BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VÕ THẾ TRANG ĐỀN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
TẠI TÒA ÁN TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VÕ THẾ TRANG ĐỀN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
TẠI TÒA ÁN TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ VĂN HƯNG
2.1. VỤ ÁN THỨ NHẤT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG LIÊN
QUAN ĐẾN TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỨNG TÊN
NGƯỜI THỨ 3 ........................................................................................................ 26
3
2.1.1. Nội dung vụ án:........................................................................................... 26
2.1.2. Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: ....................................................... 30
2.2. VỤ ÁN THỨ HAI VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG LIÊN
QUAN ĐẾN TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỨNG
TÊN HỘ GIA ĐÌNH ............................................................................................... 32
2.2.1. Nội dung vụ án:.......................................................................................... 33
2.2.2. Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: ....................................................... 37
2.3. VỤ ÁN THỨ BA VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THỰC
HIỆN KHÔNG ĐÚNG QUY TRÌNH KÝ KẾT THEO LUẬT CÔNG CHỨNG39
2.3.1. Nội dung vụ án:........................................................................................... 39
2.3.2. Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: ....................................................... 44
2.4. VỤ ÁN THỨ TƯ VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN CHẤP VÀ NẶNG
LÃI ............................................................................................................................ 45
2.4.1. Nội dung vụ án:.......................................................................................... 46
2.4.2. Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: ....................................................... 48
2.5. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ: ........................................................................ 50
2.5.1. Giải pháp và kiến nghị thứ nhất:................................................................. 50
2.5.2. Giải pháp và kiến nghị thứ hai: ................................................................... 52
2.5.3. Giải pháp và kiến nghị thứ ba: .................................................................... 54
2.5..4. Giải pháp và kiến nghị thứ tư: ................................................................... 56
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 57
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................................. 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 60
hoạt động cho vay. Kinh tế càng phát triển, nhu cầu về vốn càng lớn thì vai trò của
các tổ chức tín dụng trong việc đáp ứng vốn cho nền kinh tế trên cơ sở hợp đồng tín
dụng càng trở nên quan trọng Chính sách tín dụng ngân hàng trở thành một vấn đề
không thể xem nhẹ trong các chính sách kinh tế của đất nước.
Như chúng ta đã biết: “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản
giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật
định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên
vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoán trả cả gốc và lại,
dựa trên sự tín nhiệm”1.
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy
định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp
bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng (sau đây gọi
chung là ngân hàng).
Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho
vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một
thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Còn
những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá
được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng. Hợp đồng tín dụng ngân hàng và các
phương thức giải quyết tranh chấp này cũng là một dạng của hợp đồng vay tài sản
nhưng bên cho vay là các tổ chức tín dụng chủ yếu là các ngân hàng tín dụng.
Theo định nghĩa về hợp đồng tín dụng nêu trên thì ngoài những dấu hiệu
chung của các loại hợp đồng theo quy định pháp luật thì hợp đồng tín dụng khi phân
1
Bộ luật Dân sự năm 2005
6
vay phải giải ngân theo đúng thời gian đã thỏa thuận và ký kết.
2
Điều 51 Luật tổ chức tín dụng
7
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mà các bên đã ký kết, một trong các bên
không thực hiện đúng về quyền hoặc nghĩa vụ của mà đã ký kết trong hợp đồng nên
xảy ra tranh chấp. Các bên xảy ra tranh chấp đa phần là do bên vay đã sử dụng số
tiền vay không đúng mục đích dưới sự kiểm tra giám sát theo quyền hạn của tổ chức
tín dụng. Trường hợp khi có một bên trong quan hệ hợp đồng đã ký kết vi phạm hợp
đồng tín dụng, bên còn lại có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có
thiệt hại xảy ra theo thực tế. Trong thực tế, quy định của pháp luật còn nhiều
khoảng trống trong việc quy định về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
khi tham gia hợp đồng tín dụng chưa được chặt chẽ và thiếu cụ thể, chưa thống nhất
đặt biệt là vấn đề thực hiện và nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng tín dụng đã ký kết
chưa thật sự khách quan và công bằng cho hai bên để các bên khi tham gia hợp
đồng tín dụng còn lợi dụng kẽ hỡ của pháp luật gây ra nhiều mâu thuẩn và xung đột
về quyền lợi của nhau. Do đó, khi giải quyết vấn đề về tranh chấp hợp đồng tín
dụng thì cần xem xét mấu chốt của vấn đề tranh chấp liên quan đến vấn đề gì trong
quyền và lợi ích của họ.
Trường hợp tranh chấp xảy ra còn có nguyên nhân khác khi bên vay không
có khả năng trả vốn hoặc đóng lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận mà xảy ra tranh
chấp. Trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận về việc điều chỉnh kỳ hạn trả
nợ hoặc gia hạn nợ thì bên vay có thể áp dụng bằng các hình thức thu hồi nợ và thu
hồi số lãi suất còn nợ của bên vay chưa thanh toán; hoặc trường hợp bên vay còn
hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải
quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân.
Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Toà án
dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự;
nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh; bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự;
nguyên tắc hoà giải; nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân
tham gia; nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai và nguyên tắc
bảo đảm tranh tụng trong xét xử.
Tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng là những mâu thuẫn phát sinh từ
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (tổ
chức tín dụng) và bên vay (khách hàng). Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc,
nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản bảo đảm...
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay
vốn là hộ gia đình, cá nhân hay tổ chức không có đăng ký kinh doanh và không có
mục đích lợi nhuận. Tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp kinh doanh,
thương mại khi bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có
mục đích lợi nhuận.
Có nhiều dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng như tranh chấp về hành vi vi
phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng; tranh chấp về việc thực hiện
biện pháp bảo đảm đối với hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản; tranh chấp
9
về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng; tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo
đảm đối với những hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản và tranh chấp về
pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng, việc giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tranh chấp cần được giải quyết một cách kịp thời, chính xác, đúng pháp
Tóm lại, việc giải quyết các tranh chấp từ các hợp đồng tín dụng như đã phân
tích trên tại Toà án có một vai trò rất lớn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên đương sự, các tổ chức, các cá nhân nhằm góp phần giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội ở tại địa phương và nhất là việc góp phần ổn định
trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, tại tỉnh Bến Tre nói riêng
nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch về hợp đồng tín dụng ngày càng xảy ra
nhiều và các vụ án ngày càng phức tạp gây không ít khó khăn trong việc giải quyết
các tranh chấp xảy ra ở Toà. Vì vậy, các văn bản pháp luật và hệ thống pháp luật áp
dụng để giải quyết các dạng tranh chấp này cần hải hoàn thiện hơn nhằm tạo điều
kiện cho cơ quan giải quyết các vụ án được đẩy nhanh tiến độ giải quyết các tranh
chấp trong lĩnh vự này để ổn định hơn nữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng của các bên khi xảy ra tranh chấp.
Việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nêu trên,
pháp luật hiện hành quy định cũng khá rỏ ràng. Tuy nhiên, trong thực tế còn rất
nhiều bất cập trong hoạt động giải quyết xét xử các vụ án về tranh chấp hợp đồng
tín dụng, pháp luật vẫn còn kẽ hở trong áp dụng thực tiễn. Bên cạnh giải quyết các
hợp đồng tín dụng hiện nay trên địa bàn tỉnh Bến Tre còn nổi cộm các hình thức tín
dụng đen trá hình, các hình thức cho vay nặng lãi hay các hình thức hụi họ…nhằm
mục đích hám lợi bất cập hiện ngày càng nhiều. Để giải quyết những vấn đề này
còn rất nhiều bất cập trong hệ thống pháp luật, xuất phát từ những vấn đề bất cập
trong quá trình giải quyết xét xử tại Tòa án nêu trên nên tôi xin chọn đề tài: “giải
quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Tòa án tỉnh Bến Tre”. Qua bài viết này,
giúp tôi học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, nâng cao kiến thức pháp luật của mình về
lĩnh vực hợp đồng tín dụng trên thực tế. Từ đó đề ra những giải pháp nâng cao các
quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng
con đường Tòa án.
4. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Những năm gần đây, đã có nhiều bài viết với nhiều đề tài, công trình nghiên
cứu liên quan đến lĩnh vực giải quyết tranh chấp tại Tòa án nói chung và giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nói riêng của nhiều nhà làm luật. Trên cơ
Tòa án nhân dân các cấp.
5. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài các phần lời mở đầu, kết luận. mục lục, danh mục, nội dung của luận
văn có 02 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở pháp lý của vấn đề tranh chấp và giải quyết các tranh chấp
hợp đồng tín dụng.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án
nhân dân tỉnh Bến Tre và một số kiến nghị.
12
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VÀ XÉT XỬ CÁC HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP
VÀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN
DỤNG
1.1. KHÁI NIỆM VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1.1. Định nghĩa hợp đồng tín dụng (HĐTD)3:
HĐTD là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản được quy định trong Bộ
luật Dân sự 2005. Trong hợp đồng được ghi nhận sự thỏa thuận của hai hay nhiều
bên mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy
nhiên, Hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ là trường hợp bên cho vay là các tổ chức
tín dụng, mà chủ yếu là các ngân hàng là bên cho vay.
HĐTD về bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay
giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời
hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là hợp
đồng dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đạt giữa các bên.
Trong các hợp đồng tín dụng, các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau với lãi
Mặc dù giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp
phát sinh từ các hợp đồng tín dụng ngân hàng diễn ra ngày một nhiều và gây thiệt
hại không nhỏ cho các chủ thể. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một văn bả pháp
luật nào của nước ta khái niệm chính thức về hợp đồng tín dụng ngân hàng mà chỉ
liệt kê những nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụng ngân hàng như: “1. Thoả
thuận cho vay được lập thành văn bản, trong đó tối thiểu có các nội dung sau:a0
Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của tổ chức tín dụng cho vay; tên, địa chỉ, số giấy
chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp
của khách hàng; b) Số tiền cho vay, hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp
cho vay theo hạn mức; hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo
hạn mức dự phòng; hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu
chi trên tài khoả thanh toàn, c) Mục đích sử dụng vốn vay; d) Đồng tiền cho vay; đ)
Phương thức cho vay; e) Thời hạn cho vay: thời hạn cho vay duy trì hạn mức đối
với trường hợp cho vay theo hạn mức, thời hạn, hiệu lực của hạn mức cho vay dự
phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, hoặc thời hạn
duy trì hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài
khoản thanh toán; g) Lãi suất cho vay theo thoả thuận và mức lãi suất quy đổi theo
tỷ lệ % trên năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế đó theo quy định tại hoản 3
Điều 13 Thông tư này; nguyên tắc và các yếu tố xác định lãi suất, thời điểm xác
định lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn;
14
lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; loại phí liên quan đến khoản vay và mức phí
áp dụng…”4
1.1.2. Nguyên tắc hợp đồng tín dụng:
Các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án không
trái với đạo đức xã hội và theo quy định pháp luật. Theo đó, khi giải quyết tranh
chấp, trong quá trình hòa giải, Tòa án hòa giải để nhằm các bên thỏa thuận với nhau
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo
đức xã hội.
Với những định nghĩa về hợp đồng tín dụng nêu trên, có thể thấy ngoài
những dấu hiệu chung của một loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc
điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân
sự và thương mại5:
Thứ nhất: Một bên chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tổ
chức tín dụng có đủ điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên
kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp
luật quy định.
Thứ hai:
thức văn bản.
HĐTD
ngân
hàng
phải
được
ký
kết
dưới
lãi…)
Thứ bảy: HĐTD ngân hàng luôn nhằm mục đích sinh lợi.
1.3. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT TRANH CHẤP HĐTD
Cùng với sự tồn tại và phát triển của các hợp đồng tín dụng là các tranh chấp
trong hợp đồng tín dụng phát sinh từ sự mâu thuẩn hay không thống nhất về quyền
và nghĩa vụ hoặc tranh chấp về lợi ích trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng
của các bên tham gia là các tổ chức tín dụng và khách hàng.
Một hợp đồng tín dụng coi là có tranh chấp khi có sự xung đột, bất đồng về
quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng
cụ thể và xác định được.
Tranh chấp hợp đồng khác với vi phạm hợp đồng. Vi phạm hợp đồng là hành
vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được cam kết trong hợp
đồng. Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về hành vi
vi phạm đó và cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi phạm hợp đồng đó
được thể hiện ra bên ngoài nên không phải khi nào vi phạm hợp hợp đồng thì khi đó
có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp đồng
lại là sự kiện diễn ra sau một thời gian nhất định và đôi khi có sự vi phạm hợp đồng
tín dụng nhưng có thể không xảy ra tranh chấp bởi vì các bên không bày tỏ ra bên
ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành vi phản
kháng cụ thể có giá trị chứng cứ.
Tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng là những mâu thuẫn phát
sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên
cho vay tổ chức tín dụng và bên vay khách hàng.
Pháp luật giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án là tổng hợp
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết
những mâu thuẩn phát sinh tranh chấp nói trên tại Tòa án.
* Các dạng tranh chấp HĐTD
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng và giải quyết các
tranh chấp hợp đồng tín dụng cụ thể có thể nhận diện những dạng tranh chấp hợp
đồng tín dụng phát sinh như sau:
nhưng không thanh toán phí trả nợ trước hạn cho tổ chức tín dụng,
Thứ ba: Tranh chấp về lãi suất: Lãi suất trong quan hệ vay vốn là một nội
dung thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn được quy định rỏ
trong hợp đồng tín dụng. Thông thường hợp đồng tín dụng sẽ quy định một mức lãi
cho vay cố định trong suốt thời gian của hợp đồng hoặc quy định cơ chế lãi suất thả
nổi, đồng thời quy định lãi suất áp dụng cho khoản nợ quá hạn bằng 150% lãi suất
cho vay. Tuy nhiên, đây là một trong những tranh chấp khá phổ biến trong quan hệ
18
tín dụng và đang còn tồn tại với những cách hiểu và cách giải quyết khác nhau trong
thực tiễn xét xử.
Các tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng khá đa dạng, trong đó
những tranh chấp hiện nay phổ biến nhất là :
Tranh chấp về áp dụng mức lãi suất cho vay theo đó bên vay là cá nhân
thường lập luận trên cơ sở HĐTD là hợp đồng vay tài sản được quy định trong
BLDS sự năm 2015 nên lãi suất áp dụng không quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân
hàng nhà nước công bố từng thời kỳ6 còn các tranh chấp tín dụng thì lập luận là lãi
suất cho vay áp dụng theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước7.
Tranh chấp về mức lãi suất nợ quá hạn: cũng tương tự như trường hợp trên,
tranh chấp của các bên cũng xuất phát từ quan điểm khác nhau về việc áp dụng theo
quy định tại điều 476 BLDS năm 2005 hay theo quy định tại Điều 305 BLDS năm
2005 và quy định của Ngân hàng nhà nước.
Tranh chấp về việc áp dụng lãi suất quá hạn trên tiền lãi chậm trả: Một số
HĐTD hiện nay áp dụng cơ chế tính lãi suất quá hạn trên số tiền lãi chậm trả. Quan
điểm này xuất phát từ việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự
năm 2005. Tuy nhiên, hiện nay ngân hàng nhà nước chưa có quy định này.
Tranh chấp cách lãi thả nổi hoặc tranh chấp phát sinh khi bên vay cho rằng tổ
chức tín dụng đã tự ý điều chỉnh lãi suất không có cơ sở, không đúng trình tự thủ
Khi xác định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh về H HĐTD,
Toà án đã thụ lý hồ sơ thì cần phân biệt rõ thẩm quyền giải quyết về dân sự hay
thẩm quyền về kinh tế. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ
hợp đồng tín dụng thuộc về Toà án sẽ loại trừ thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
Trọng tài thương mại và ngược lại. Luật Trọng tài thương mại quy định: Tranh chấp
giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp phát sinh giữa các bên
trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; hoặc tranh chấp khác giữa các
bên mà pháp luật quy định giải quyết bằng Trọng tài thuộc thẩm quyền giải quyết
của Trọng tài thương mại nếu acc1 bên có thoả thuận trọng tài. Thoả thuận trọng tài
có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp8. Vì vậy, khi giải quyết tranh
chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng, các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu
Toà án giải quyết trừ trường hợp thoả thuận trong tài vô hiệu theo quy định tại Điều
18 Luật trọng tài thương mại năm 2010 hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực
hiện được9.
1.4.1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện:10
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng mà không có đương sự
hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, tức là các tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng tín dụng ngân hàng không có yếu tố nước ngoài.
8
Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010
Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại.
9
10
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 3
Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH3. Để làm rỏ về vấn đề này, tại
Điểm 8 văn bản số 152/TANDTC-PC, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về quyền
khởi kiện vụ án, hình thức, nội dung đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện và nơi cư
trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Theo đó, về quyền
11
Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
12
Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
13
Điều 472 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
21
khởi kiện vụ án, cơ quan tổ chức cá nhân có quyền tự mình hoặc thong qua người
đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi là người khởi kiện) tại Toà án có
thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình14.
Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện: Cơ quan tổ chức là người khởi kiện
thì người đại diện hợp pháp của cơ quan tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người
khác làm đơn hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải
ghi tên địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp
của cơ quan tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan tổ
chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện
17
Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự
22
Nhìn chung, các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng ở Tòa án nhân dân tỉnh
Bến Tre là tranh chấp giữa ngân hàng và cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đi vay. hợp
đồng tín dụng đảm bảo tính pháp lý, nội dung chặt chẽ nên thuận lợi cho việc giải
quyết vụ án phù hợp với trình độ chuyên môn của Thẩm phán, dễ dàng đưa ra
đường lối giải quyết và ra bản án phù hợp với quy định của pháp luật.
Cơ sở để giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng hiện nay khá thuận lợi
với hệ thống pháp luật có liên quan để giải quyết các tranh chấp được quy định
tương đối rõ ràng, đầy đủ và cụ thể trong các văn bản luật và dưới luật về hoạt động
cho vay tín dụng của ngân hàng.
1.5. ĐẶC TRƯNG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN:
Khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án là
việc Toà án có thẩm quyền phải áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành
chuyên ngành về tín dụng và các giao dịch bảo đảm; pháp luật liên quan đến các
hoạt động tín dụng và các giao dịch bảo đảm; các quy định trong nội bộ của các tổ
chức tín dụng ban hành nhằm quy định các biện pháp để giải quyết khi các bên có
tranh chấp; các biện pháp chế tài quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên.
Thủ tục, trình tự giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng tuân theo các
quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có các đặc trưng cơ bản sau:
1.5.1. Về trình tự giải quyết:
Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng được Toà án giải quyết theo
một trình tự, thủ tục nhất định trên cơ sở của Bộ luật dân sự năm 2005 (trước đây
bên tham gia các hợp đồng tín dụng.
1.5.3. Về áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp
đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng là một loại hình kinh doanh có tính đặc thù có điều kiện,
chứa đựng nhiều rủi ro cao cho các tổ chức tín dụng nên hoạt động này chịu sự chi
phối chặt chẽ của pháp luật chuyên ngành, đồng thời còn chịu nhiều quy định điều
chỉnh của nhiều ngành luật liên quan. Các văn bản quy định trong nội bộ của các tổ
chức tín dụng cũng có giá trị áp dụng trong một số trường hợp khi Toà án giải quyết
các vụ án nếu pháp luật quy định tổ chức tín dụng có quyền hoặc nghĩa vụ ban hành
văn bản nội bộ nhằm để điều chỉnh các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến tranh
chấp. Trong trường hợp khi các bên có sự thoả thuận về thời hạn, về lãi suất…bằng
văn bản cụ thể thì cần áp dụng điều chỉnh theo sự thoả thuận của các bên trong văn
bản. Khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo
đảm thì ngoài việc nghiên cứu các văn pháp luật tố tụng dân sự thì cần phải nghiên
cứu lựa chọn và áp dụng các loại văn bản luật về tín dụng và giao dịch bảo đảm;
văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng và ngân hàng; văn bản nội bộ do
các tổ chức tín dụng ban hành trong hoạt động giao dịch.
24
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG QUA MỘT SỐ VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE.
Trong những năm gần đây, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng
xảy ra ngày càng nhiều, tính chất các vụ án xảy ra ngày càng phức tạp được đưa ra
giải quyết trong hệ thống ngành Toà án nói chung đặt biệt tại Toà án nhân dân tỉnh
Bến Tre án kinh doanh thương mại giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng
ngày càng nhiều ở mỗi năm nên việc Toà án khi giải quyết các tranh chấp này
không tránh khỏi nhiều khó khăn, nhiều vướng mắc. Cụ thể mỗi năm theo thống kê
160 vụ (tăng 53 vụ so với cùng kỳ)
56 vụ
104 vụ
2016
167 vụ (tăng 07 vụ so với cùng kỳ)
58 vụ
109 vụ
2017
158 vụ (giảm 09 vụ so với cùng kỳ)
53 vụ
105 vụ
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng. Nhìn chung,
các tranh chấp cụ thể giải quyết tại Toà án tỉnh Bến Tre là các dạng tranh chấp giữa
ngân hàng và cá nhân đi vay. Hợp đồng tín dụng đảm bảo tính pháp lý, nội dung
chặt chẽ nên cũng có phần nào thuận lợi cho việc giải quyết vụ án. Cơ sở để giải
quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng hiện nay cũng khá thuận lợi với hệ thống
pháp luật có liên quan để giải quyết các tranh chấp được quy định trong việc giải
quyết các quan hệ này cũng khá rõ ràng, đầy đủ và cụ thể trong các văn bản dưới
luật về hoạt động cho vay tín dụng của ngân hàng với cá nhân đi vay.