CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC
LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC PHÒNG
CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
Cơ sở lý luận
Ở nước ngoài
Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Phụ
nữ, Hà Nội, 1962.
C.Mác và Ph. Ăngghen, Gia đình thần thánh, Nxb Sự
thật, Hà Nội, Toàn tập, tập 2, 1983.
Ph.Ăngghen, Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu
và của Nhà nước, Nxb Sự thật, Toàn tập, tập 21, 1995.
C.Mác và Ph.Ăngghen luôn đánh giá cao vai trò của
người phụ nữ trong đời sống xã hội. Trong đó, nhấn mạnh
không thể cột chặt người phụ nữ vào công việc gia đình, phải
đưa họ tham gia vào nền sản xuất xã hội; xã hội cần phải giúp
phụ nữ giảm nhẹ gánh nặng công việc gia đình, lao động gia
đình phải trở thành bộ phận của lao động xã hội. Hơn nữa,
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng phải đồng thời xây
dựng hôn nhân và gia đình tiến bộ, hôn nhân tự nguyện dựa
trên cơ sở tình yêu chân chính chứ không bị lợi ích kinh tế chi
phối. Trong những tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen hầu
hết đều chỉ rõ rằng để giải phóng xã hội đồng thời phải giải
phóng phụ nữ, tức là giải phóng phụ nữ gắn liền với giải
phóng giai cấp và giải phóng xã hội. Quan điểm của C.Mác và
Ph.Ăngghen thấm đượm bản chất nhân văn, nhân đạo và đặt
nền móng cho những bước phát triển về hệ tư tưởng của nhiều
học giả ở nhiều quốc gia trên thế giới về giải phóng phụ nữ,
Trần Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh, Bình đẳng giới ở
Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.
Đặng Ánh Tuyết, Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về giải phóng phụ nữ và kết quả thực hiện bình đẳng giới ở
Việt Nam, Tạp chí lý luận chính trị số 2/2007, Tr 56-60, 2007.
Lê Duẩn, Vai trò và nhiệm vụ của người phụ nữ Việt
Nam trong giai đoạn mới của cách mạng, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1974.
Dương Thị Duyên, Liên hợp quốc về vấn đề bình đẳng
nam nữ, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 3/ 1996, 1996.
Nguyễn Linh Khiếu, Nghiên cứu phụ nữ giới và gia
đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
Nguyễn Thị Mão, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng
phụ nữ và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, Tạp chí nghiên cứu lý
luận số 9/1996, Tr 11-12, 1996.
Hồ Chí Minh, Nam nữ bình quyền, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, Toàn tập, tập 6, 1995.
Nguyễn Hữu Minh, Bạo lực chống đối với vợ ở Việt
Nam trong những năm gần đây, Tạp chí khoa học về phụ nữ,
số 3/2006, Tr 23, 2006.
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Luật bình đẳng giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh, Bạo lực gia đình một sự sai lệch giá trị, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007.
Lê Thi, Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt
Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2006.
Những tác phẩm, công trình nghiên cứu trên đã kế thừa
- Gia đình
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những
người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội,
gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường
gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”. Định nghĩa này chưa tính
đến các hình thức gia đình mới đang phát sinh trong các xã hội
hiện đại ngày nay khi ngày càng có nhiều hình thức và cấu trúc
gia đình khác nhau xuất hiện.
Dưới góc độ xã hội, gia đình được coi là tế bào của xã
hội. Không giống bất cứ một nhóm xã hội nào khác, gia đình
có sự đan xen các yếu tố tâm lý, sinh học, kinh tế, văn hóa
thông qua những mối liên hệ cơ bản dựa vào hôn nhân, huyết
thống, nuôi dưỡng.
Dưới góc độ pháp lý thì “Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa
vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật hôn nhân và gia
đình” (Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Quy định này xác định khá rõ các thành viên trong gia đình
ngoài quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng thì còn có
các ràng buộc về nghĩa vụ và trách nhiệm giữa các thành viên
trong gia đình với nhau.
Trên thế giới tồn tại nhiều nền văn hóa khác nhau, nhiều
lối sống khác nhau nên cũng có nhiều hình thức và cấu trúc
gia đình khác. Khó có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất,
bao quát nhất về gia đình. Tuy nhiên, hầu hết các nhà khoa
học trên thế giới và trong nước đều thống nhất gia đình là một
thiết chế xã hội đặc thù, một hình ảnh thu nhỏ cơ bản nhất của
bạo lực trong gia đình là một số hành vi tội phạm thực hiện
giữa những người có quan hệ với nhau. Các hình thức tội
phạm bao gồm hành hung, doạ nạt, rình rập, phá hoại tài sản
mang tính tội phạm, câu thúc bất hợp pháp, xâm nhập mang
tính tội phạm, và bất cứ tội hình sự nào khác. Các hành vi
diễn ra giữa những con người có liên hệ với nhau như vợ
chồng trong hiện tại hay quá khứ, là cha mẹ chung của cùng
một đứa trẻ, cha mẹ và con cái, cha mẹ kế và con kế hoặc
ngay cả những người ngoài hiện đang hoặc đã sống chung
trong một gia đình.
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là
“hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả
năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các
thành viên khác trong gia đình” (Điều 1 Luật Phòng, chống
bạo lực gia đình năm 2007). Gia đình là tế bào của xã hội, là
hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia đình có thể coi
như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng
thức khác nhau bao gồm:
Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập
thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng
của họ.
Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi
làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên
gia đình.
Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền
lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền tự do lao động,
tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, đất đai…).
Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính
Cộng đồng địa lý bao gồm những người dân cư trú trong
cùng một địa bàn có thể có chung các đặc điểm văn hoá xã
hội và có thể có mối quan hệ ràng buộc với nhau. Họ cùng
được áp dụng chính sách chung. Ví dụ: Cộng đồng địa lý:
Cộng đồng người Hoa, người Chăm, cộng đồng dân cư tại xã
Lai Vu, thuộc Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú
gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung. Họ
liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay
hiệp hội có tổ chức. Như vậy, cộng đồng có thể ở quy mô các
cấp khác nhau từ lớn đến nhỏ, từ chung chung đến cụ thể. Ví
dụ: hội đồng hương tỉnh Quảng Ngãi; cộng đồng học sinh,
sinh viên Việt Nam đang du học tại các nước; cộng đồng
những công nhân nhập cư tại khu phố A…
Các yếu tố cấu thành một cộng đồng bao gồm con
người, môi trường và mối tương tác. Trong một môi trường,
con người có những hoạt động tương tác, chia sẻ với nhau.
Con người gồm những đặc điểm về nhân chủng học như họ
tộc, dân tộc, ngôn ngữ... Môi trường gồm cả môi trường địa
lý, môi trường trao đổi thông tin, liên lạc,… là nơi để con
người có thể tương tác qua lại lẫn nhau. Các tương tác của
con người trong cộng đồng với nhau và với môi trường của
mình để chia sẻ những quan tâm, lợi ích chung, bao gồm
nguồn sống, thu nhập, nghề nghiệp, sở thích…
- Phụ nữ
Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một
đình, cưỡng bức phụ nữ làm nghề mãi dâm, lạm dụng tình dục
ở trẻ em, xúc phạm phụ nữ ở nơi làm việc và nhiều hình thức
đối xử thô bạo khác với phụ nữ vượt ra ngoài ranh giới về văn
hóa, tôn giáo và khu vực...
Phải đề cao quyền của tất cả phụ nữ được sống một cuộc
sống không bị đối xử thô bạo, một cuộc sống bình đẳng, phát
triển và hòa bình”.
Trước đây, do quan niệm bạo lực đối với phụ nữ là vấn
đề cá nhân, gia đình nên luật quốc tế không có cơ chế bảo vệ
tích cực và đầy đủ, tuy nhiên các công ước vẫn ghi nhận rất rõ
nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về giới tính.
Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1945, Công ước Giơnevơ năm
1949; Công ước về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế - xã
hội và văn hóa năm 1966; đặc biệt là Công ước về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 nhấn mạnh
sự cần thiết phải xóa bỏ nạn phân biệt đối xử với phụ nữ trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Bất kỳ sự phân biệt, loại
trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính mà có tác dụng
hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ
nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con
người và những tự do cơ bản… bất kể tình trạng hôn nhân,
trên cơ sở bình đẳng nam nữ”. Pháp luật quốc tế đã coi mọi
hình thức bạo lực đối với phụ nữ đều là sự vi phạm nghiêm
trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản của công
dân, thể hiện sự phát triển đáng kể trong tiến trình xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, có những giá trị ràng
buộc về mặt đạo đức và thể hiện sự đồng thuận, quyết tâm của
Trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói
giảm nghèo năm 2002 đã nhìn nhận là bất bình đẳng giới và
bạo lực gia đình là những cản trở đối với sự phát triển. Tuyên
bố của Việt Nam trong Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ đưa
ra mục tiêu nhằm giảm khả năng dễ bị tổn thương của phụ nữ
đối với bạo lực gia đình; hay trong Chiến lược phát triển gia
đình Việt Nam cũng đưa ra mục tiêu giảm mạnh bạo lực gia
đình bình quân hàng năm từ 10-15%... Có thể nói, Nhà nước
ta rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ con người, vì con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, đặc biệt sự
quan tâm đánh giá cao vai trò của người phụ nữ. Tuy nhiên,
thực tế tình trạng bạo lực trong gia đình lại ngày một gia tăng
và đáng báo động cả về số vụ lẫn mức độ nghiêm trọng, bất
kể khu vực, thành phần, lứa tuổi hay địa vị xã hội. Vậy đâu là
sự bất cập giữa lý luận và thực tiễn?
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có văn bản luật hay
chính sách hoàn chỉnh để có thể giải quyết vấn đề bạo lực gia
đình. Hiến pháp năm 2013 đã đưa ra những cơ sở pháp lý cao
nhất để bảo vệ quyền con người ở Việt Nam như tại khoản 1
Điều 20: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm;
không bị tra tấn, bạo lực, truy bức nhục hình hay bất kỳ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm”. Ở mức độ nào đó, Bộ luật Hình sự;
Luật Hôn nhân và gia đình có đề cập tới bạo lực đối với phụ
nữ trong gia đình ở các điều khoản như: Cấm hành hạ hoặc
ngược đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu hoặc người
nuôi dưỡng; nghiêm cấm những hành vi bạo lực trong gia
kín.
Năm 2006, Luật bình đẳng giới được thông qua quy định
vấn đề bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống
và chi tiết về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình.
Tiếp theo là Luật Phòng chống bạo lực gia đình được thông
qua năm 2007 đưa ra những biện pháp bảo vệ để ngăn không
cho bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình đối với các thành
viên và Luật cũng nêu chi tiết một loạt các hành vi bạo lực gia
đình. Luật Phòng chống bạo lực gia đình là một luật dân sự và
bổ sung cho Bộ luật Hình sự và các luật khác đã đề cập những
hình thức bạo lực khác. Để thúc đẩy việc thực hiện Luật bình
đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Chính phủ
đã ban hành một số nghị định, thông tư và kế hoạch hành
động quốc gia nêu rõ vai trò và trách nhiệm đối với việc thực
hiện, theo dõi, báo cáo, điều phối và dự trù kinh phí của các
Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức quần chúng,
cộng đồng và các cá nhân. Mặc dù Việt Nam đã thể hiện sự
cam kết cao trong việc xây dựng luật và các chính sách nhằm
đối phó với bạo lực gia đình, thì vẫn còn tồn tại những khoảng
trống giữa lý thuyết và thực tế thực hiện ở tất cả các cấp. Kiến
thức và nhận thức về bạo lực gia đình của người dân và những
người có trách nhiệm vẫn còn hạn chế. Yếu tố chính góp phần
vào tình hình này là do bạo lực gia đình vẫn bị coi là một vấn
đề riêng tư mà xã hội không nên can thiệp và bạo lực được
chấp nhận như một hành vi bình thường.
Luật phòng chống Bạo lực gia đình (PCBLGĐ) là cơ sở
không ít gia đình, của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế.
BLGĐ xảy ra ở các nước phát triển và các nước đang phát triển,
phương Đông lẫn phương Tây và ở mọi tầng lớp xã hội. Bạo
lực gia đình cũng không phải chỉ mới xuất hiện trong xã hội
hiện đại (hay là sản phẩm của xã hội hiện đại) mà nó tồn tại
trong lịch sử xã hội từ hàng nghìn năm trước, nhưng chỉ được
coi là các mối quan hệ có tính chất riêng tư giữa cá nhân, các
thành viên trong gia đình, dòng họ. Vài năm gần đây, do tình
trạng này ngày một gia tăng và hậu quả để lại cho xã hội là rất
lớn, đặc biệt đối với nạn nhân trực tiếp là phụ nữ và trẻ em.
Điều này đã khiến các nhà khoa học, các nhà hoạch định, tư vấn
chính sách nhìn nhận, chú ý và nghiên cứu một cách nghiêm
túc.
- Những vấn đề cơ bản về công tác giáo dục phòng
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
- Các hành vi bạo lực gia đình
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống
bạo lực gia đình 2007 thì các hành vi bạo lực gia đình bao
gồm:
Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác
xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự,
nhân phẩm;
Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm
lý gây hậu quả nghiêm trọng;
Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ
gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ
và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;