyền khác.
- Là quyền đặc thù của người bị buộc tội; nó chỉ phát sinh đối với chủ thể từ
khi có sự buộc tội và người bị buộc tội tự thực hiện hoặc nhờ người khác thực hiện.
- Đây là quyền chống lại sự buộc tội thiếu căn cứ và bảo vệ lợi ích của người
7


bị buộc tội.
Có thể khẳng định rằng, quyền bào chữa là một thành tố của chức năng gỡ
tội; theo PGS.TS Lê Hồng Hải, thì quyền bào chữa trong TTHS là: “Tổng hòa các

trước về mặt lý luận khoa học pháp lý và nhận thức, với thực trạng cơ chế điều
chỉnh bằng pháp luật, những cản trở đối với sự tham gia của người bào chữa trong
các giai đoạn TTHS chưa thật sự được bảo đảm. Điều này dẫn đến bức xúc trong dư
luận xã hội và người dân, ảnh hưởng đến niềm tin vào tiến trình xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
Như vậy, có thể khẳng định, việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo chỉ có
thể được thực thi trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của
TTHS, xác định rõ những đặc trưng cơ bản của mô hình TTHS Việt Nam và địa vị
pháp lý của các chủ thể THTT và chủ thể tham gia tố tụng; trong đó có hai chủ thể
quan trọng trong quá trình đảm bảo quyền bào chữa trong các phiên tòa xét xử các
cấp là bị cáo và người bào chữa.
Trong BLTTHS 1988, BLTTH 2003 và BLTTHS 2015 các nhà lập pháp của
nước ta đã nhận thức được ý nghĩa to lớn về chức năng bào chữa trong hoạt động
TTHS, từ đó đã cụ thể hóa quyền bào chữa - quyền hiến định của người bị buộc tội,
nâng cao yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa cho chủ thể trên thành một trong những
nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS nước ta (Điều 11 BLTTHS 2003; Điều 16
BLTTHS 2015). Theo đó, Quyền bào chữa là một quyền tố tụng quan trọng với
hình thức thực hiện chức năng bào chữa cụ thể. Các chủ thể được quyền sử dụng tất
cả những biện pháp mà pháp luật không cấm để bác bỏ, phủ nhận sự buộc tội của
VKS hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án. Họ có thể tự bào
chữa, hoặc nhờ người khác bào chữa, hoặc kết hợp vừa nhờ người bào chữa và vừa
tự bào chữa. Đồng thời, việc nhờ người bào chữa không bị giới hạn về số lượng.
Trong hoạt động TTHS, quyền bào chữa là quyền quan trọng nhất của người
bị buộc tội. Đây là tổng hợp các hành vi tố tụng do người bị buộc tội thực hiện
nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc
loại TNHS của mình trong VAHS. Thông thường, sự tham gia của người bào chữa
phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo, họ có thể trực tiếp mời hoặc do người thân
của mình mời người bào chữa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt như:
9


10


luật. Và như vậy, thời điểm bắt đầu xuất hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm VAHS là thời điểm mà hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của VKS được
chuyển sang TA có thẩm quyền. Khi đó, nếu hồ sơ vụ án hoàn chỉnh thì Thẩm phán
được phân công chủ tọa phiên toà sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nội dung
quyết định này đã ghi rõ người thực hiện hành vi phạm tội, tội danh, điều khoản áp
dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội, người bào chữa (nếu có). Như vậy,
tại thời điểm này, quyền tự bào chữa của bị cáo hoặc nhờ người khác bào chữa xuất
hiện khi được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Thời điểm kết thúc quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là
thời phiên toà hình sự sơ thẩm kết thúc.
Cũng có quan điểm cho rằng quyền bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm chấm dứt
tại thời điểm kết thúc phần tranh luận. Theo quy định của BLTTHS thì diễn biến
của phiên tòa phải theo trình tự luật định đó là: Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, phần
xét hỏi, phần tranh luận, phần nghị án và tuyên án. Trong khi đó, tại phần quyết
định của bản án có nội dung là bị cáo (hoặc NBC để bảo vệ lợi ích của người chưa
thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất) có quyền kháng
cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. BLTTHS 2015 quy định: Người kháng cáo
cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm
về việc kháng cáo [16, Đ. 332]. Như vậy, với quy định này đã cho thấy trong phần
cuối cùng của phiên tòa, bị cáo và người bào chữa để bảo vệ lợi ích của người chưa
thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền đưa ra
quan điểm không đồng ý với quyết định của TA, vấn đề này đã cho thấy có sự tồn
tại quyền bào chữa, khi chủ thể thực hiện quyền bào chữa không đồng ý với bản án
sơ thẩm của TA.
Xét xử là một hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước do TA thực hiện,
nhằm giải quyết những vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính theo
quy định của pháp luật [13, tr. 1]. Như vậy, hoạt động xét xử là do TA thực hiện

sự buộc tội, làm giảm nhẹ TNHS cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho họ
trong quá trình xét xử tại phiên tòa”.
Do vậy, theo chúng tôi chủ thể thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm VAHS là bị cáo, NBC (trường hợp bị cáo là người chưa thành niên,
12


người có nhược điểm về tâm thần và thể chất thì người đại diện hợp pháp của bị cáo
cũng có quyền bào chữa). Cơ quan có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn này chính là TA. Nội dung của quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm VAHS bao gồm quyền và nghĩa vụ của bị cáo, NBC cho bị cáo
sử dụng và chấp hành trong quá trình xét xử sơ thẩm để chống lại sự buộc tội của
VKS, chứng minh sự vô tội hoặc những tình tiết làm giảm TNHS, có lợi cho bị cáo.
Như vậy, quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là quyền cơ
bản của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật TTHS, có vai trò, vị trí quan
trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, đồng thời góp phần
làm cho hoạt động TTHS theo đúng quy định của pháp luật.
1.1.3. Ý nghĩa của việc thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
Có thể nói, giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là giai đoạn cực kỳ quan trọng,
là giai đoạn mà ba chức năng cơ bản của TTHS được hiện diện cùng một lúc, giai
đoạn mà sự đối trọng, sự xung đột về mặt pháp lý giữa quan điểm buộc tội và quan
điểm gỡ tội phải được giải quyết bằng TA. Đồng thời, giai đoạn xét xử sơ thẩm
VAHS nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyết định đến số phận pháp lý
của người bị buộc tội. Do đó, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội sẽ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng nếu như việc buộc tội, phán quyết của TA là không đúng
quy định của pháp luật. Vì vậy, trong giai đoạn này, quyền bào bữa có ý nghĩa rất
quan trọng. Ý nghĩa của quyền bào chữa thể hiện ở những nội dung như sau:
Thứ nhất là, quyền bào chữa là quyền năng tố tụng cơ bản có ý nghĩa quan
trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,

phần bảo vệ pháp luật, bảo đảm sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm việc khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không ngừng nâng
cao uy tín của CQTHTT, người THTT. Trong quá trình xét xử sơ thẩm VAHS,
thông qua quá trình thẩm vấn, tranh luận, đối đáp của bên gỡ tội và bên buộc tội sẽ
là cơ sở để Tòa án ra quyết định đúng đắn, xét xử đúng người, đúng tội. Do vậy,
nếu không có sự bào chữa thì sẽ dẫn đến tình trạng không công bằng, duy ý chí, độc
đoán ... của CQTHTT, người THTT và tình trạng oan sai sẽ nhiều. Như vậy, quyền
bào chữa vận hành tạo đối trọng với hoạt động buộc tội trên cơ sở hai bên cùng đưa
14


ra chứng cứ, lập luận ... để tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Tạo tiền đề và là cơ
sở cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được chính xác, công bằng khách quan,
không làm oan người vô tội và để lọt người phạm tội, góp phần bảo vệ pháp luật,
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra, VKS và TA, đề cao
tính thượng tôn pháp luật của mọi tầng lớp trong xã hội.
1.2. Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự
Theo quy định của pháp luật TTHS, quyền bào chữa bao gồm: Quyền tự bào
chữa và nhờ người khác bào chữa. Nếu tự bào chữa là hình thức bị cáo tự sử dụng
các quyền mà pháp luật cho phép để chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ TNHS hoặc
bảo vệ những lợi ích hợp pháp của mình thì nhờ người khác bào chữa là hình thức
bị cáo nhờ luật sư hoặc người khác mà pháp luật TTHS quy định để bào chữa, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Khi nhận trách nhiệm bào chữa, NBC
được sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để bào chữa cho bị cáo, nhằm
giúp đỡ bị cáo về mặt pháp lý.
Hai hình thức bào chữa nêu trên đây có thể được sử dụng cùng lúc để bào
chữa cho bị cáo trong vụ án. Quyền bào chữa của bị cáo có thể hiểu không chỉ là
một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của bị cáo mà có thể hiểu nó còn là
tổng hòa các quyền của bị cáo. Ngoài việc, đưa ra những lý lẽ để biện hộ cho mình,

thực tế thì quyền của bị cáo mới được tôn trọng và bảo đảm.
1.3. Những Nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện quyền bào chữa
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Trong hoạt động TTHS thì pháp luật quy định các chủ thể thực hiện các chức
năng của TTHS luôn đề cao việc thượng tôn pháp luật, thể hiện sự dân chủ, nhằm
đảm bảo và tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân luôn được coi là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách của toàn xã
hội. Đảm bảo quyền con người là một trong những tiêu chí phấn đấu của các nước
dân chủ và tiên tiến trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Quyền bào chữa của bị cáo
là một trong những quyền con người khi tham gia tố tụng. Bảo đảm quyền bào chữa
của bị cáo là một trong những nguyên tắc hiến định trong tất cả các bản Hiến pháp,
16


là nguyên tắc đặc thù của BLTTHS. Điều 31 Hiến pháp 2013 đã quy định rất cụ thể:
“Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào
chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa ” và “Quyền bào chữa của bị cáo
được bảo đảm” [17, Đ. 103]. Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 16 BLTTHS 2015
quy định: “Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan
điều tra, VKS và Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa
chữa họ theo quy định của BLTTHS”.
Các quy định trên nhằm bảo đảm cho bị cáo sử dụng tất cả các biện pháp
theo quy định của pháp luật để bảo vệ mình trước TA, pháp luật dành cho bị cáo
mọi quyền cần thiết để chứng minh sự vô tội của mình và các tình tiết giảm nhẹ
TNHS, đề xuất những yêu cầu, đưa ra tài liệu, đồ vật, tranh luận tại phiên toà...
ngoài việc bảo đảm cho bị cáo tự bào chữa, pháp luật còn quy định bảo đảm cho bị
cáo quyền nhờ người khác bào chữa và trong một số trường hợp còn quy định TA
phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo như: Trường hợp bị cáo là người chưa
thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần. Những người được bị cáo

Đây là nguyên tắc hiến định, được quy định tại Điều 103 của Hiến pháp
2013:“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”; đồng thời, cũng được
ghi nhận trong BLTTHS. Lần đầu tiên, nguyên tắc tranh tụng được đưa vào
BLTTHS như là sự thừa nhận rằng, TTHS Việt Nam hướng đến một nền tố tụng
công bằng giữa bên buộc tội với bên bị buộc tội. Nguyên tắc này ghi nhận về quyền
bình đẳng trước TA không những thể hiện quyền bình đẳng của công dân trước
pháp luật, trước các cơ quan công quyền mà còn là sự bảo đảm cho những người
tham gia tố tụng được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra
yêu cầu và tranh luận trước TA. Vì vậy, BLTTHS quy định nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử được đảm bảo. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện:“Trong quá trình
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,

iều tra viên,

SV, người khác có thẩm quyền

THTT, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có
quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để
làm rõ sự thật khách quan của vụ án” [17, Đ. 26]. Sự bình đẳng giữa bên buộc tội
và bên bị buộc tội thể hiện ở chỗ: Các bên đều có quyền đưa ra chứng cứ, kiểm tra
tính xác thực, liên quan, hợp pháp của chứng cứ; đánh giá về giá trị chứng minh của
18


từng chứng cứ, cũng như toàn bộ chứng cứ ngay tại phiên tòa xét xử. Mọi chứng cứ
xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
TNHS và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày,
tranh luận, làm rõ ngay tại phiên tòa xét xử.
Thông qua nguyên tắc này quyền lợi của bị cáo, NBC được đảm bảo. Tại
phiên tòa, bị cáo, NBC có quyền bình đẳng đưa ra các tài liệu, đồ vật, chứng cứ để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status