ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG ,
THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ
Sinh viên thực hiện
:
Lớp
:
Giảng viên hướng dẫn :
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2018
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề này được hoàn thành trên những kiến thức, tài liệu, số liệu
em thu thập được trong quá trình học tập tại trường và thực tập tại tòa án cùng với
những kiến thức dưới sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn . Các tài liệu, trích dẫn
đều có nguồn gốc cụ thể. Các số liệu phù hợp với số liệu thực tế tại Tòa án nhân dân
quận Sơn Trà nơi em thực tập.
Đà Nẵng, ngày 25 tháng 04 năm 2018
chuyên đề không thể không có sai sót. Em mong sự góp ý của thầy cô giáo để bài chuyên
đề của em hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin gửi lời chúc đến quý thầy cô giáo của trường Đại học kin tế - Đại học
Đà Nẵng luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, công tác tốt. Em xin gửi lời chúc đến anh chị cán
bộ tòa án nhân dân quận Sơn Trà dồi dào sức khỏe, thành công trong cuộc sống.
Sinh viên
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................6
1. Tình hình cấp thiết của vấn đề.....................................................................................6
2. Phạm vi nghiên cứu......................................................................................................7
3. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................7
3.1. Phương pháp luận...............................................................................................7
3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.........................................................................7
4. Ý nghĩa của chuyên đề..................................................................................................7
5. Kết cấu của chuyên đề..................................................................................................8
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................................9
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
............................................................................................................................................ 9
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng.................................................9
Giải quyết tranh chấp hợp dồng tín dụng.................................................17
1.3.
án
Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa
19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ.........................................21
2.1.
Thực trạng về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng................................21
2.1.1.
Thực trạng về tranh chấp hợp đồng tín dụng...........................................21
2.1.2.
Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng......................21
2.2. Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ở tòa án
nhân dân quận Sơn Trà...............................................................................................24
2.2.1.
Giới thiệu về tòa án nhân quận Sơn Trà...................................................24
4
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng nhanh chóng và hiệu quả...................................................................................35
3.2.1.
Rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp tại tòa......................................35
3.2.2.
Đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật.........................................36
3.2.3. Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
tại tòa án...................................................................................................................36
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................40
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tình hình cấp thiết của vấn đề
Tiền tệ có chức năng làm vật đo giá trị và có vai trò quan trọng trong lưu thông, vì
thế tiền là thứ không thể thiếu trong cuộc sống đối với các cá nhân cũng như tổ chức. Đặc
biệt đối với doanh nghiệp tiền vốn như là sự sống còn. Tuy nhiên, theo tính chất của tiền
tệ, nên không phải ai cũng có tiền, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trong cuộc sống cũng như
về việc cấp vốn cho doanh nghiệp. Vì thế, quan hệ tín dụng xuất hiện để đáp ứng nhu cầu
này. Tín dụng là một trong những chức năng cơ bản trong hoạt động của ngân hàng và các
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
2. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề này với nhiệm vụ chính là làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến
hợp đồng tín dụng, đặc điểm của hợp đồng tín dụng và trình tự thủ tục giải quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án. Bên cạnh đó, đề tài đưa ra nguyên nhân xảy ra tranh
chấp, những yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, chỉ ra thực
tiễn áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp. Phân tích pháp luật hiện hành quy định
về hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Cuối cùng, từ những
khó khăn bất cập khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đưa ra những giải pháp
hoàn thiện nhằm khắc phục hạn chế những rủi ro ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các
bên tham gia cũng như những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận
Chuyên đề nghiên cứu dựa trên cơ sở dựa trên quan điểm của Đảng phát triển kinh
tế nhiều thành phần, kinh tế tư nhân được coi trọng là cơ sở hình thành các giao dịch,
trong đó có hợp đồng tín dụng gồm các chủ thể, một bên là chủ thể kinh doanh, cá nhân
và một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng . Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp luận
triết học của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận chung về nhà nước
và pháp luật.
3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chuyên đề này dựa trên cơ sở
các nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong chuyên đề để làm rõ các
quy định của pháp luật, thực tiễn và các vụ việc đưa ra trong chuyên đề.
- Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng trong chuyên đề để diễn giải các
nội dung của quy định pháp luật và các trường hợp điển hình khi đưa vào phân tích đề tài
Chương 1. Lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Chương 2. Thực trạng về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án nhân
dân quận Sơn Trà
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật, khắc phục hạn chế khi giải quyết tranh chấp
hợp đồng tín dụng
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm của hợp đồng tín dụng
Theo nghiên cứu của các nhà sử học và nhà kinh tế học thì hoạt động cho vay lấy lãi
đã xuất hiện từ rất lâu vào khoảng 2000 năm trước công nguyên. Kinh tế hàng hóa phát
triển, tiền tệ hình thành nên trong cùng một khoảng thời gian luôn có người dư thừa vốn,
có người thiếu hụt vốn, từ đó nhu cầu cho vay và đi vay hình thành Trong xã hội loài
nguời từ khi xuất hiện nền sản xuất hàng hoá thì nhu cầu về vốn của các chủ thể là nhu
cầu mang tính khách quan. Tuy nhiên, xét tại cùng một thời điểm thì có những người thừa
vốn tạm thời lại có những người thiếu vốn tạm thời. Nếu không có sự luân chuyển vốn từ
nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn thì nền sản xuất sẽ bị ngưng trệ. Ðể giải quyết mâu thuẫn
nội tại giữa người thừa vốn và người thiếu vốn tạm thời tín dụng đã ra đời. Thực chất tín
dụng là sự vay mượn vốn lẫn nhau giữa các chủ thể dựa trên cơ sở tín nhiệm. Trên cơ sở
đó hình thành nên quan hệ tín dụng. Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh
“Creditium” có nghĩa là sự tin tưởng, sự tín nhiệm, nó được thiết lập và tồn tại khi các
mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
gốc và lãi 3 . Theo quyết định số 1672 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về
việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khác hàng thì: Việc cho vay
của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín
dụng phải có nội dung về điều kiện, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số
vốn vay, hình thức đảm bảo, giá trị tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và những cam
kết khác được các bên thỏa thuận4 .
Từ phân tích trên, hợp đồng tín dụng có thể định nghĩa như sau: “Hợp đồng tín dụng
là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với một
bên là tổ chức, cá nhân thoả mãn điều kiện pháp luật quy định (bên đi vay), theo đó bên
cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền trong thời hạn nhất định”.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng cũng là một loại hợp đồng dân sự, nó cũng sẽ có những đặc
điểm mà hợp đồng dân sự khác thường có, bên cạnh đó nó có những đặc điểm khác biệt
so với những hợp đồng dân sự bình thường.
Một là, chủ thể của hợp đồng tín dụng một bên luôn là tổ chức tín dụng được thành lập
theo quy định của pháp luật, còn gọi là bên cho vay. Bên đi vay là cá nhân có đủ năng lực
hành vi và năng lực pháp luật, còn tổ chức thì phải được thành lập theo đúng quy định.
Hai là, về hình thức hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản vì đây là loại hình
hợp đồng mang lại nhiều rủi ro cho bên cho vay hơn các loại hợp đồng khác bởi nghĩa vụ
của bên đi vay chỉ hình thành khi bên cho vay giải ngân, tức là chuyển tiền cho bên đi
vay. Theo quy định tại Điều 17 Quyết định 1672 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt
Nam thì hợp đồng tín dụng phải lập thành văn bản, trong đó, nội dung hợp đồng tín dụng
sẽ là sự thỏa thuận về lãi suất, hình thức trả nợ, thời hạn vay, phí phạt liên quan đến việc
thực hiện hợp đồng.
Ba là, đối tượng của hợp đồng tín dụng đặc biệt hơn các loại hợp đồng thông dụng, đó là
hình thức vốn, cụ thể là tiền tệ. Và rủi ro giành cho bên cho vay rất lớn nên bên cạnh hợp
đồng luôn xuất hiện các loại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, hay các giấy tờ liên
quan đến việc chứng minh khả năng trả nợ của bên đi vay như bảng kê khai lương. Việc
áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trong hợp đồng tín dụng thường được áp
điểm, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên và về cơ sở pháp lý. Về chủ thể,
hợp đồng tín dụng sẽ luôn bắt buộc một bên là tổ chức tín dụng được thành lập theo quy
định của pháp luật còn hợp đồng vay tài sản, các bên có thể là cá nhân, tổ chức, nhưng
phải đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật. Tuy là hợp đồng nhưng hợp đồng tín
dụng thường thì bên tổ chức tín dụng sẽ có sự ưu tiên hơn về quyền lợi, bởi họ soạn thảo
hợp đồng, còn bên vay chỉ có việc ký vào hợp đồng nếu ưng thuận, còn hợp đồng vay tài
sản thì cả hai bên sẽ thỏa thuận về hợp đồng đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Sự
tham gia của tổ chức tín dụng là dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp hợp
đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân
khác.Về đối tượng, tiền là đối tượng của hợp đồng tín dụng, còn hợp đồng tài sản thì
ngoài tiền ra còn có các tài sản như xe, nhà, quyền sử dụng đất cũng là đối tượng của loại
hợp đồng này. Về cơ sở pháp lý, hợp đồng vay tài sản được quy định tại điều 463 Bộ Luật
Dân sự 2015, còn hợp đồng tín dụng chưa có bộ luật nào quy định cụ thể về hợp đồng tín
dụng.
1.1.4. Quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng cũng là một phạm trù kinh tế nó vừa có thể là dân sự, nên cần
được sự điều chỉnh của luật nhằm có tính thống nhất khi hoạt động trong lĩnh vực này.
Pháp luật Việt Nam có những quy định chung về một số điều liên quan đến hợp đồng tín
dụng như chủ thể, lãi suất, nội dung của hợp đồng tín dụng trong các bộ luật như: Luật
Các tổ chức tín dụng, một số điều trong Bộ Luật Dân sự và một số văn bản hướng dẫn
như: Các Nghị định của Chính Phủ, Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
Về chủ thể của hợp đồng tín dụng bao gồm bên cho vay và bên đi vay. Bên cho vaycó thể
các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng
Nhà Nước và hướng dẫn của ngân hàng thương mai hoặc tổ chức tín dụng.
Pháp luật Việt Nam quy định về đối tượng của hợp đồng, chủ thể vay là các pháp nhân và
cá nhân Việt Nam và nước ngoài. Trong đó các pháp nhân là các cơ quan, tổ chức có đầy
đủ điều kiện pháp luật quy định, có đầy đủ năng lực pháp luật, mục đích sử dụng vốn hợp
pháp, có khả năng trả nợ trong thời hạn, có dự án đầu tư, kinh doanh rõ ràng. Điều này
được quy định rõ tại Quyết định 1672/QĐ – NHNH.
5 Khoản 4 Điều 94 Luật Các tổ chức tín dụng 2010
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
Đối với phương thức cho vay, trên thực tế có nhiều phương thức thực hiện như việc cho
vay : Cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay trả góp.
Phương thức cho vay tùy vào từng ngân hàng cụ thể, họ có những chính sách cho vay
khác nhau cũng như phương thức cho vay khác nhau nhằm thu hút khách hàng.
Những quy định về lãi suất trong hợp đồng tín dụng: Lãi suất là nội dung cơ bản của hợp
đồng tín dụng, lãi suất là mục đích sinh lời của các tổ chức tín dụng, cũng là điều mà
khách hàng quan tâm khi vay vốn. Nó cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tranh chấp
hợp đồng tín dụng khi người vay không trả được vốn bởi khi đi vay họ đang rất cần tiền
nên miễn có tiền họ không hề quan tâm đến lãi suất, đến khi vỡ nợ mới phát hiện ra, lãi
suất khá cao, dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, quy định của lãi suất
không được đồng nhất giữa các ngành luật. Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không
được quá 20%/ năm (quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015), ở đây lãi suất
không được quy định rõ, riêng biệt cho hợp đồng tín dụng. Trong khi đó luật các tổ chức
tín dụng 2010 (tại Điều 91, 92) lại quy định cơ chế lãi suất theo thỏa thuận giữa tổ chức
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
thể khi tham gia vào quan hệ tín dụng phải thỏa thuận bằng văn bản gồm cả văn bản viết
và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu. Như vậy, mọi thỏa thuận dưới mọi hình
thức không phải bằng văn bản về việc cho vay giữa tổ chức tín dụng với bên đi vay đều
không có giá trị pháp lý. Ðây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, rõ
ràng trong thoả thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra,
là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có.
Pháp luật không quy định về mẫu của hợp đồng tín dụng, thông thường là hợp đồng
mẫu do các tổ chức tín dụng soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với
quy chế cho vay của tổ chức tín dụng. Vì thế, quyền và lợi ích hợp pháp của bên cho vay
luôn được đảm bảo bởi đặc trưng của loại hợp đồng này khá rủi ro. Tuy nhiên, nó cũng
phải đảm bảo xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của bên cho vay và bên đi vay. Khi các
bên đã thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng thì các bên phải có
nghĩa vụ thực hiện đúng những điều đã cam kết. Nếu một trong hai bên vi phạm cam kết
gây thiệt hại cho bên kia, họ phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị vi phạm. Như vậy
khi giải quyết tranh chấp thì hợp đồng tín dụng là bằng chứng để quy trách nhiệm cho các
bên.
Cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: Ðối với các hợp đồng khác, quyền và nghĩa vụ của
các bên thường xuất hiện đồng thời như: hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng lao
động…còn với hợp đồng tín dụng ngân hàng nghĩa vụ chuyển giao tiền (giải ngân) của tổ
chức tín dụng bao giờ cũng phải thực hiện trước tạo cơ sở pháp lý tiền đề cho bên vay
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tổ chức tín dụng chỉ có quyền yêu cầu bên
vay thực hiện các nghĩa vụ như cam kết trong hợp đồng tín dụng (như: sử dụng tiền vay
đúng mục đích, trả nợ đúng hạn…) khi tổ chức tín dụng chứng minh được rằng họ đã
chuyển tiền cho bên vay theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức
tín dụng và khách hàng vay, nó là cơ sở để giải quyết mọi tranh chấp liên quan sau này.
tranh chấp xảy ra chỉ khi bên đi vay vi phạm điều khoản trong hợp đồng chứ sẽ có rất ít
trường hợp mà bên cho vay sẽ vi phạm những điều khoản mà bên mình đã soạn thảo ra.
Bên cạnh đó, nghĩa vụ của bên đi vay chỉ phát sinh sau thời điểm giải ngân, khi mà bên
phía các tổ chức tín dụng đã cung cấp nguồn vốn cho bên vay thì nghĩa vụ cơ bản của họ
coi như hoàn thành, chỉ còn lại nghĩa vụ của bên đi vay. Vì vậy, khi có tranh chấp xảy ra
thì chỉ phát sinh từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên đi
vay. Do đó, trong tranh chấp hợp đồng tín dụng một bên là tổ chức tín dụng với tư cách
lànguyên đơn bên còn lại là cá nhân, tổ chức với tư cách là bị đơn.
Hai là, đa phần các tranh chấp hợp đồng tín dụng thường chỉ phát sinh từ việc thực hiện
nghĩa vụ trả lãi, trả vốn của bên đi vay, về mức tính lãi. Có rất nhiều loại tranh chấp liên
quan đến hợp đồng tín dụng như: tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng, tranh
chấp mục đích sử dụng vốn,tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng... Nhưng phổ biến nhất đó là tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ trả vốn, trả lãi
của bên đi vay. Bởi, trả nợ là nghĩa vụ chính, cơ bản của bên đi vay, lãi chính là mục đích
của hoạt động tín dụng này, nó đóng vai trò nòng cốt trong hợp đồng tín dụng và việc thực
hiện nghĩa vụ của bên đi vay ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức tín dụng.
Vì vậy, tranh chấp hợp đồng thường chỉ phát sinh khi bên đi vay không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ của mình.
Ba là, tranh chấp hợp đồng tín dụng có giá trị hợp đồng rất lớn. Hợp đồng tín dụng được
hình thành là do một bên thiếu hụt vốn, có nhu về vốn mà mình không thể huy động được,
thường thì nhằm bổ sung vốn để kinh doanh. Số tiền này không dễ dàng vay được từ
người thân, bạn bè, tổ chức mà không phải là tổ chức tín dụng. Về phía bên cho vay là tổ
chức tín dụng, bởi với đặc thù của tín dụng là sự cung cấp nguồn vốn đến những cá nhân
nhân tổ chức trên cơ sở huy động vốn của những cá nhân tổ chức có thừa vốn trong lưu
thông và đưa cho bên kia sử dụng số vốn đó. Và tổ chức tín dụng thực ra chỉ là trung gian
trong hoạt động tín dụng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì còn
đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại. Trong hoạt động tín dụng
thì tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian nhằm để luân chuyển nguồn vốn. Để đạt được
lợi nhuận cao thì các tổ chức tín dụng thường kí kết các hợp đồng có giá trị lớn dựa trên
định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay. Do bên đi vay vốn dùng khoản vay này
tốt đẹp giữa khách hàng vay và tổ chức tín dụng, chính điều này sẽ giúp cho hai bên trong
giao dịch đều có lợi đóng góp chung vào sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực
tiễn vẫn không ít trường hợp các bên không thực hiện đúng như những gì quy định trong
hợp đồng tín dụng dẫn đến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên và điều này chính
là nguyên nhân tiềm tàng xảy ra tranh chấp. Đa phần, các tranh chấp liên quan về hợp
đồng tín dụng xuất phát từ việc khách hàng vay không thực hiện đúng các cam kết trong
hợp đồng. Sự cam kết này đã được các bên thống nhất, tự nguyện ký kết nhưng lại không
thực hiện nghiêm túc những gì đã thỏa thuận. Ngoài ra, việc chậm trả đối với các nợ quá
hạn và nợ lãi vốn vay thì khách hàng vay còn bị phạt. Nhiều khách hàng vì không trả nợ
đúng hạn dẫn đến nhiều khoản phạt khác, điều này nợ lại chồng nợ và dẫn đến khả năng
chi trả sau này, từ đó lại phát sinh tranh chấp. Bên cạnh đó, việc người vay đã sử dụng
vốn sai mục đích: Một trong các nguyên nhân vi phạm điều khoản sử dụng vốn không
đúng mục đích từ đó làm nảy sinh tranh chấp. Cuối cùng, kèm theo những nguyên nhân
phổ biến đó thì còn có nguyên từ chính phía chủ thể cho vay đó việc khi cho vay ngân
hàng không tiến hành thẩm định về năng lực, khả năng trả nợ, môi trường làm việc của
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
khách hàng mà chỉ dựa vào nhận định của nhân viên dẫn đến việc không thể dự đoán
chính xác được khả năng thu hồi nợ, nên việc không thể thu hồi được vốn cũng như tiền
lãi là điều có thể xảy ra. Trên thực tế, ngân hàng không thể kiểm định được hết các quỹ
đen của khách hàng, cũng như các khoản vay nặng lãi của người đi vay. Thậm chí, còn có
trường hợp nhân viên ngân hàng khi cho vay không nắm giữ được giấy tờ gốc của khách
hàng nên khi khách hàng bán tài sản đã thế chấp cho người thứ ba dẫn đến xảy ra tranh
chấp giữa người thứ ba và ngân hàng. Nhưng những trường hợp này trên thực tế xảy ra
không nhiều vì nghiệp vụ của chuyên viên tài chính tại các ngân hàng là vô cùng tốt, chỉ
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
tính bí mật, uy tín của các bên. Nếu thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến
quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường sự hiểu biết và hợp tác
lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng. Tuy vậy, bên cạnh các ưu điểm trên, thương
lượng cũng có những nhược điểm như:việc thương lượng thành công phụ thuộc vào thiện
chí của các bên.Trên thực tế, nếu thương lượng thành công thì hẳn khó lòng mà có xảy ra
tranh chấp trước đó. Tuy nhiên, một số trường hợp, bên vay muốn dùng hình thức thương
lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ của mình thì việc thương lượng chỉ làm tốn
kém và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hơn, chứ không đem lại hiệu quả gì, điều
này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh đặc biệt là các tổ chức tín dụng. Cũng
chính vì, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không bị ràng buộc bởi
bất kỳ các cơ chế pháp lý nào nên kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm bởi
bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính bắt buộc thực hiện không cao. Nên sự thực thi kết
quả thương lượng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện thi hành của các bên tham gia. Mặt khác,
hình thức giải quyết khép kín, chỉ có hai bên tham gia , không công khai nhiều trường hợp
lại nảy sinh ra những vấn đề tiêu cực, trái với quy định của pháp luật.
Hai là, hoà giải, đây là phương thức mà các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận
để giải quyết các vấn đề tranh chấp nhưng khác với thương lượng là hoà giải có sự hỗ trợ
của bên thứ ba là hòa giải viên. Phương thức hòa giải với những ưu điểm như: thủ tục,
thời gian, địa điểm hoà giải dựa trên sự thỏa thuận và điều chỉnh của các bên tham gia,
các bên có quyền tự định đoạt và lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải. Hòa
giải mang tính thân mật nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì
lợi ích của cả hai bên. Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của
mình về tranh chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu căng thẳng thắng thua như quá trình
trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm
trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình. Và phán quyết của trọng tài thương mại
đạt được sự công nhận quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó phương pháp giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài có những nhược điểm đáng chú ý như sau: Quyết định trọng tài
thương mại không có tính cưỡng chế cao như quyết định của toà án, các trọng tài viên
không có quyền ra lệnh cưỡng chế bồi thường hoặc áp dụng các biện pháp tạm thời khách
như thu giữ tài sản, triệu tập nhân chứng hoặc bên thứ ba khi họ không muốn tham gia
vào tố tụng7; giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí cao, vụ việc giải quyết
càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao.
Bốn là, giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án, phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng tại Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh
chấp khi không còn lựa chọn nào khác. Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án có nhiều
ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định. Về ưu điểm của hình thức này đó
chính là: Khi cần hành động nhanh chóng và hiệu quả để ngăn chặn sự vi phạm. Tòa án
có thể ra lệnh cưỡng chế khẩn cấp, thậm chí trước khi bắt đầu quá trình tố tụng, 8 cũng như
việc triệu tập nhân chứng, bên thứ ba tham gia tố tụng. Bởi đặc trưng cơ bản của thủ tục
giải quyết tranh chấp bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân
danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành. Vì
vậy, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện. Việc giải
quyết tranh chấp bằng toà án được thực hiện theo nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm và xét
xử phúc thẩm được bảo đảm hai cấp xét xử , nhờ vậy mà những sai sót trong quá trình
giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện, khắc phục nhằm đảm bảo quyền lợi
chính đáng của các bên. Điểm tiếp theo đó là chi phí giải quyết tranh chấp thông qua toà
án ít hơn rất nhiều so với chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Tuy
vậy, việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng
con đường tòa án cũng có những nhược điểm nhất định so với các hình thức khác như:
với đặc trưng là các thủ tục nghiêm ngặt, khá cứng nhắc nên thời gian để giải quyết tranh
chấp thông qua tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương
mại. Hơn nữa, với nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án có thể làm giảm uy tín của các
7 Trung tâm Thương mại Quốc tế, Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, giải quyết các
chức hòa giải, nếu hòa giải thành thì công nhận sự thỏa thuận của các bên. Thứ sáu,
nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, thể hiện sự công
tâm, minh bạch trong mọi quyết định, cũng như thể hiện sự tham gia của nhân dân trong
xét xử.Thứ bảy, nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai, để đảm bảo các
quyền lợi liên quan của các đương sự, các phiên xét xử được công khai trừ những trường
hợp liên quan đến bí mật quốc gia nhằm đảo bảo sự công bằng trong quá trình xét xử. Thứ
tám, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, các bên có quyền ủy quyền cho luật sư
để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Tòa án nhân
dân huyện, quận, thị xã , thành phố thuộc tỉnh gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho
cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, tức là các tòa
án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp phát
sinh từ hợp đồng tín dụng không có yếu tố nước ngoài. Còn Toà án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà có đương
sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài,tức là tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài, và có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
các tranh chấp hợp đồng tín dụng không có yếu tố nước ngoài.
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
Về thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, quá trình giải quyết tranh
động về kinh tế, chính trị trong thời gian này. Người dân, cũng như các doanh nghiệp vừa
và nhỏ của thành phố Đà Nẵng gặp một số khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày cũng như
hoạt động sản xuất kinh doanh như thiếu vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao, khả năng thu
hồi vốn chậm từ các dự án, công trình xây dựng điều này dẫn đến các cá nhân, các doanh
nghiệp đi vay vốn ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác ngày càng tăng cao.Trong đó lãi
suất cho vay liên tục ở mức cao, thời gian vay vốn ngắn cũng khiến các doanh nghiệp,
người đi vay khó quay vòng vốn để trả nợ đúng hạn dẫn đến vi phạm hợp đồng tín dụng,
cũng như các chính sách, chương trình hỗ trợ vay vốn của các tổ chức tín dụng mang tính
chất câu dẫn, thu hút khách hàng đánh đòn vào tâm lý khách hàng nên được một thời gian
sau khi hết ưu đãi, chương trình khuyến mãi không còn, lãi suất cao. Điều này làm cho
tranh chấp hợp đồng tín dụng ngày càng nhiều, và không có dấu hiệu giảm xuống.
2.1.2. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Việc lựa chọn Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp là sự tự nguyện của bên nguyên
đơn. Quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng được thực hiện theo trình tự như
sau: Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện từ phía nguyên đơn, thụ lý vụ án, phân công thẩm
phán giải quyết, hòa giải và chuẩn bị xét xử, phiên tòa sơ thẩm.
Toà án nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện
đến bộ phận tiếp nhận đơn và đơn được phân loại tại bộ phận tiếp nhận đơn, tranh chấp
hợp đồng tín dụng có thể thuộc vụ án dân sự hoặc kinh doanh thương mại và ghi thông tin
vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện,
Toà án phân công thẩm phán xem xét và có một trong các quyết định như: Tiến hành thủ
tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển đơn khởi
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền
Hòa giải và chuẩn bị xét xử: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập các đương sự
để tiến hành lấy lời khai. Trong trường hợp vụ án không thuộc trường hợp không được
hòa giải (quy định tại Điều 206 Luật Tố tụng dân sự 2017) hoặc không tiến hành hòa giải
được thì Tòa án ra Thông báo về phiên hòa giải cho các đương sự, người đại diện hợp
pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn
đề cần hoà giải. Thành phần phiên hòa giải gồm: thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký
Tòa án ghi biên bản hòa giải, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương
sự.
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD:
Trong trường hợp có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý
tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương
sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương
sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán
phải hoãn phiên hòa giải. Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại
phiên hòa giải cho đương sự biết. Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các
đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các
bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải
thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu hòa giải thành
thì Tòa án ra Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự sau 7 ngày kể từ ngày
lập biên bản hòa giải thành. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Toà án gửi quyết định đó cho các đương sự và
Viện kiểm sát cùng cấp.Trong trường hợp bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, thì Toà án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải
GVHD:
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì
sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau: Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng
mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và
Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ
trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại,
nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt họ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng
mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của
mình và Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập có người đó,
trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời
hiệu khởi kiện vẫn còn. Trong trường hợp khi mở phiên tòa mà người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Tiếp đó trong phiên tòa xét xử, tiến hành các thủ tục như sau: Thủ tục bắt đầu phiên tòa,
Thủ tục hỏi tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử tiến hành hỏi các đương sự . Tranh luận tại
phiên Tòa. Cuối cùng, Nghị án và tuyên án, hội đồng xét xử tiến hành nghị án và đưa ra
bản án cuối cùng, rồi tiến hành tuyên án. Bản án có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày tuyên
án nếu các bên đương sự không kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm.
2.2. Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ở tòa án nhân
dân quận Sơn Trà
2.2.1. Giới thiệu về tòa án nhân quận Sơn Trà
Tòa án nhân dân quận Sơn Trà là một trong bảy tòa án thuộc thành phố Đà Nẵng, trụ sở
đặt tại 25 Hà Thị Thân, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tòa án nhân dân quận Sơn
Trà được thành lập từ ngày 31/12/1996 khi tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng