THỰC TRẠNG VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG
XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC XÃ HÒA
NINH, HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
1
- Khái quát về các trường tiểu học ở xã Hòa Ninh
Xã Hòa Ninh thành lập vào ngày 01 tháng 8 năm 1994
(NĐ 85/1994/CP)trên cơ sở chia tách xã Bình Hòa Phước.
Hiện nay diện tích tự nhiên của xã là 11,68 km². Hòa Ninh
có 6 ấp bao gồm ấp Hòa Thuận, Hòa Lợi, Hòa Phú, Hòa Quí,
Bình Thuận 1, Bình Thuận 2.
Hòa Ninh có diện tích đất tự nhiên nhỏ hơn so với 3 xã còn
lại (Xã Hòa Ninh 11,68 km². Xã Bình Hòa Phước 13,96 km². Xã
An Bình 16,2 km². Xã Đồng Phú 19,91 km²)
Phía đông Hòa Ninh giáp với xã Bình Hòa Phước, phía tây
giáp với xã An Bình, phía bắc giáp với xã Đồng Phú, phía nam
giáp với sông cổ chiên và xã Thanh Đức.
Hiện nay trên địa bàn xã có một trường Trung học phổ
thông, một trung học cơ sở, hai trường tiểu học, có 1 trường đạt
chuẩn Quốc gia (Trường tiểu học Trương Văn Ba đạt ở mức độ
1 lần 2), Trường tiểu học Hòa Ninh A hoàn thành giai đoạn 1.
- Khái quát về khảo sát thực trạng
- Vài nét về khách thể khảo sát
2
Để khảo sát thực trạng giáo dục KNS cho HS tiểu học
trên địa bàn xã Hòa Ninh, tôi tiến hành khảo sát trên hai trường
- Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng giáo dục KNS và phối hợp các lực
lượng xã hội trong giáo dục KNS cho HS ở các trường tiểu học
để từ đó xây dựng các biện pháp phối hợp các lực lượng xã
hộitrong giáo dục KNS cho HS ở các trường tiểu học xã Hòa
Ninh một cách khoa học, khả thi.
4
- Nội dung khảo sát
Thực trạng giáo dục KNS cho HS ở các trường tiểu học xã
Hòa Ninh bao gồm: thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên và phụ huynh HS các trường tiểu học xã Hòa
Ninh, về ý nghĩa công tác giáo dục KNS cho các em; thực trạng
thực hiện nội dung giáo dục KNS, các hình thức tổ chức giáo
dục KNS, công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS
và thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội tham gia công tác
giáo dục KNS cho HS trường tiểu học xã Hòa Ninh.
Thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục
KNS cho HS các trường tiểu học xã Hòa Ninh bao gồm: thực
trạng nhận thức của các lực lượng phối hợp giáo dục về mục đích
của việc trong giáo dục KNS cho HS; thực trạng huy động về
nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực và các yếu tố ảnh hưởng tới các
lực lượng xã hội trong giáo dục KNS cho HS các trường tiểu học
xã Hòa Ninh.
-. Đối tượng khảo sát
- 4 cán bộ quản lý của 2 trường tiểu học xã Hòa Ninh
- 30 giáo viên của 2 trường tiểu học xã Hòa Ninh.
5
Để điều tra nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ
huynh và một số cán bộ của các tổ chức xã hội khác tôi đã tiến
hành điều tra vừa bằng phiếu hỏi vừa kết hợp với phỏng vấn.
- Nhận thức của một số cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh
học sinh, cán bộ địa phương về tầm quan trọng của giáo dục
KNS cho học sinh các trường tiểu học
Đối tượng đ
CBQL và GV
Phụ huynh HS, các lực lượng xã hội khác
Tổng
7
Kết quả khảo sát của bảng cho thấy: Phần lớn cán bộ quản
lý, giáo viên, phụ huynh học sinh, cán bộ địa phương đều nhận
thức rằng giáo dục KNS cho học sinh các trường tiểu học ở xã
Hòa Ninh là rất quan trọng và quan trọng. Trong đó 70.2% ý
kiến đánh giá là “rất quan trọng”;29,8%ý kiến đánh giá ở mức
độ “quan trọng”. Như vậy, có thể nói mức độ nhận thức về giáo
dục KNS cho học sinh các trường tiểu học ở xã Hòa Ninh ở
mức tương đối cao, kết quả này đáng mừng vì trước hết là ý
kiến của những người làm giáo dục, điều này đã cho thấy họ
nhận thức rất rõ cần phải phát triển toàn diện về “đức, trí, thể
mĩ” đối với học sinh. Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục
KNS cho HS của các PHHS và các lực lượng khác cho thấy họ
đã nhận ra rằng để con em mình có thể thích ứng với mọi hoàn
S
L
CBQL
3
Giúp HS phát
1
triển toàn diện
(đức,
mỹ)
trí,
GV
22
thể,
Các
LL
43
9
%
75
0
0
0
0
CBQL
Thay đổi những
2
hành vi, thói
quen tiêu cực
GV
Các
LL
Hình thành cho
HS những hành
3
vi mới đáp ứng
yêu cầu của xã
hội
Vận
0
6,6
7
6
10
3
0
0
0
0
0
0
0
0
23
75
76,6
25
23,3
3
43,3
3
16,6
7
2
6,67
0
0
27
45
33
55
0
0
4
LL
30
93,3
3
50
2
6,67
0
0
30
50
0
0
Từ kết quả của bảng trên, có thể đi đến nhận định khái
quát: Cả ba nhóm đối tượng được điều tra đều nhận thức được
tầm quan trọng trong việc giáo dục cho học sinh các KNS.
* Nhận thức của CBQL về vai trò của giáo dụcKNS
Qua điều tra ta thấy: CBQL tương đối hiểu rõ và thống nhất
trọng là không chênh nhau nhiều. Đặc biệt có nội dung“Thay
đổi những thói quen, hành vi tiêu cực”được đánh giá không
quan trọng với tỉ lệ nhiều nhất là 10%. Qua phần đánh giá của
các lực lượng xã hội, chúng ta thấy: nhận thức của các các lực
lượng xã hội về ý nghĩa và vai trò của giáo dục KNS là chưa
đầy đủ. Chính vì vậy nhiều người còn chưa thấy được tầm quan
trọng của giáo dục KNS cho học sinh.
-Thực trạng mức độ thực hiện những nội dung giáo dục KNS
trong các trường tiểu học xã Hòa Ninh
Để làm rõ thực trạng mức độ thực hiện những nội dung giáo
dục KNS trong các trường tiểu học chúng tôi đã điều tra trên 4
CBQL, 30 giáo viên và 80 HS.
13
-Thực trạng mức độ thực hiện những nội dung giáo dục KNS
trong các trường tiểu học xã Hòa Ninh
Mức độ
Không
T
Các KNSK. thể
T
Rất TX
L
CBQ
0
0
0
GV
27
90
3
10
0
0
0
0
HS
75 93,8
5
0
0
0
nhận
thức
CBQ
L
2
xuyên
3
L
1
Thỉnh
hiện
S
KN tự
Thường
0
0
2
2
50
0
0
0
0
0
0
0
0
60
75
46,6
5
16,6
HS
L
lắng
83,3
25
CBQ
KN
50
GV
giao
tiếp
4
1
25
2
0
0
8
26,6
9
30
13 43,3
0
0
7
9
7
56,2
5
25
17
HS
L
KN ra
23,3
3
16
15
25
37
2
50
2
86,6
0
0
0
0
0
0
0
0
HS
52
65
18 22,5 10 12,5
0
0
1
16
4
53,3
0
26
CBQ
KN
5
18 22,5 0
GV
quyết
định
21,2
2 50
sáng
CBQ
CBQ
L
KN
GV
16
20
32
40
32
40
0
0
0
0
2
50,0
nhận
trách
HS
14 17,5 33
41,2
5
33
41,2
5
nhiệm
CBQ
L
KN
GV
1
3
25
1
35
10
12,
5
Nhìn vào bảng khảo sát ta thấy các KN cần giáo dục cho
HS ở các trường tiểu học xã Hòa Ninh đã được nhà trường lựa
chọn đưa vào chương trình giáo dục với các mức độ khác nhau:
- Một số KN được thực hiện ở mức độ rất thường xuyên và
thường xuyên, đó là: KN tự phục vụ bản thân; KN phòng chống
bị xâm hại; KN quản lý thời gian hiệu quả; KN hợp tác và chia sẻ,
tỉ lệ đánh giá ở mức độ thực hiện từ thường xuyên đến rất thường
xuyên chiếm từ 70% trở lên. Có thể những KNS này hàng ngày
cần thiết trong cuộc sống của HS nên đã được GV chú trọng giáo
dục.
- Một số KN như: KN tự nhận thức và đánh giá bản thân; KN
giao tiếp và ứng xử; KN thể hiện tự tin trước đám đông; KN đối
diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống; KN đánh giá người
khác có đến trên 40% cán bộ giáo viên đánh giá là chưa thực
hiện thường xuyên, thậm chí KN tự nhận thức và đánh giá bản
thân và KN tìm kiếm sự hỗ trợ bản thân có 12,5% HS còn đánh
giá là không thực hiện. Thực tế những KNS này cũng rất thiết
thực với HS. Khi được hỏi GV vì sao những KNS này được
thực hiện trong hoạt động giáo dục ở mức độ thấp hơn thì GV
trả lời rằng mặc dù những KNS này cũng rất cần thiết nhưng
18
thường
T
pháp
xuyên
SL TL%
1
2
3
Thảo luận
nhóm
Động não
Trò chơi
50
24
20
43,8
5
21
36,8
4
22
20 17.5 42
17,5 26 22.8 48
36,8
4
Đóng vai
56
49,1 42
5
Phương pháp
58
50,8 52 45,6
20
4
19.
0
Mức độ thực hiện
Rất
ST
Phương
thường
T
pháp
xuyên
SL TL%
tình huống
Thường
Thỉnh
Không
xuyên
thoảng
đây là những tình huống hữu hiệu nhất để giáo dục KNS vì HS
được tham gia hành động thực sự trên cơ sở đó hình thành KN
tốt nhất cho HS. Đứng thứ hai là phương pháp đóng vai với tỷ lệ
49,1% rất thường xuyên, 36,84% thường xuyên và 14% thỉnh
21
thoảng sử dụng. Sau đó đến PP thảo luận nhóm. Trên thực tế
đây là PP mà GV các trường tiểu học hay sử dụng cả trong hoạt
động dạy học các môn học nhằm hình thành KN làm việc nhóm
cho HS. Thấp nhất là phương pháp động não với 21% rất
thường xuyên, 17,5% thường xuyên và 36,8% thỉnh thoảng sử
dụngvà 23,7% chưa bao giờ.
- Thực trạng con đường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
tiểu học xã Hòa Ninh
Việc tổ chức giáo dục KNS cho HS trong các trường tiểu
học trên địa bàn xã Hòa Ninh được tiến hành thông qua hoạt
động dạy học (nội khoá, ngoại khoá, dạy học tự chọn), thông
qua hoạt động ngoài giờ lên lớp (hoạt động trải nghiệm sáng
tạo; hoạt động văn hoá, văn nghệ; hoạt động vui chơi giải trí,
thể dục thể thao; hoạt động xã hội; hoạt động lao động công ích;
hoạt động tiếp cận khoa học kĩ thuật; hoạt động câu lạc bộ; các
tiết sinh hoạt; hoạt động tập thể ...) và thông qua hướng dẫn HS
tự rèn luyện cũng không còn xa lạ với giáo viên, bởi họ đã được
làm quen với cách thức tổ chức này (qua các đợt tập huấn tích
hợp một số mặt giáo dục khác). Đây là một trong những điều
22
L
1
Giáo dục KNS
thông qua hoạt
động dạy học
CBQL
GV
3
%
75
29 96,6
7
23
S
L
%
Chưa
sử
dụng
S
L
0
1
25
0
0
2
6,67
0
0
7
8,75
0
0
1
25
1
25
0
Giáo dục KNS
3
thông qua quá
GV
7
23,3
3
trình tự giáo dục
HS
8
26,6 15 5
7
0
23 28,7 25 31,2 32 4
5
25