CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC
LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Cơ sở lý luận
Những nghiên cứu trên thế giới
Từ xưa đến nay, trong mọi thời đại, đạo đức có vai trò
quan trọng trong xã hội với những chuẩn mực giá trị đúng
đắn, đạo đức là một bộ phận quan trọng trong nền tảng tinh
thần của xã hội. Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị
xã hội qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Đối với nền văn minh phương Đông thì vấn đề giáo dục
đạo đức đã được quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551-479
TCN) nhà giáo dục lớn của Trung Hoa phong kiến đề cao
đường lối đức trị và lễ trị để trị quốc an dân, phát triển đất
nước. Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, các đức tụ cả
ở Nhân. Khổng Tử cho rằng: “Điều mình không muốn thì
đừng làm cho kẻ khác”. Làm người phải biết sửa mình
“Không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp
Lễ, không nói điều không hợp Lễ, không làm việc không hợp
Lễ”. Với những cống hiến ấy, Khổng Tử được coi là giáo dục
lớn của Trung Quốc, được tôn làm “Vạn thế sư biểu”
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN)
cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản tính con người
vốn thiện, nếu tính thiện ấy được nuôi dưỡng, phát triển thì
con người sẽ có hạnh phúc. Theo ông chuẩn mực đạo đức
phải được nhận thức bằng lý tính kết hợp với phương pháp
tâm lí học, giáo dục học có những đóng góp kiệt xuất cả về lý
luận lẫn thực tiễn, bà đã phân tích rất sâu sắc ý nghĩa của lao
động, đặc biệt quan tâm tới vai trò của giáo dục của tổ chức
thanh niên, Đội thiếu niên. Bà là người xây dựng nền móng lý
luận giáo dục tập thể, là một trong những người sáng lập tổ
chức Đoàn, Đội trong nhà trường Xô Viết, bà coi trọng “giáo
dục qua các hình thức hoạt động tập thể như tham quan du
lịch, cắm trại, lao động hè ở các nông lâm trường kết hợp với
sinh hoạt văn hoá nghệ thuật [30].
Các nghiên cứu của các nhà giáo dục trên đều nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh. Để học sinh có thể phát triển toàn diện, theo
các nhà giáo dục, không phải chỉ cần quan tâm đến việc cung
cấp tri thức trong các giờ học trên lớp cho học sinh mà còn
phải coi trọng các hoạt động tập thể, vui chơi giải trí, thể dục
thể thao, văn nghệ của học sinh trong trường.
Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ xa xưa cha ông chúng ta từng dạy: “Tiên
học lễ, hậu học văn”. Nguyễn Trãi cũng đã so sánh khẳng định
“Tài thì kém đức một vài phần” và cho rằng “Người có tài mà
không có đức thì nhũng nhiễu thiên hạ”. Cho nên “sĩ tử đi học
trước hết phải trau dồi đạo đức rồi sau mới học làm văn
chương, giỏi thì giúp đời cứu dân, không giỏi thì sửa mình, sửa
tục” [32].
Trong những năm vừa qua công tác Giáo dục đạo đức
trong các nhà trường phổ thông đã thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà giáo dục và quản lý giáo dục. Do đó nhiều công
trình nghiên cứu đã được công bố, đề cập đến những khía
Cuốn sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Duy Huy
(Nxb Chính trị quốc gia, 2009), có nội dung khá đầy đủ và hệ
thống về lý luận, về thực trạng và một số phương hướng, giải
pháp để xây dựng đạo đức mới trong điều kiện môi trường
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Tác giả cho rằng xây
dựng và phát triển đạo đức mới phải dựa trên cơ sở kế thừa và
phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và chỉ
ra những chuẩn mực cơ bản của đạo đức mới đang được xây
dựng ở nước ta bao gồm: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần
quốc tế trong sáng; tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng; tinh
thần lao động tự giác, sáng tạo; tinh thần nhân đạo và một số
giá trị khác như: bình đẳng, công lý, nhân quyền, yêu thiên
nhiên, sự lương thiện, thận trọng, tự giác, tự trọng [22].
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã có những đóng góp rất quan trọng vào lĩnh vực
nghiên cứu này với các tác giả như: thầy Phạm Minh Hạc, thầy
Hà Thế Ngữ, thầy Nguyễn Đức Minh, thầy Phạm Hoàng Gia,
thầy Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác. Để đi đến các quan
niệm và giải pháp về Giáo dục đạo đức , các tác giả đã lựa chọn
cho mình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra một sự đa dạng,
phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Tác giả Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý
học để khảo sát hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức
trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện Giáo dục đạo đức
trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu
quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục [20].
Tác giả Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá
đức cho học viên tại một số trung tâm giáo dục thường xuyên
Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ QLGD,
ĐHSPHCM [36 ].
Tác giả Hoàng Hồng Trang (2014) triển khai nghiên cứu
“Kết nối nhà trường với gia đình và xã hội nhằm nâng cao
hiệu quả GD đạo đức cho HS THPT tại Hà Nội, Luận án Tiến
sĩ Quản lí giáo dục, ĐH Thái Nguyên [33 ].
Các nghiên cứu nêu trên đã góp phần nâng cao hiệu quả
của công tác giáo dục đạo đức và phối hợp giáo dục đạo đức
cho học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu nhiều công trình
nghiên cứu về phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo
dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh
trung học cơ sở. Chính vì vậy, chúng tôi nhận thấy đây là vấn
đề cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu. Do đó chúng tôi
chọn nghiên cứu đề tài “Phối phối hợp các lực lượng cộng
đồng trong giáo dục đạo đức thông hoa hoạt động trải
nghiệm cho học sinh THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà
Nội” với mong muốn góp phần tạo cơ sở thực tiễn cho việc đề
xuất các biện pháp triển khai hoạt động giáo dục đạo đức ở
các trường THCS trên địa bàn huyện một cách hiệu quả.
Một số khái niệm cơ bản
Phối hợp
Theo từ điển Tiếng Việt (2002), “Phối hợp là cùng hành
động hoặc hoạt động hỗ trợ lẫn nhau” [39].
Theo quan niệm thông thường: Phối hợp là sự liên kết
giữa những người hay nhóm người hoặc những tổ chức lại với
nhau nhằm tiến hành một hoạt động để đạt được mục đích nào
đó.
tại ở một cấp độ trừu tượng hơn” [39].
Theo Fichter cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ
thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng
các mối quan tâm chung. Trong cộng đồng người đó là kế
hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số
điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và
sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng. Theo
Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau: (1) tương quan cá
nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình,
trên cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân;
(2) có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá
nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể; (3)
có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các
giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ; (4) có ý thức đoàn kết
tập thể. Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ
giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu;
ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác. Cộng đồng có
sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng
thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như kà một
hằng số văn hóa.
Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có
cùng chung một lợi ích, cùng làm việc vì mục đích chung nào
đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định. Trong xã
hội, có thể kể đến các loại cộng đồng như: Cộng đồng dân cư,
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã
hội,tổ chức chính trị-xã hôi-nhà nước, tổ chức xã hội-nhà
với người khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy,
người ta đánh giá hành vi, phẩm chất của mỗi người bằng các
quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh
dự. [11].
Theo giáo trình “Đạo đức học” thì“Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc,
chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử
của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội
chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống
và sức mạnh của dư luận xã hội”[23].
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ
với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành
phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của
một cá nhân đã được xã hội hóa. Đạo đức được biểu hiện ở
cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải
quyết hợp lí, có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi thừa nhận
đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá
nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp gia cấp trong xã hội cũng
phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn
tại. [34].
Xét theo phương diện tâm lý học,đạo đức được xem như
hệ thống những chuẩn mực biểu hiện thái độ, đánh giá quan
hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và của
xã hội.
Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc quy định chuẩn
mực nhằm hướng con người đến cái chân, cái thiện, cái mỹ
vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực đời
sống xã hội.
Chức năng nhận thức: nhận thức đạo đức đem lại tri thức
đạo đức, ý thức đạo đức cho chủ thể, các cá nhân nhờ tri thức
đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức mà tạo thành đạo
đức cá nhân. Cá nhân hiểu và tin những chuẩn mực, lý tưởng,
giá trị đạo đức xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh
hành vi đạo đức.
Chức năng giáo dục: trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức
năng giáo dục giúp con người hình thành những phẩm chất
nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị và các
chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh các hành vi đạo đức. Hiệu quả
giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, cách
thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối
tượng giáo dục trong quá trình giáo dục.
Chức năng điều chỉnh hành vi: Sự điều chỉnh hành vi
đạo đức làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển,
đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng. Chức năng
này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu. Trước hết là bản thân
chủ thể đạo đức phải cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến
khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của
hành vi đạo đức trên cơ sở những chuẩn mực giá trị đạo đức.
Đây là chức năng xã hội cơ bản hết sức quan trọng của đạo
đức.
Như vây, có thể hiểu: Đạo đức là hệ thống những chuẩn
mực, nguyên tắc quy định hành vi của con người trong các
mối quan hệ xã hội.
Giáo dục đạo đức cho học sinh
thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục hướng
nghiệp… giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân
cách toàn diện. Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục
lòng trung thành với Đảng, hiếu với dân, yêu quê hương đất
nước, có lòng vị tha, có lòng nhân ái, cần cù liêm khiết chính
trị, đó là đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục những giá trị,
chuẩn mực trong cách ứng xử của con người với con người
trong xã hội và ứng xử giữa con người với thế giới tự nhiên.
Nhiều chuyên gia giáo dục hiện nay cho rằng các giá trị
định chuẩn các hành vi đạo đức trong giới học sinh cần được
xem xét lại. Xã hội ngày càng phát triển sự giao thoa giữa các
nền văn hóa ngày càng rõ nét. Quá trình giao lưu đó tất yếu sẽ
dẫn đến sự hình thành những hành vi đạo đức mới. Chúng ta
không thể lấy các giá trị chuẩn mực của các thế hệ trước để áp
đạt một cách rập khuôn máy móc đối với thế hệ trẻ. Tất nhiên
đạo đức là những giá trị trường tồn, được thời gian chắt lọc
nhưng không phải các giá trị đó không có sự thay đổi ở các
thế hệ khác nhau. Vì vậy, một trong những điều cần thiết hiện
nay là định vị đúng các giá trị chuẩn mực nào cần đưa vào
giảng dạy, rèn luyện cho học sinh. Điều này phụ thuộc rất
nhiều vào các nhà hoạch định và quản lý giáo dục ở các cấp
khác nhau.
Như vậy, có thể hình dung: Giáo dục đạo đức cho học
sinh là quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch của nhà
giáo dục (giáo viên) đến học sinh nhằm hình thành ở họ ý
thức, tình cảm, niềm tin và thói quen đạo đức.
Hoạt động trải nghiệm , giáo dục đạo đức thông quan
huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn
đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng
mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố
của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập
tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương
pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề.
Như vậy, hoạt động trải nghiệm là hoạt động được tổ
chức bằng các việc làm cụ thể của cá nhân hoặc nhóm trong
thực tế, qua đó cá nhân hoặc nhóm sẽ có được những kiến
thức hoặc kỹ năng nhất định.
Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm
Từ các khái niệm: “Giáo dục đạo đức ”, “hoạt động trải
nghiệm ” đã nêu ở trên, có thể hình dung: Giáo dục đạo đức
thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh là quá trình
tác động có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục (giáo
viên) đến học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm (thực tế)
nhằm hình thành ở học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin và thói
quan đạo đức.
Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục đạo
đức thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh
Từ các khái niệm: phối hợp, lực lượng cộng đồng, giáo
dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh có
thể hiểu: Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục đạo
đức thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh là quá trình
hợp tác trao đổi, thống nhất giữa nhà trường và các lực lượng
cộng đồng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh thông