CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ
TRƯỜNG VỚI CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục đạo đức cho người học là một đề tài nghiên cứu
phong phú và hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã
hội và càng ngày họ càng phát hiện ra vai trò to lớn của hoạt
động giáo dục đạo đức đặc biệt là việc tổ chức hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp trong việc hình thành và phát triển nhân
cách toàn diện của con người nói chung cũng như vai trò bổ trợ
cho các môn học cơ bản nói riêng chính vì vậy hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp là một phần quan trọng trong chương
trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới.
J. A. Comenxki: “Ông tổ của nền sư phạm cận đại” đã có
nhiều đóng góp lớn cho nền giáo dục thế giới. Ông là người
phản đối lối dạy học “giam hãm trong bốn bức tường” và đề
cao học tập ngoài không gian lớp học: “cần phải gắng sức dạy
làm sao cho con người giành lấy kiến thức không phải từ sách
vở mà từ bầu trời và trái đất, từ cây sồi và cây dẻ, nghĩa là
làm cho họ hiểu biết và nghiên cứu về bản thân sự vật chứ
không phải chỉ là những quan sát và bằng chứng xa lạ về các
sự vật”. Học với một tâm trạng thoải mái, tự nguyện thì người
học mới có thể thu được kết quả tốt nhất. [9; Tr. 21]
C. Mác (1818 - 1883) F.Anghen (1820 - 1895) đã có
nhiều đóng góp lớn cho nền giáo dục hiện đại: cung cấp cho
Đạo đức nghề nghiệp là một nhánh trong hệ thống đạo đức
xã hội, là một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá. Lương tâm
nghề nghiệp là sự tự phán xét, tự ý thức về trách nhiệm đạo đức
nghề nghiệp. Nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và lương tâm nghề
nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau. Đánh mất ý thức về nghĩa
vụ đạo đức là đánh mất ý thức về bản thân mình, làm mất ý
nghĩa làm người cũng như giá trị động lực của lao động. Do vậy,
giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là để hình thành nhân cách
nghề nghiệp của mỗi chủ thể; hướng con người vươn tới những
giá trị chân, thiện, mỹ trong hoạt động nghề nghiệp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số ít những lãnh tụ
cách mạng bàn nhiều nhất về đạo đức. Có thể nói, sau đạo đức
của người cán bộ cách mạng nói chung, đạo đức ngành y,
ngành dược được Bác Hồ bàn nhiều nhất. Bác đã nhiều lần
gửi thư, trực tiếp gặp, thăm các cơ sở y tế để bày tỏ quan điểm
của Đảng và Chính phủ về phẩm chất người thầy thuốc. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã tặng cán bộ, nhân viên ngành y danh
hiệu cao quý: “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Hầu như mỗi cán
lần có dịp tiếp xúc với ngành y, ngành dược điều đầu tiên Bác
Hồ nhắc tới vẫn là “thầy thuốc như mẹ hiền”. Đây chính là
yêu cầu Bác đặt ra trong phương châm xử thế, phương châm
hành động và phục vụ của cán bộ và nhân viên ngành y tế đối
với người bệnh.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số nhà giáo dục nghiên
cứu về đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên:
Thạc sĩ Nguyễn Tiến Dũng (năm 2005) đã nghiên cứu về
phòng chống tệ nạn xã hội trong các trường chuyên nghiệp ở thị
xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 2002 Tiến sỹ triết học Lê Thị Hoài Thanh trong
luận án Tiến sỹ đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa truyền
thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt
Nam hiện nay.
Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số B94-38-32, NXB
Giáo dục, 1995; tác giả Mạc Văn Trang đã làm nổi bật đặc
điểm lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay.
Năm 1999 PGS,TS Trần Sỹ Phán đã nghiên cứu về giáo
dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả Kim Thanh Hùng đã nghiên cứu về Đạo đức của
người cán bộ y tế trong quá trình phát triến kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay
Tác giả Lê Thanh Thuỷ - Vấn đề y đức của cán bộ y tế
trong giai đoạn hiện nay, qua thực tế tại tỉnh Nam Định.
Tư tưởng triết học về con người qua các tác phẩm y học
của Hải Thượng Lãn Ông - Phạm Công Nhất.
Phát huy vai trò của trí thức ngành y tế Việt Nam trong
công cuộc đổi mới - Nguyễn Thị Hoà Bình.
Vấn đề giáo dục y đức cho sinh viên ngành y ở thành
phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Hoàng Thị Kim Oanh.
Trang bị lý tưởng đạo đức nghề Y của Nguyền Hiền
Lương, báo nhân dân số 19976, ngày 11/5/2010.
cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con
người. [9,Tr.32-33]
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ
với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành
phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của
một cá nhân đã được xã hội hóa. Đạo đức được biểu hiện ở
cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải
quyết hợp lí, có hiệu quả những mâu thuẫn.
Từ những khái niệm trên cho thấy đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan
điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã
hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ
đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của minh cho phù
hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã
hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá
nhân và xã hội.
Đặc điểm
Tính thời đại của đạo đức: Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội do tồn tại xã hội quy định, tồn tại xã hội luôn vận
động phát triển nên những quan niệm đạo đức cũng luôn được
bổ sung, phát triển.
Tính dân tộc của đạo đức: Các dân tộc có nền văn hóa
khác nhau, hình thành những quan niệm đạo đức khác nhau
tạo thành bản sắc riêng của mỗi dân tộc.
Tính giai cấp của đạo đức: Trong xã hội có đối kháng
giai cấp, đạo đức cũng mang tính giai cấp
Tính riêng biệt của đạo đức nghề nghiệp: Mỗi một nghề
có đặc thù riêng biệt vì vậy đạo đức của mỗi nghề cũng khác
nhũng nét riêng biệt thể hiện cá nhân ấy là một cá thể độc lập
trong cộng đồng.
Đạo đức nghề nghiệp: là những nguyên tắc, chuẩn mực
được cố định hóa nhằm điều tiết những hành vi của con người
trong các quan hệ nghề nghiệp (Quy định về ĐĐNN của Hiệp
hội Tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (ACA Code of Ethics,
2005)).
Quan hệ giữa đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội và đạo
đức nghề nghiệp là quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Đạo
đức cá nhân, đạo đức nghề nghiệp là cái riêng đa dạng phong
phú, đạo đức xã hội là cái chung, mang tính khái quát, việc
nhận thức mối quan hệ giữa đạo đức cá nhân, đạo đức nghề
nghiệp và đạo đức xã hội là yêu cầu đặt ra với chúng ta hiện
nay.
- Khái niệm đạo đức nghề nghiệp
Trong xã hội làm bất cứ nghề gì cũng cần phải có đạo
đức, người ta gọi đó là đạo đức nghề nghiệp. Có thể hiểu đạo
đức nghề nghiệp là hệ thống các chuẩn mực đạo đức phản ánh
những yêu cầu đòi hỏi của xã hội, của bản thân nghề nghiệp
đối với người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó; là yếu
tố cơ bản giúp họ có nhận thức, thái độ, hành vi đúng đắn
trong nghề nghiệp để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
những nguyên tắc, chuẩn mực được cố định hóa nhằm điều
tiết những hành vi của con người trong các quan hệ nghề
nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp khác với đạo đức nói chung.
Nếu đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao
gồm những nguyên lý (nguyên tắc), chuẩn mực do xã hội đặt
ra nhằm điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với
độc đáo để thực hiện lý tưởng cao cả là chữa bệnh cứu người
và chăm sóc sức khỏe cho mọi người.
- Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường
Cao đẳng
- Giáo dục đạo đức
a)Khái niệm giáo dục đạo đức
Theo giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Giáo dục
đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những
đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi
hỏi bên trong bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của
người được giáo dục”.[27, tr.128]
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới học sinh sinh
viên của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho
học sinh sinh viên ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối
cùng quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi
đạo đức trong đời sống xã hội. Song giáo dục trong nhà
trường giữ vai trò chủ đạo định hướng, “giáo dục đạo đức cho
học sinh sinh viên là bộ phần quan trọng có tính chất nền tảng
của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa”.[28,Tr.9]
Ngày nay ở nước ta, giáo dục đạo đức cho học sinh sinh
viên là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất
lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh
sinh viên có tinh thần yêu nước, yêu nghề, thấm nhuần lý
tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ
chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết
tôn trọng pháp luật.
trong tập thể và ngoài xã hội; giáo dục ý thức về nghĩa vụ lao
động và bảo vệ tổ quốc [9,Tr.12].
Giáo dục tình cảm đạo đức: Là khơi dậy ở người được
giáo dục những rung động, những cảm xúc đối với hiện thực
xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng và có thái độ đúng đắn với
các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể.
Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Giáo dục hành vi
thói quen đạo đức là tổ chức cho người được giáo dục lặp đi
lặp lại nhiều lần những hoạt đông đạo đức trong học tập, trong
sinh hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo được những hành vi
đạo đức đúng đắn và từ đó có thói quen đạo đức bền vững,
phù hợp với các chuẩn mực xã hội.
d)Con đường giáo dục đạo đức
Trong cuốn “Một số vấn đề về giáo dục đạo đức” tác
giả Phạm Khắc Chương đã viết “Giáo dục đạo đức là một bộ
phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành
bằng nhiều phương thức và con đường khác nhau”. Qua việc
dạy các môn học làm con người được giáo dục tự giác chiếm
lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, giúp họ
định hướng đúng những hiện tượng xã hội để lựa chọn cách
thích ứng đúng đắn trong các tình huống đạo đức.
Các môn khoa học xã hội và nhân văn có tiềm năng to
lớn trong việc giáo dục đạo đức cho người học, những kiến
thức trong các môn học này có liên quan đến giá trị, thái độ và
cách cư xử, hành vi trong xã hội: Các môn khoa học tự nhiên
cũng góp phần vào việc giáo dục đạo đức; Các môn nghệ
học, cao đẳng. Sinh viên là lớp người đang trưởng thành, đang
chuẩn bị những hành trang nghề nghiệp cần thiết, chín muồi
về nhân cách, nhân cách đạo đức để phục vụ xã hội. Tuy
ngành học và học vấn có thể khác nhau, nhưng họ là bộ phận
dân cư còn rất trẻ, đại đa số từ 19 đến 24 tuổi, được xã hội
đào tạo theo hệ thống, cơ bản để trở thành những nhà quản lý
xã hội, thành lực lượng sản xuất quan trọng trong tương lai.
Ở lứa tuổi này, con người đang trong quá trình hình
thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách đạo đức. Sự phát
triển, hoàn thiện đó được biểu hiện cả trên hai mặt: mặt sinh
học và mặt xã hội. Mặt sinh học, cơ thể chưa có sự phát triển
hoàn toàn đầy đủ, đòi hỏi nhu cầu cao về chất dinh dưỡng và
đi liền với nhu cầu vật chất ấy là nhu cầu hoạt động như một
nhu cầu tất yếu cần thiết cho quá trình lượng hóa vật chất đã
tiếp nhận. Vì vậy, dễ dàng thấy, sinh viên tham gia vào tất cả
các hoạt động tập thể rất nhiệt tình, thậm chí cả những hoạt
động không phù hợp với bản thân họ. Điều này dẫn đến tình
trạng có một số ít sinh viên hoạt động thiếu ý thức, hoạt động
quậy phá không rõ nguyên nhân, có những biểu hiện lệch lạc
trong định hướng cuộc sống... Chúng ta, dù hiểu đặc điểm,
nguồn gốc của những hành động vô thức đó, nhưng không thể
mặc nhiên phủ nhận hoặc coi nhẹ tác hại của những hiện
tượng chưa tốt, chưa văn hóa ấy của một bộ phận sinh viên.
Rõ ràng đó là những biểu hiện chưa hoàn chỉnh trong nhân
cách đạo đức sinh viên. Chúng ta cần hiểu đúng nguyên nhân
chủ quan và khách quan của những biểu hiện lệch lạc đó trong
sinh viên. Điều đáng bàn là trong những nguyên nhân chủ
quan từ sinh viên có nguyên nhân do đặc điểm tâm sinh lý lứa
Mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp là giúp cho mỗi
cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức ngành nghề mình
lựa chọn, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo,
biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ của xã hội và
phồn vinh của đất nước.
Về nhận thức: Cung cấp cho sinh viên những tri thức cơ
bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp. Giúp sinh viên có nhận thức đúng đắn về bản chất,
nội dung các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của con người
Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với yêu cầu phát triển
của xã hội.
Về thái độ tình cảm: Giúp sinh viên có thái độ đúng đắn
với các quy phạm đạo đức nghề nghiệp, có tình cảm và lòng
biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã hi sinh vì độc lập
tự do của Tổ quốc. Khơi dậy ở họ những rung động, những
cảm xúc với những hiện thực xung quanh, làm cho chúng biết
yêu, biết ghét và có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo
đức, phi đạo đức trong xã hội, có thái độ đúng đắn về hành vi
đạo đức của bản thân.
Về hành vi: Có hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo
đức nghề nghiệp, có quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng,
tích cực làm điều thiện, tránh điều ác làm tổn thương đến vật
chất và tinh thần của cá nhân, xã hội vì mục đích động cơ “ích
kỷ hại nhân”.
c)Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Trong công tác giáo dục Hồ Chí Minh coi trọng cả “đức”
và “tài”, đặt giáo dục đạo đức lên hàng đầu. Người chỉ rõ vai
trò và sức mạnh to lớn của đạo đức, khẳng định đức là cái gốc