BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VÕ MINH SỬ
PHÂN TÍCH HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VỰC NÔNG THÔN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VÕ MINH SỬ
PHÂN TÍCH HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VỰC NÔNG THÔN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số
: 8340403
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
RESEARCH SUMMARY
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1
1.1. Đặt vấn đề
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
3
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
1.5. Phương pháp nghiên cứu
4
1.6. Cấu trúc dự kiến của luận văn
4
27
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
28
3.1. Mô hình lý thuyết
28
3.2. Khung phân tích
29
3.3. Địa bàn nghiên cứu
30
3.3.1. Đặc điểm địa bàn và dân cư huyện Trần Văn Thời
30
3.3.2. Tình hình quản lý CTRSH khu vực nông thôn tỉnh Cà Mau và huyện
Trần Văn Thời
31
3.4. Phương pháp chọn mẫu khảo sát và xử lý dữ liệu
4.2.2. Các HTX thu gom và xử lý rác thải
39
4.2.3. Về phía người dân
40
4.3. Phân tích nhận thức và hành vi tham gia quản lý CTRSH của hộ gia đình nông
thôn huyện Trần Văn Thời
41
4.3.1. Thông tin chung
41
4.3.2. Nhận thức của hộ gia đình về vấn đề rác thải và môi trường
46
4.3.3. Hành vi quản lý CTRSH của hộ gia đình
53
4.3.4. Đánh giá của hộ gia đình về hoạt động thu gom rác của tổ, đội quản lý
môi trường, HTX (có đóng phí hằng tháng)
57
4.4.4. Về kinh phí hoạt động
67
4.4.5. Về khó khăn mà đơn vị gặp phải khi tham gia vào hoạt động quản lý
chất thải rắn sinh hoạt
67
4.4.6. Về dự định của đơn vị thu gom rác thải trong tương lai
69
4.4.7. Yêu cầu của đơn vị đối với người dân và chính quyền
70
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
73
5.1. Kết luận
73
5.2. Khuyến nghị
74
Hợp tác xã
VSMT
Vệ sinh môi trường
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Những mức độ tham gia của người dân theo Pierre André
7
Hình 2.2. Thang đo về sự tham gia của người dân theo Wilcox
8
Hình 2.3. Những mức độ tham gia của người dân theo Dower
9
Hình 4.3. Phân chia các loại rác thải theo sự hiểu biết của hộ gia đình
48
Hình 4.4. Nhận thức của hộ gia đình về rác thải gây ra ô nhiễm môi trường
50
Hình 4.5. Loại rác sinh hoạt thải ra của hộ gia đình
54
Hình 4.6. Đánh giá của hộ gia đình về hoạt động của các đơn vị thu gom rác
57
Hình 4.7. Yêu cầu của hộ gia đình đối với sự hỗ trợ từ chính quyền
62
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Lượng phát sinh CTR ở một số nước
14
Bảng 2.2. Tổng hợp hoạt động các mô hình dịch vụ quản lý chất thải nông thôn
22
50
Bảng 4.9. Kết quả khảo sát nhận thức về tầm quan trọng của việc xử lý rác thải
51
Bảng 4.10. Kết quả khảo sát nhận thức về trách nhiệm đối với cộng đồng
52
Bảng 4.11. Kết quả khảo sát về lượng rác hộ gia đình thải ra tính theo đầu người 53
Bảng 4.12. Kết quả khảo sát về phương pháp xử lý rác thải của hộ gia đình
54
Bảng 4.13. Kết quả khảo sát hộ gia đình cho là việc các hộ gia đình lân cận nên xử
lý rác thải như thế nào
56
Bảng 4.14. Kết quả khảo sát những khó khăn mà hộ gia đình gặp phải
58
Bảng 4.15. Kết quả khảo sát về dự định của hộ gia đình nếu có một chương trình
mới về quản lý chất thải hiệu quả hơn
59
Bảng 4.16. Kết quả khảo sát về dự định của hộ gia đình nếu có các thùng chứa chất
Bảng 4.25. Kết quả khảo sát về khó khăn đơn vị gặp phải từ phía chính quyền
69
Bảng 4.26. Kết quả khảo sát dự định của đơn vị thu gom rác trong tương lai
70
Bảng 4.27. Kết quả khảo sát về dự định của đơn vị thu gom rác tham gia vào
chương trình quản lý CTRSH hiệu quả hơn
70
Bảng 4.28. Kết quả khảo sát yêu cầu của đơn vị thu gom rác đối với người dân 71
Bảng 4.29. Kết quả khảo sát yêu cầu đơn vị thu gom rác đối với chính quyền
71
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước,“đã dẫn tới nhiều hệ quả
kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và môi trường, trong đó có khu vực nông thôn.
Vấn đề đặt ra là phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, tình trạng ô
nhiễm môi trường vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi; một trong những vấn đề của
môi trường là quá trình quản lý chất thải rắn còn chưa hiệu quả và thiếu tính bền
vững. Hành vi của cộng đồng và các bên liên quan là một trong những chiều cạnh
của quản lý chất thải rắn. Để đảm bảo tính bền vững trong quá trình quản lý chất
thải rắn, bên cạnh những vấn đề kinh tế - tài chính, kỹ thuật, thể chế - chính sách,
thì yếu tố “Hành vi của người dân” cũng cần được phân tích và đánh giá, từ đó có
những giải pháp hiệu quả cho quá trình quản lý chất thải rắn nói chung.”
1.1. Đặt vấn đề
Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững. Đó là việc
vừa phát triển kinh tế song song với bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, tình
trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi và khu vực nông thôn
cũng không ngoại lệ. Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế đất nước, sự
tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế tỉnh Cà Mau, kinh tế huyện Trần Văn Thời cũng
đang trong giai đoạn chuyển mình để phát triển, trong đó có khu vực nông thôn. Sự
phát triển đó đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, theo báo cáo của Ủy ban
nhân dân huyện (UBND) bình quân hằng tháng khu vực nông thôn huyện Trần Văn
Thời thải ra trên 1.700 tấn rác thải, tỷ lệ thu gom mới chỉ đạt gần 40%. Mặt khác,
dân cư vùng nông thôn có thói quen tự xử lý rác thải theo hình thức phân tán ở cấp
độ hộ gia đình, xử lý bằng cách chôn lấp kết hợp với đốt. Từ nhiều năm về trước,
khi dân cư còn thưa thớt thì cách thức xử lý chất thải sinh hoạt như thế không gây ra
vấn nạn ô nhiễm về môi trường. Nhưng khi mật độ dân số gia tăng, sự hình thành
các thị tứ, các khu dân cư tập trung ở nông thôn, và lượng rác thải ra ngày càng
nhiều thì thu gom và xử lý rác thải trở thành vấn đề cấp thiết ở vùng nông thôn.
Bên cạnh đó,“công tác quản lý về môi trường ở khu vực nông thôn còn đan
xen, thiếu đơn vị đầu mối, nhiều mảng còn bị bỏ ngỏ trong quản lý. Tại Hội nghị
môi trường toàn quốc lần thứ IV (năm 2015) đã chỉ ra một thực tế: Trong những
năm qua, ngay từ cấp Trung ương, công tác quản lý môi trường nông thôn chưa có
đơn vị đầu mối. Nhiệm vụ, chức năng quản lý môi trường nông thôn còn chồng
chéo, mỗi Bộ ngành một mảng. Đơn cử như: đối với công tác quản lý chất thải rắn
(CTR), Bộ Xây dựng được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước nhưng hiện chỉ tập
trung vào công tác quản lý CTR khu vực đô thị và khu vực tập trung dân cư đông.
Còn tại khu vực nông thôn, công tác này lại được giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn (NN&PTNT); đối với chất thải nguy hại (chất thải từ hoạt động
nông nghiệp, làng nghề) thì Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) là đơn vị
được giao nhiệm vụ. Tuy nhiên, chất thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn hầu như
Vấn đề này hiện rất đáng báo động, do mọi người coi việc giữ gìn bảo vệ môi
3
trường không phải là việc của cá nhân mình mà là việc của xã hội, họ có tư tưởng
“sạch riêng, bẩn chung” môi trường phải chịu, thói quen vứt rác bừa bãi, tùy tiện đã
hình thành từ lâu đời và trở thành thói quen khó sửa.
Quản lý CTRSH“ở nông thôn là một vấn đề bức xúc và cần được xử lý ngay
để hạn chế gây ô nhiễm môi trường và tác động đến sức khỏe người dân, đây cũng
là một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Trong những năm qua ở Việt
Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý CTR nhưng chủ yếu tập trung vào CTR
công nghiệp, sinh hoạt ở các đô thị… mà ít có những nghiên cứu về CTRSH ở khu
vực nông thôn. Chính vì thế, việc nghiên cứu phân tích hành vi của người dân trong
công tác quản lý CTRSH ở nông thôn là việc làm cần thiết. Qua đó, giúp đánh giá
sát tình hình thực tế, xác định đúng vai trò của người dân trong công tác này, đồng
thời chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân, đề xuất
các giải pháp cải thiện tình hình, hoàn thiện chính sách của chính quyền. Đây là đề
tài có tính khả thi và có ý nghĩa ứng dụng trong thực tiễn; góp phần bảo vệ môi
trường, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của địa phương; đồng thời có thể
nhân rộng, ứng dụng cho các địa phương khác.”
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Phân tích hành vi của người dân trong
hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn
Thời, tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý CTRSH khu vực
nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Đề xuất, khuyến nghị giải pháp phát huy sự tham gia của người dân trong hoạt
động quản lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
cứu; đối tượng, phạm vị nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu.
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài, cơ sở lý thuyết của
đề tài, tổng quan các nghiên cứu trước đây và rút ra bài học kinh nghiệm.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày mô hình lý thuyết, khung phân tích, quy trình nghiên
cứu cụ thể; cách chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu.
5
Chương 4. Kết quả và thảo luận
Chương“này trình bày kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích, thảo
luận đánh giá kết quả nhằm phân tích hành vi của người dân trong công tác quản lý
CTRSH ở khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Chương 5. Kết luận và các khuyến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các khuyến nghị giúp phát huy sự tham
gia của người dân trong công tác quản lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần
Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Lý thuyết về sự tham gia
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự tham gia của người dân,“tùy thuộc vào
lĩnh vực, góc độ tiếp cận của vấn đề. Theo World Bank (2005), trích bởi Bàn Cao
Sơn (2016) thì tham gia là quá trình trong đó các nhóm liên quan tác động và chia
sẻ giám sát đối với hoạt động phát triển, các quyết định và các nguồn gây ảnh
(5)“Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decision-making):
Người dân chủ động tham gia vào quá trình phân tích và xây dựng kế hoạch, lúc
này họ tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định tại địa phương.”
(6)“Tham gia tự nguyện (Self-mobilization): Người dân tự mình thực hiện
ngay từ đầu tất cả các công việc, từ việc lên ý tưởng, xây dựng kế hoạch và đánh giá
các hoạt động, việc này được thực hiện mà không có sự hỗ trợ hay định hướng từ
bên ngoài.”
Tham gia tự nguyện
Tham gia trong quá trình ra quyết định
Tham gia trong việc thực hiện
Tham gia như nhà tư vấn
Tham gia thông qua
việc cung cấp thông tin
Tham gia thụ động
“Hình 2.1. Những mức độ tham gia của người dân theo Pierre André.”
“Nguồn: Tác giả tự vẽ.”
Hay một quan điểm khác thể hiện mức độ tham gia sâu hơn của người dân:
theo Heller, Price, Reinharz, và Wandersman (1984) trích bởi Võ Thanh Duy
(2014) thì“sự tham gia của người dân được định nghĩa là một quá trình mà những cá
8
nhân được tham gia trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến thể chế, các
chương trình và môi trường có tác động đến đời sống người dân. Hoặc Sherry R.
Arnstein (1969) trích bởi Võ Thanh Diệu (2017) lại chú trọng đến việc phân chia
các mức độ tham gia của người dân thông qua việc đưa ra thang đo 08 mức độ
(Vancouver Community Network, 2014); thang đo này đã được David Wilcox mô
tả như sau:”
nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân nhưng thông tin thường chỉ mang tính
một chiều mà không có phản hồi.”
(4)“Tham vấn: Đây là bước tiến hành khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc họp
khu dân cư để tham khảo ý kiến cộng đồng; nhưng thường mang tính hình thức.”
9
(5)“Động viên: Tiến hành bầu ra các thành viên xứng đáng vào ủy ban.”
(6)“Hợp tác: Thực hiện việc dàn xếp để nhằm phân phối lại quyền lực giữa
người dân và nhà cầm quyền; cả hai bên đều phải có trách nhiệm trong việc xây
dựng kế hoạch và ra quyết định.”
(7)“Ủy quyền: Những người dân lúc này nắm giữ đa số các vị trí trong ủy ban
và có quyền trong việc ra các quyết định. Giai đoạn này, quần chúng đã có thể chịu
trách nhiệm.”
(8) Người quản lý: Đến giai đoạn này, cộng đồng đã có thể tự mình thực hiện
tất cả công việc xây dựng kế hoạch, hoạch định các chính sách và quản lý các
chương trình, dự án.
Hoặc theo Dower (1996), trích bởi Nguyễn Nguyệt Huế (2015) thì“sự tham
gia là quá trình vận động gồm nhiều mức độ tiếp cận khác nhau của cộng đồng;
mức độ càng cao thì vai trò, trách nhiệm của cộng đồng càng được đòi hỏi nhiều
hơn; được chia ra thành 05 cấp độ từ thấp đến cao, như sau:”
Trao quyền
Hợp tác
Tham gia
Tư vấn
Thông tin
“
chính sách, giải pháp nhằm giải quyết vấn đề. Người bên ngoài, ở cấp độ này chỉ có
vai trò xúc tác, hỗ trợ để tăng năng lực của cộng đồng.”
2.1.2. Chất thải rắn
* Chất thải rắn
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày
24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì “Chất thải rắn là chất
thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”.
* Chất thải rắn sinh hoạt
11
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày
24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì “Chất thải rắn sinh
hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày
của con người”.
* Tác hại của CTRSH đối với môi trường, sức khỏe của cộng đồng
Rác thải một khi“được thải vào môi trường sẽ gây ra sự ô nhiễm không khí,
nước, đất. Bên cạnh đó, rác còn làm mất vẽ mỹ quan môi trường, mất vệ sinh công
cộng; rác thải còn là nơi cư trú, phát triển của các loài gây bệnh trên người, vật
nuôi. Mức độ tác hại của rác thải đến môi trường ít hay nhiều sẽ phụ thuộc vào nền
kinh tế của từng quốc gia, khả năng thu gom, xử lý rác thải, sự hiểu biết và khả
năng, trình độ nhận thức của người dân.”
Tác hại đối với“môi trường không khí: Rác thải của các hộ gia đình thải ra chủ
yếu là rác thải thực phẩm, có thành phần chính là chất hữu cơ, khi các thành phần
hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó
chịu cho con người. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S,
NH3, CH4, SO2, CO2.”
Tác hại đối với môi trường nước: Theo thói quen nhiều người thường đổ rác
muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, chuột truyền bệnh dịch hạch, xoắn trùng
ruồi truyền bệnh sốt vàng da, gián truyền bệnh đường tiêu hoá,...”
* Quản lý chất thải
Theo quy định tại Khoản 15, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường thì “Quản lý
chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận
chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải”. Quản lý chất thải là làm sao để các
chất có thể gây ô nhiễm môi trường không lan truyền ra khí quyển, thuỷ quyển,
thạch quyển.
Hoạt động“quản lý chất thải mang tính hệ thống, trong đó mỗi quá trình là một
tiểu hệ thống (phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế và tái sử dụng chất
thải); để đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động bền vững, các tiểu hệ thống này phải
có mối liên hệ tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau. Đối với các nước đang phát triển,
công tác quản lý chất thải gặp nhiều khó khăn hơn các nước phát triển, nguyên nhân
chủ yếu là do các yếu tố về thể chế, việc xây dựng và thực hiện các chính sách, do
mối quan hệ giữa các bên có liên quan trong hoạt động quản lý, sự tham gia của
13
người dân; hay những khó khăn về ngân sách, tài chính, về công nghệ, trang thiết bị
lạc hậu.”
Đối với huyện Trần Văn Thời, kinh tế đang phát triển, dân số cũng ngày càng
tăng cao,“từ đó đã kéo theo các vấn đề phát sinh về ô nhiễm môi trường, đòi hỏi
chính quyền cần phải có những giải pháp từ trên xuống dưới, kết hợp với những giải
pháp mang tính cộng đồng từ dưới lên trên. Những giải pháp từ phía cộng đồng
nhấn mạnh vai trò, sự tham gia của các bên liên quan, trong đó các hộ gia đình, dù
với tư cách cá nhân mỗi người hay với tư cách là tập thể thì cũng đều quan trọng
trong việc thải rác, phân loại, thu gom và xử lý rác thải. Đồng thời, giữa các bên
liên quan trong hoạt động quản lý rác thải cũng tồn tại mối quan hệ tương tác. Mức
độ tham gia của các tổ chức dựa vào cộng đồng chi phối, tác động đến sự tham gia