BỘ TƢ PHÁP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐÀO HẢI YẾN
ĐỀ TÀI:
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI,
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng nghiên cứu)
Hà Nội, 2018
BỘ TƢ PHÁP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐÀO HẢI YẾN
ĐỀ TÀI:
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy,
cô giáo trong khoa Kinh tế, khoa Sau đại học – Trường Đại học Luật Hà Nội;
đặc biệt là sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của TS. Đặng Vũ Huân – Tổng Biên
tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn.
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Đào Hải Yến
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nội dung
1
TAND
Tòa án nhân dân
2
KDTM
2015 – 6 tháng đầu năm 2018
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ......................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 4
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn............................................. 5
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 6
Chƣơng 1 .......................................................................................................... 7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT........................................ 7
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN .................... 7
1.1. Khái quát về tranh chấp hợp đồng thƣơng mại .................................... 7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng thương mại ................................ 7
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp hợp đồng thương mại 13
1.2. Khái quát phƣơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại
tại Tòa án........................................................................................................ 20
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án .. 20
1.2.2. Đặc điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án . 21
1.2.3. Nguyên tắc, thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
hợp đồng thương mại tại Tòa án ................................................................... 21
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 28
Chƣơng 2 ........................................................................................................ 29
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT ............. 29
3.2.2. Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong giải quyết
tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án................................................ 78
Kết luận Chƣơng 3 ........................................................................................ 81
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hợp đồng thương mại là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong
bất kỳ hoạt động thương mại nào trong xã hội ngày nay. Hợp đồng thương
mại là yếu tố đảm bảo cho quyền lợi của các bên khi ký kết và thực hiện hợp
đồng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các quan
hệ thương mại và hoạt động sản xuất kinh doanh cũng ngày càng phát triển
khiến cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại trở nên đa dạng phức
tạp hơn, đòi hỏi cần có sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật nhằm giải quyết
các tranh chấp phát sinh, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
tham gia quan hệ thương mại.
Quan hệ hợp đồng thương mại đòi hỏi pháp luật luôn có sự điều chỉnh
hợp lý nhằm đảm bảo tính công bằng, bình đẳng đối với tất cả các bên tham
gia, nhằm tạo trật tự ổn định để phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội, đảm bảo an ninh quốc phòng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên khi tham gia quan hệ pháp luật hợp đồng thương mại. Trong thời gian
qua, nhằm phù hợp với quan hệ thương mại đang có nhiều diễn biến phức tạp
cần thiết phải điều chỉnh, trong đó có vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng
thương mại, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005
và Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng với nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành
khác là khung pháp lý cả về nội dung và hình thức cho quan hệ pháp luật hợp
đồng thương mại và cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuân theo trong quá
trình quản lý, giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, sau thời
án ở Việt Nam hiện nay”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Đinh Ngọc Thương (2016), “Hợp
đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh thương mại vô hiệu theo pháp luật
Việt Nam”, Đại học Luật thuộc Đại học Huế.
Bài viết học thuật của tác giả Hoàng Minh Chiến, Đại học Luật Hà Nội
(2018), “Tranh chấp trong kinh doanh và thẩm quyền giải quyết tranh chấp
hợp đồng trong kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay". Đường link:
2
/>Truy cập ngày 22/5/2018.
Luận văn Tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Na (2016),
“Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện
nay”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Chuyên đề "Pháp luật về hợp đồng thương mại",của tác giả Hà Thị
Thanh Bình (2017), Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Lê Ngọc Nhiên Hà (2017), “Hủy
bỏ hợp đồng theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Khoa Luật - Học viện Khoa
học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Các công trình trên đây đã nghiên cứu, bàn luận về các vấn đề có liên
quan đến hợp đồng thương mại, tranh chấp hợp đồng thương mại, đặc biệt có
những bài viết đã nghiên cứu về các phương thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại một cách rất cơ bản như bài viết của tác giả Hoàng Minh
Chiến, Đại học Luật Hà Nội (2018) về “tranh chấp trong kinh doanh và thẩm
quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh theo pháp luật Việt
Nam hiện nay".
Thứ hai, về các nghiên cứu có liên quan đến giải quyết tranh chấp
thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
Các nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như:
xác định là:
- Nghiên cứu khái quát các vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại,
giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng phương thức Tòa án;
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn việc giải quyết tranh chấp hợp đồng
thương mại của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội trong những năm qua, chỉ
ra những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn Toà án nhân dân
thành phố Hà Nội.
4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và hệ thống
quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng
phương thức Tòa án, thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại của
Tòa án nhân dân tại thành phố Hà Nội thông qua việc nghiên cứu một số bản
án cụ thể.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại thông qua hoạt động
xét xử của Tòa án nhân dân.
Về không gian, Luận văn nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp
hợp đồng thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Về thời gian, trong giai đoạn 4 năm trở lại đây (2015 – 2018).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng thương
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái quát về tranh chấp hợp đồng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm
Trong đời sống xã hội, nhu cầu giao lưu trao đổi buôn bán gọi chung là
giao dịch dân sự là một nhu cầu tất yếu khách quan và để điều chỉnh cũng như
bảo đảm tính hiệu lực của các giao dịch đó, pháp luật về hợp đồng ra đời và
ngày càng chứng tỏ được vai trò đặc biệt quan trọng của mình. Có thể nói,
pháp luật về hợp đồng là một trong những chế định lâu đời nhất liên quan đến
hoạt động kinh doanh, thương mại, dân sự. Sự ổn định và trật tự trong hoạt
động kinh doanh lại phụ thuộc vào hợp đồng. Hợp đồng trong kinh doanh
thương mại là một công cụ pháp lý mà qua đó không chỉ nhu cầu trao đổi,
giao lưu của người được bảo đảm, mà còn giúp cho luồng lưu thông hàng hóa,
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội và nền kinh tế. Do vậy, hợp
đồng ngày càng được xác lập một cách phổ biến hơn, thường xuyên hơn và
trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Trong nền kinh tế thị trường sản phẩm được làm ra để trao đổi mua bán do đó
mà hợp đồng không những là công cụ mà còn là cơ sở để xây dựng và thực
hiện kế hoạch của các chủ thể kinh doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh
doanh của họ phù hợp với thị trường. Qua đây, các chủ thể trong hoạt động
sản xuất kinh doanh có căn cứ để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho
đơn vị mình. Đó là mục tiêu đầu vào, nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra, chất
lượng, số lượng, giá thành, sự thỏa thuận đó đảm bảo sự bình đẳng thực sự
của các bên, thể hiện ý chí nguyện vọng của họ.
Hợp đồng ra đời từ rất lâu và nó được tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau như khế ước, thỏa thuận. Tuy nhiên, hợp đồng trong hoạt động kinh tế
1
2
Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989.
Quốc hội (1997), Luật Thương mại năm 1997.
8
năm 2005 thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao
gồm mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác3. Như vậy khái niệm trên đã mở rộng
phạm vi hoạt động thương mại rất nhiều, theo đó hoạt động thương mại
không chỉ là các hoạt động trên mà còn bao gồm cả các hoạt động sinh lợi
khác. Luật Thương mại năm 1997 quy định là các hoạt động nhằm mục đích
sinh lời, trong khi đó Luật Thương mại năm 2005 lại quy định là các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi. Có thể hiểu khái niệm sinh lợi có phạm vi bao
trùm cả khái niệm sinh lời, theo đó sinh lời được hiểu là có lợi nhuận về mặt
vật chất so với những gì đã bỏ ra, trong khi đó khái niệm sinh lợi không
những bao gồm lợi ích về vật chất mà còn có lợi ích về uy tín, niềm tin,
thương hiệu, điều này là hoàn toàn phù hợp trong hoạt động thương mại hiện
nay.
Hợp đồng trong kinh doanh, thương mại có bản chất của hợp đồng nói
chung, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ trong quan hệ thương mại. Luật Thương mại năm 2005 được hiểu là
luật chuyên ngành không đưa ra định nghĩa về hợp đồng trong kinh doanh,
thương mại, song có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồng trong kinh
doanh, thương mại trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng. Do
vậy, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Xuất phát
là một luật chung điều chỉnh quan hệ dân sự, Điều 385 Bộ luật Dân sự năm
nhân với thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu
giao dịch, mua bán hàng hóa khi chọn Luật Thương mại năm 2005 là luật
điều chỉnh hợp đồng thương mại. Bởi hoạt động thương mại là hoạt động của
các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác. Trong đó
thương nhân được xem là các chủ thể hoạt động một cách thường xuyên trong
các hoạt động có liên quan đến thương mại. Các chủ thể khác được xem là các
chủ thể hoạt động không thường xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự
khi tham gia các hoạt động thương mại. Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy
định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân
hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng kinh doanh, thương mại có thể
là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Có những quan hệ
trong quan hệ hợp đồng trong kinh doanh, thương mại đòi hỏi các bên đều
phải là thương nhân (Hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý
10
thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại). Bên cạnh đó có những
hợp đồngthương mại chỉ cần ít nhất một bên là thương nhân (hợp đồng mua
bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hoá, hợp đồng môi giới
thương mại).
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng thương mại có thể là hàng hóa (động
sản hoặc bất động sản), dịch vụ. Hoạt động thương mại bao gồm mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi cho nên đối tượng của họp đồng thương mại không chỉ dừng lại
ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả các loại hình dịch vụ và các hoạt động
sinh lợi khác. Đối tượng của hợp đồng thương mại phải không thuộc trường
hợp danh mục hàng hóa bị cấm.
Thứ ba, hợp đồng thương mại có thể xác lập bằng văn bản, bằng lời nói
hoặc hành vi cụ thể. Tuy nhiên đối với những trường hợp bắt buộc bằng văn
thể của các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của hợp
đồng thương mại là nội dung của hợp đồng thương mại là hoạt động thương
mại. Mỗi loại hợp đồng có những quy định nhất định về các điều khoản cơ
bản. Ví dụ như đối với hợp đồng mua bán thì điều khoản cơ bản bao gồm đối
tượng và giá cả. Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa các bên giao kết, tuy
nhiên nội dung của hợp đồng phải tuân theo những quy định của pháp luật
hợp đồng nói chung, được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Loại trừ
những điều khoản của pháp luật có nội dung mang tính bắt buộc, các bên có
thể thỏa thuận với nhau những nội dung khác với nội dung quy định trong
pháp luật. Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng các bên có thể thỏa thuận
hay không thỏa thuận. Các bên cũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng
những điều khoản không có quy định nhưng các bên cảm thấy không cần
thiết. Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, có sự bổ sung bởi phụ lục
hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của
phụ lục không được trái với hợp đồng. Trường hợp phụ lục có điều khoản trái
với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu
lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu các bên chấp nhận phụ lục hợp
12
đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản
đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.
Thứ bảy, nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thương mại là Bộ luật Dân sự
năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, các luật chuyên ngành có liên quan
và các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam có liên quan, tham gia.
Trong đó Bộ luật Dân sự năm 2015 đóng vai trò là luật chung. Những
vấn đề nào Luật Thương mại năm 2005 và các luật chuyên ngành không quy
định thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015.
Luật Thương mại năm 2005 là nguồn luật điều chỉnh chủ yếu đối với
công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành
lập, hoạt động, giải thể công ty; (iii) Các tranh chấp liên quan đến việc mua
bán cổ phiếu, trái phiếu; (iv) Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của
pháp luật. Tuy nhiên do các quy định về hợp đồng kinh tế ở giai đoạn này còn
chưa đầy đủ, dẫn đến việc áp dụng pháp luật vào giải quyết các tranh chấp về
hợp đồng kinh tế còn nhiều hạn chế.
Luật Thương mại năm 1997 ra đời đã đưa ra khái niệm rõ ràng hơn về
tranh chấp trong hợp đồng thương mại. Điều 238 Luật Thương mại năm 1997
quy định tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại. Như
vậy, Luật Thương mại năm 1997 đã xác định tranh chấp thương mại và tranh
chấp hợp đồng thương mại về bản chất là một, do tranh chấp trong thương
mại luôn đi kèm với một hợp đồng thương mại nào đó. Đồng thời, theo Luật
Thương mại 1997 thì khái niệm về tranh chấp trong hợp đồng thương mại đã
được xác định cụ thể, là những tranh chấp phát sinh do không thực hiện, hoặc
thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại.
Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 cũng không trực tiếp đưa ra
khái niệm về tranh chấp hợp đồng thương mại. Tuy nhiên Pháp lệnh này đã
bổ sung chi tiết hơn quy định về hoạt động thương mại so với Luật Thương
mại năm 1997. Cụ thể là Pháp lệnh quy định hoạt động thương mại là việc
thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh
bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý
14
thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; lixăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển
hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường
bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật5. Như vậy,
tranh chấp hợp đồng thương mại theo Pháp lệnh này sẽ bao gồm các tranh
chấp về hợp đồng trong các hoạt động thương mại nêu trên.
quyết của Tòa án, gồm có:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận,
bao gồm: (i) Mua bán hàng hóa; (ii) Cung ứng dịch vụ; (iii) Phân phối; (iv)
Đại diện, đại lí; (v) Ký gửi; (vi) Thuê, cho thuê, thuê mua; (vii) Xây dựng;
(viii) Tư vấn, kỹ thuật; (ix) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường
sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; (x) Vận chuyển hàng hóa, hành khách
bằng đường hàng không, đường biển; (xi) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và
giấy tờ có giá khác; (xii) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; (xiii) Bảo hiểm; (xiv)
Thăm dò, khai thác.
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy
định.
Như vậy, dựa trên Luật Tố tụng dân sự thì khái niệm tranh chấp hợp
đồng thương mại là các tranh chấp giữa các chủ thể trong lĩnh vực thương mại
được đề cập đến ở trên. Mặc dù không diễn đạt cụ thể nhưng về bản chất quan
điểm về tranh chấp hợp đồng thương mại trong Luật Tố tụng dân sự năm
2015 có sự tiếp cận với quan điểm về tranh chấp trong hợp đồng thương mại
ở Luật Thương mại năm 2005 và Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm tranh chấp hợp đồng thương mại là
những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ do không thực hiện hoặc
thực hiện chưa đúng hợp đồng thương mại giữa các chủ thể tham gia hoạt
động thương mại hoặc có liên quan đến hoạt động thương mại.
1.1.2.2. Đặc điểm
16