Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công kiểm soát quá trình bằng thống kê (SPC statistical process control) trong các doanh nghiệp sản xuất tại việt nam tt - Pdf 55

1

2

LỜI MỞ ĐẦU

khá thấp trong khi giá thành sản xuất lại cao hơn các nước trong khu vực và và
trên thế giớí.
Có thể thấy, thông qua nghiên cứu tài liệu đã chỉ ra các nghiên cứu về chủ
đề này là ở những quốc gia có trình độ sản xuất phát triển hơn Việt Nam, đặc
biệt áp dụng nhiều trong ngành sản xuất công nghiệp. Tại Việt Nam số lượng

Lý do lựa chọn đề tài
Toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội, nhưng đồng thời cũng đặt ra những
thách thức rất to lớn đối với các quốc gia và doanh nghiệp. Để tồn tại, đứng
vững và phát triển trong môi trường kinh tế quốc tế cạnh tranh gay gắt thì việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế
nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Khả năng cạnh
tranh thực sự của một quốc gia, doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào năng suất
và chất lượng sản phẩm do các doanh nghiệp tạo ra. Với một nguồn lực đầu vào
như nhau tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao với giá trị gia tăng nhiều hơn là
con đường cơ bản đảm bảo cho doanh nghiệp, quốc gia phát triển bền vững
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều mô hình, các công cụ và
phương pháp quản trị đã được các doanh nghiệp đưa vào áp dụng như: Hệ thống
quản lý chất lượng ISO; Quản lý chất lượng toàn diện (TQM); Sản xuất tinh gọn
(Lean); 5S; SQC; SPC… đã được đưa vào áp dụng, và đã mang lại hiệu quả rất
thiết thực cho các doanh nghiệp.
SPC (Statistical Process Control) là phương pháp quản lý cho chương
trình kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp, lợi ích của SPC là: Giảm lãng
phí, chi phí trong sản xuất; Cải tiến quy trình; Cải thiện thông tin trong điều
hành, quản lý; Giảm mức độ biến đổi của sản xuất; Tăng chất lượng sản phẩm/

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn là các doanh nghiệp cơ khí chế tạo,
quy mô vừa và nhỏ trong các khu và cụm công nghiệp tại Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công
SPC trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu với 02 đối tượng là các
giảng viên tại các trường đại học, và các cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp có
ứng dụng SPC.
Nghiên cứu định lượng: Giai đoạn 1, đánh giá về độ tin cậy và loại bỏ
những biến quan sát không phù hợp, thông qua nghiên cứu sơ bộ 84 doanh
nghiệp. Giai đoạn 2, nghiên cứu chính thức, để kiểm định mô hình và các giả


3

4

thuyết nghiên cứu. Tiếp theo thực hiện phân tích ANOVA để kiểm định định sự
khác nhau giữa các nhóm doanh nghiệp về áp dụng thành công SPC.
Kết quả đạt được của nghiên cứu
Về mặt lý luận: Khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành
công SPC trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Đồng thời xác định

Theo Sower, SPC là một hệ thống những thủ tục thống kê được thiết kế
thực hiện trong các doanh nghiệp sản xuất để ngăn chặn lỗi và khuyết tật
(Sower, 1990)
Theo Dale và Shaw, SPC được sử dụng để kiểm soát và quản lý một quá
trình (sản xuất hoặc dịch vụ) thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê

được mức độ tác động của từng yếu tố đến thực hiện thành công SPC.

Phương pháp SPC (Statistical Process Control) là việc sử dụng một tập
hợp các kỹ thuật/ công cụ thống kê để kiểm soát quá trình sản xuất, phân tích và
theo dõi nguyên nhân biến đổi các đặc tính chất lượng hay các thông số để từ đó
kiểm soát và cải tiến quy trình. Cho đến nay có nhiều các khái niệm khác nhau
về SPC được đưa ra. Cụ thể:
Theo Juran (1988) thì SPC là áp dụng các kỹ thuật thống kê để đo lường
và phân tích sự biến đổi trong quá trình.
Theo Oakland (2003), SPC là một hệ thống những thủ tục thống kê
được thiết kế thực hiện trong các doanh nghiệp sản xuất để ngăn chặn lỗi và
khuyết tật.
Theo Ben và Antony, SPC là một kỹ thuật thống kê sử dụng để kiểm soát
quá trình và giảm thiểu biến đổi (Ben & Antony, 2000).
Theo tác giả Caulcutt (1996), SPC là một tập hợp kỹ thuật thống kê có thể

được sử dụng để dễ dàng kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất.

1.3 Các yếu tố thành công
Các yếu tố để áp dụng thành công SPC được hiểu là một nhóm các yếu tố
đảm bảo cho việc áp dụng thành công phương pháp SPC trong doanh nghiệp.
Theo đó, chỉ khi doanh nghiệp đảm bảo được đầy đủ và đồng thời các yếu tố
này, nếu không việc áp dụng sẽ không đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
1.4 Thành công của SPC trong doanh nghiệp
Trong luận án nghiên cứu của tác giả, kết quả của việc thực hiện SPC
thành công cho biết rằng SPC được giới thiệu vào các tổ chức là do các doanh
nghiệp muốn nâng cao chất lượng quy trình sản xuất để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng. Cụ thể trên khía cạnh chất lượng chia ra thành hai loại: Chất lượng
cứng; Và chất lượng mềm (Cheng & Dawson, 1998; Deleryd, Deltin, & Klefsjö,
1999). Chi tiết các yếu tố này sẽ được tác giả trình bày trong mục 1.5.3.



Làm việc nhóm; (iii) Đào tạo và giáo dục SPC; (iv) Triển khai SPC; (v) Cam kết
của lãnh đạo cấp cao; và (vi) Tập trung vào quá trình, có tác động tích cực với
các kết quả mà doanh nghiệp đạt được sau khi thực hiện SPC.
Nghiên cứu của Evans & Mahanti (2012): Nghiên cứu lựa chọn được 12
yếu tố phù hợp gồm: (i) Cam kết và tham gia của người quả lý; (ii) Các biểu đồ
kiểm soát; (iii) Phân tích hệ thống đo lường; (iv) Xác định quá trình ưu tiên;
(v) Đào tạo về SPC; (vi) Trao đổi và chia sẻ kiến thức; (vii) Sử dụng phần
mềm SPC; (viii) Làm việc nhóm; (ix) Người hướng dẫn SPC.

xem xét 07 yếu tố chính làm nên thành công của các dự án SPC trong các công
ty này, đồng thời với biến điều tiết là thay đổi văn hoá cũng được nghiên cứu.

Nghiên cứu của Deleryd và cộng sự (1999): Nghiên cứu chỉ ra 06 yếu tố
gồm có: (i) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (ii) Giới thiệu về SPC; (iii) Đào tạo
và giáo dục về SPC; (iv) Hỗ trợ liên tục; (v) Truyền thông; (vi) Kết cấu phù hợp
Nghiên cứu của Rungasamy & cộng sự (2002): Nghiên cứu gồm 10 yếu
tố: (i) Các biểu đồ kiểm soát; (ii) Trao đổi và chia sẻ kiến thức; (iii) Lưu giữ và
cập nhật dữ liệu về quá trình; (iv) Xác định các đặt tính quan trọng của chất
lượng; (v) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (vi) Phân tích hệ thống đo lường; (vii)
Xác định quá trình ưu tiên; (viii) Sử dụng phần mềm SPC; (ix) Đào tạo và giáo
dục về SPC; (x) Làm việc nhóm.
Nghiên cứu của Grigg (2004): Nghiên cứu của Grigg chỉ ra 05 yếu tố là:
(i) Cam kết của lãnh đạo; (ii) Sự hiện diện của người quản lý; (iii) Đào tạo về
chất lượng; (iv) Sử dụng quy trình chất lượng; (v) Hệ thống chất lượng hiện tại.
Nghiên cứu của Phyanthamilkumaran và Fernando (2008): Nghiên cứu

Hỗ trợ kỹ thuật; (iv) Bước kiểm tra cuối cùng; (v) Có các đội cải tiến chất lượng
; (vi) Cách lấy mẫu; (vii) Hiểu biết về quá trình.

Nghiên cứu của Harris & Yit (1994): Kết quả nghiên có 04 yếu tố làm nên

x

16
22
75

35

x

47

x
x

Trao đổi và chia sẻ kiến thức

Nghiên cứu thử nghiệm

Sử dung phần mền SPC

Người hướng dẫn SPC

Lưu trữ dữ liệu

Bộ phận chất lượng

Triển khai SPC

9

x

x
x

x

x
x
x

x
x
Phân tích hệ thống đo lường (MSE Measurement system evaluation )

8

(Nguồn tác giả tổng hợp)

1

1

2

2

3

4

Các yếu tố thực hiện
thành công SPC

7

9

x
Các biểu đồ kiểm soát
5

Antony, Alejandro, &
Taner, 2000
TT

x

x
x
x
x
x
x

x
x
x
x
x
x

x

x
x

x
x

x
x

x
x

x
x

x
x

x
x

x

x

x

x

& Zenda, 2000

7

x

11

8

1.5.3 Áp dụng thành công SPC trong các doanh nghiệp
Kết quả của việc áp dụng thành công SPC mang lại nhiều giá trị và lợi ích
cho doanh nghiệp. Việc xác định được các tiêu chí thể hiện rằng doanh nghiệp
đã áp dụng thành công SPC, sẽ giúp có được một đánh giá chính xác việc áp
dụng phương pháp này trong các doanh nghiệp. Tất cả những kết quả thể hiện
thành công theo Wilkinson (1992) được nhóm và chia theo hai khía cạnh: Thứ
nhất, khía cạnh chất lượng cứng bao gồm một loạt các yếu tố liên quan đến quản
lý kỹ thuật sản xuất, kiểm soát quá trình triển khai các chức năng chất lượng,
phản ánh định hướng công tác quản lý sản xuất trong doanh nghiệp; Thứ hai,
khía cạnh chất lượng mềm chú ý, quan tâm hơn đến việc thiết lập nhận thức của
người sản xuất, làm tăng hài lòng khách hàng và cải thiện khả năng cũng như
kinh nghiệm quản lý
Thành công trên khía cạnh chất lượng cứng:
Từ tổng quan lý thuyết cho thấy, những nghiên cứu đã chỉ ra các tác động
tích cực sau khi SPC được thực hiện trong các doanh nghiệp, chủ yếu liên quan
đến các kết quả hữu hình, phản ánh định hướng công tác quản lý sản xuất như:
tỷ lệ phế liệu thừa, tỷ lệ làm lại sản phẩm hỏng, năng suất được cải thiện, khả
năng thay đổi quy trình giảm và cải thiện chi phí, thời gian luân chuyển giữa các
bộ phận sản xuất đã được cải thiện tốt hơn (Cheng & Dawson, 1998; Deleryd,
Deltin, & Klefsjö, 1999). Bên cạnh những tác động tích cực ở trên, SPC cũng

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu
2.1.1 Mô hình nghiên cứu lý thuyết
Mô hình nghiên cứu được hình thành dựa trên tổng quan nghiên, mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu của tác giả. Từ những nghiên cứu trước cho thấy, tại
những thời điểm, quốc gia, ngành nghề khác nhau có những kết luận không hoàn
toàn đồng nhất. Vì vậy cần có thêm nghiên cứu để đóng góp thêm cho những kết
luận trong lĩnh vực này.
Kế thừa từ những kết quả nghiên cứu trước tác giả đề xuất mô hình
nghiên cứu của mình bao gồm 07 yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công
SPC gồm: (i) Cam kết của lãnh đạo; (ii) Làm việc nhóm; (iii) Đào tạo và giáo
dục; (iv) Vai trò của bộ phận chất lượng; (v) Tập trung vào quá trình; (vi) Thực
hiện SPC; và (vii) Lưu trữ dữ liệu.

Hình 2-1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết

2.1.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Căn cứ vào mô hình nghiên cứu tác giả đưa ra giả thuyết.
Bảng 2-1: Các giả thuyết nghiên cứu
Giả
thuyết

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng thành công SPC (Chất chất cứng)
H1.1

Cam kết của lãnh đạo cấp cao ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cứng

H1.2

Làm việc nhóm ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm

H2.3

Đào tạo và giáo dục về SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm

H2.4

Vai trò của bộ phận chất lượng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm

H2.5

Tập trung vào quá trình ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm

H2.6

Thực hiện SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm

H2.7

Lưu trữ dữ liệu ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm


11

12

2.1.3 Mô tả các biến nghiên cứu
Các biến độc lập
Cam kết của lãnh đạo cấp cao (TMC): Đây là yếu tố cần thiết đầu tiên và

thu thập được đòi hỏi phải phù hợp, đáng tin cậy, đầy đủ, chính xác và kịp thời.
Các biến phụ thuộc
Trong mô hình nghiên cứu của tác giả, kết quả của việc thực hiện SPC

phận khác nhau trong doanh nghiệp thì giải quyết vấn đề sẽ dễ dàng hơn (Does,

thành công được thể hiện trên khía cạnh chất lượng. Theo Wilkinson (1992)

Schippers, & Trip, 1997).

chất lượng được chia theo hai khía cạnh: Thứ nhất, khía cạnh chất lượng cứng

Đào tạo và giáo dục về SPC (TR): Đào tạo là việc giảng dạy các kỹ năng

bao gồm một loạt các yếu tố liên quan đến quản lý kỹ thuật sản xuất, kiểm soát

hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể nào đó, để người học nắm vững

quá trình triển khai các chức năng chất lượng, phản ánh định hướng công tác

những tri thức, kĩ năng một cách có hệ thống. Trong doanh nghiệp đào tạo SPC

quản lý sản xuất trong doanh nghiệp. Thứ hai, khía cạnh chất lượng mềm chú

được bắt đầu cho người quản lý cấp cao trước, sau đó lần lượt xuống các mức

ý, quan tâm hơn đến việc thiết lập nhận thức của người sản xuất, làm tăng hài

thấp hơn (Antony, Alejandro, & Taner, 2000).
Tập trung vào quá trình (PF): Hầu hết tất cả các sản phẩm được sản xuất

vực này. Các cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng từ 45’ đến 60’. Cuối cùng tổng

phương pháp thực hiện, giám sát và công tác tổ chức (Does, Schippers, & Trip,

hợp kết quả phỏng vấn của tất cả các chuyên gia theo từng nội dung, vấn đề

1997; Evans & Mahanti, 2012). Bên cạnh đó bộ phận chất lượng cũng phải thể

nghiên cứu.

hiện thêm vai trò của mình là cung cấp thông tin để từ đó làm thay đổi nhận thức

2.2.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ

cho tất cả nhân viên trong thực hành SPC (Antony, 2000).

Nghiên cứu định lượng sơ bộ với 84 doanh nghiệp để đánh giá độ tin cậy
của các thang đo và loại bỏ những biến quan sát không phù hợp. Phương pháp


13

14

CHƯƠNG 3

thực hiện bộ bằng cách kiểm tra từng biến quan sát thông qua hệ số tương quan
biến tổng (Item-Total correlation), đồng thời phương sai trích lớn hơn 50% với

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


Cam kết của lãnh đạo cấp cao (TMC): Thang đo Cam kết của lãnh đạo

hưởng của các biến độc lập tới biến phụ thuộc; Kiểm định lại nhân tố khám phá

cấp cao vẫn đảm bảo độ tin cậy do đó tiếp tục sử dụng mà không cần điều chỉnh.

CFA.

Thang đo Làm việc nhóm (TW): Kết quả cho thấy các biến quan sát TW1,

2.2.4 Tổng thể nghiên cứu
Tổng thể nghiên cứu của luận án là những doanh nghiệp sản xuất tại Việt
Nam, nơi trực tiếp áp dụng phương pháp SPC. Đề tài giới hạn không gian
nghiên cứu là các doanh nghiệp cơ khí chế tạo, quy mô vừa và nhỏ trong các
khu và cụm công nghiệp tại Hà Nội.
2.2.5 Chọn mẫu nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn phương
pháp chọn mẫu phi xác suất là chọn mẫu tiện lợi. Khảo sát các doanh nghiệp
trong các khu và các cụm công nghiệp của Hà Nội, do điều kiện về không gian,
thời gian và kinh phí.
2.2.6 Các nguồn dữ liệu

TW2, TW4, TW5 đều đạt yêu cầu còn biến quan TW3 bị loại khỏi mô hình
nghiên cứu.
Thang đo Đào tạo và giáo dục về SPC (TR): Kết quả đánh giá, phân tích
cho thấy các biến quan sát trong thang đo này đều được chấp nhận.
Thang đo Vai trò của bộ phận chất lượng (QD): Các biến quan sát QD1,
QD2, QD3, QD4, QD6, QD7 đạt yêu cầu. Riêng biến QD5 = 0,126 < 0,3. Kết

3.3

Nghiên cứu định lượng chính thức

3.3.1 Kiểm định giá trị thang đo
Tác giả kiểm tra dữ liệu bằng kiểm định KMO và kiểm định Barlett. Kết

16

Kết quả EFA với biến Kết quả kinh doanh cho thấy tất cả các tiêu chí đo lường
được tải về một nhân tố với hệ số tải đạt tiêu chuẩn.
3.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo

quả KMO = 0,793 (> 0,5) thỏa mãn điều kiện (Kaiser, 1974). Tương tự kết quả

Thang đo Cam kết của lãnh đạo cấp cao: Kết quả Cronbach Alpha = 0,845 các

kiểm định Barlett cho thấy p = 0,000 < 5% chứng tỏ các biến có quan hệ với

biến quan sát đều nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha của biến tổng. Các hệ số

nhau, có đủ điều kiện để phân tích nhân tố bằng kiểm định EFA. Bên cạnh đó

tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy đây là thang đo tốt.

kết quả cho thấy từ 10 nhóm nhân tố ban đầu theo thiết kế với 38 biến quan sát,

Thang đo Làm việc nhóm: Kết quả Cronbach Alpha = 0,751, các biến

sau khi phân tích EFA gộp lại thành 9 nhóm nhân tố mới. Tổng phương sai giải


đạt tiêu chuẩn đề ra.

của biến tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, thang

Kết quả EFA Tập trung vào quá trình có xuất hiện thêm biến quan sát DP4
cùng tải về một yếu tố. Tất cả các tiêu chí đo lường, hệ số tải đều đạt yêu cầu.
Kết quả EFA Vai trò của bộ phận chất lượng cho thấy tất cả các tiêu chí

đo lường được tải về một nhân tố, và đều đạt tiêu chuẩn đề ra.
Kết quả EFA biến Thực hiện SPC. Biến quan sát DP4 không được tải về
cùng nhóm yếu tố này, các biến còn lại cùng tải về một yếu tố, và đạt tiêu chuẩn

đề ra.

đo có thể coi là đảm bảo tốt về độ tin cậy.
Thang đo Tập trung vào quá trình: Kết quả Cronbach Alpha =0,736. Các
biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn Cronbach’s Alpha của biến
tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, thang đo là đảm
bảo tốt về độ tin cậy.
Thang đo Thực hiện SPC: Kết quả Cronbach Alpha = 0,783. Các biến
quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha của biến

Kết quả EFA cho Lưu trữ dữ liệu cho thấy tất cả các tiêu chí đo lường

được tải về một nhân tố với hệ số tải đạt yêu cầu.

tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, thang đo là đảm
bảo tốt về độ tin cậy.


đều đảm bảo tốt về độ tin cậy, có tương quan chặt chẽ với nhau để đo lường giữa
các yếu tố.
3.3.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

TW: Làm việc nhóm; TR: Đào tạo và giáo dục về SPC; QD: Vai trò của bộ phận
chất lượng; DP: Thực hiện SPC; DUP: Cập nhật dữ liệu; ε: Là sai số ngẫu nhiên.
Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố được sắp xếp lần lượt theo thứ tự sau:
Cam kết của lãnh đạo: 0,165; Thực hiện SPC: 0,163; Làm việc nhóm: 0,152;
Lưu trữ dữ liệu: 0,144; Đào tạo và giáo dục: 0,128; Vai trò của bộ phận chất
lượng: 0,109.
Kết quả kiểm định giả thuyết
Kiểm định giả thuyết theo mô hình thứ nhất
Trên cơ sở kết quả phân tích các chỉ số hồi quy bội ở phần trước cho thấy
các hệ số Beta hầu hết đều có ý nghĩa thống kê. Kết quả cuối cùng được thể hiện
trong bảng

Kiểm định giả thuyết và phân tích hồi quy
Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình thứ nhất
Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho thấy tính đa cộng tuyến của các
biến kiểm soát không đáng kể và các biến trong mô hình được chấp nhận. Mối
quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được thể hiện trong phương
trình hồi quy tuyến tính sau:

thuyết

QPHA = 0,434+ 0,185TMC+ 0,131TW+ 0,138TR+ 0,136QD+ 0,177DP+
0,210DUP+ ε

H1.2


chất lượng cứng
Làm việc nhóm ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
cứng
Đào tạo và giáo dục về SPC ảnh hưởng tích cực đến
chất lượng cứng
Bộ phận chất lượng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
cứng
Tập trung vào quá trình ảnh hưởng tích cực đến chất
lượng cứng
Thực hiện SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
cứng
Lưu trữ dữ liệu ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
cứng

Giá trị
P

Kết quả

P
H2.2
H2.3
H2.4
H2.5
H2.6
H2.7

Cam kết của lãnh đạo cấp cao ảnh hưởng tích cực đến chất
lượng mềm
Làm việc nhóm ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
Đào tạo và giáo dục về SPC ảnh hưởng tích cực đến chất
lượng mềm
Bộ phận chất lượng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
mềm
Tập trung vào quá trình ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
mềm
Thực hiện SPC ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm
Lưu trữ dữ liệu ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mềm

Giá trị
P
P
dụng kết quả phân tích Anova.
Ảnh hưởng của mỗi nhóm trong mỗi biến kiểm soát mô hình thứ hai
Quy mô có ba nhóm bao gồm: Nhóm 1 - Lớn; nhóm 2 - Vừa; và nhóm 3 Nhỏ. Kết quả cho giá trị Sig. = 0,000 < 0,05, như vậy không thỏa mãn giả định
của kiểm định One way Anova do đó không thể sử dụng kết quả phân tích
Anova.
Tuổi đời doanh nghiệp có bốn nhóm gồm: Kết quả phân tích Anova giữa
loại hình tuổi đời và chất lượng mềm, với giá trị Sig. 0,957 > 0,05. Vậy có thể
khẳng định có sự đồng nhất về phương sai giữa các nhóm tuổi đời, kết quả có
thể sử dụng được. Tuy nhiên với phân tích anova giá trị Sig. 0,541 > 0,05 thì
chưa đủ cơ sở để khẳng định có sự khác biệt giữa chất lượng mềm với tuổi đời
của doanh nghiệp
Hình thức sở hữu có ba nhóm gồm: Nhóm 1 Nhà nước; Nhóm 2 Cổ phần
nhà nước; Nhóm 3 Tư nhân, với giá trị Sig. 0,059 > 0,05, vậy có thể khẳng định
có sự đồng nhất về phương sai giữa các nhóm hình thức sở hữu, kết quả có thể
sử dụng được. Kết quả phân tích Anova giữa loại hình sở hữu và chất lượng
mềm, với giá trị Sig. 0,000 < 0,05 ta có thể kết luận có sự khác biệt về chất
lượng mềm giữa các nhóm sở hữu khác nhau. Theo đó nhóm các doanh nghiệp
tư nhân thành công hơn nhóm các doanh nghiệp cổ phần nhà nước và nhà nước.

CHƯƠNG 4
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, Tác giả tổng hợp các khái niệm về SPC, và các khái niệm liên
quan. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành tổng quan lý thuyết, phân tích các
nghiên cứu về SPC trên các khía cạnh khác nhau, là: (i) Xây dựng quy trình thực
hiện SPC; (ii) Các yếu tố thực hiện thành công SPC trong doanh nghiệp; (iii) Áp
dụng thành công SPC trong các doanh nghiệp.
Thứ hai, tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu. Mô hình nghiên
cứu chính thức gồm 07 biến độc lập: (i) Cam kết của lãnh đạo; (ii) Làm việc
nhóm; (iii) Đào tạo và giáo dục; (iv) Tập trung vào quá trình; (v) Vai trò của bộ

Kết quả của luận án các giả thuyết H1.6, H2.6 được chấp nhận, công tác tổ chức
thực hiện SPC trong các doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến thực hiện
thành công SPC.
Lưu trữ dữ liệu: Cần được thực hiện thường xuyên để đảm nội dung thông
tin, dữ liệu của bất kỳ quy trình nào cũng đều được cập nhật khi có sự thay đổi.
Dữ liệu đòi hỏi phải phù hợp, đáng tin cậy, đầy đủ, chính xác và kịp thời. Với kết
quả này các giả thuyết H1.7, H2.7 được chấp nhận, và khẳng định công tác Lưu trữ
dữ liệu trong các doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến thành công SPC.
4.3 Những đóng góp mới của nghiên cứu
4.3.1 Đóng góp về lý luận

QPSA = 0,134+ 0,155TMC+ 0,162TW+ 0,126TR+ 0,107QD+ 0,187DP+
0,160DUP+ ε

4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu
Cam kết của lãnh đạo cấp cao: Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng đã
khẳng định lại một lần nữa trong môi trường các doanh nghiệp sản xuất của Việt
Nam. Bởi cho dù môi trường nào, để dẫn tới thành công cũng phải được khởi
xướng, dẫn dắt và hậu thuẫn từ những người quản lý cấp cao. Chính họ là người
tạo nên động lực, sự quyết tâm và dẫn dắt các dự án SPC đi đến thành công. Kết
quả nghiên cứu chỉ ra giả thuyết H1.1, H2.1 được chấp nhận, Cam kết của lãnh
đạo cấp cao ảnh hưởng tích cực (+) đến thành công SPC trong các doanh nghiệp.
Làm việc nhóm: Làm việc theo các nhóm sẽ thúc đẩy việc giao tiếp tốt
hơn, các thành viên có thêm kiến thức, kỹ năng, và kinh nghiệm, đồng thời mọi
vấn đề sẽ được giải quyết nhanh, linh hoạt và phù hợp hơn. Tác động của yếu tố
này đã được khẳng định lại trong nghiên cứu của tác giả. Với kết quả này của
luận án thì giả thuyết H1.2, H2.2 được chấp nhận, yếu tố Làm việc nhóm ảnh
hưởng tích cực đến thành công SPC trong các doanh nghiệp.
Đào tạo và giáo dục về SPC: Đào tạo kiến thức về SPC là yếu tố đầu vào
quan trọng để dẫn tới thành công, sự đổi mới và cập nhật kiến thức liên tục sẽ

đã chỉ ra những yếu tố này vẫn có tác động thuận chiều với thực hiện thành SPC
(tổng quan chương 1).
4.4.2 Một số kiến nghị chính sách vĩ mô
Thứ nhất: Nhà nước cần có chủ trương, chính sách và chương trình hành
động cụ thể nhằm phổ cập, đào tạo kiến thức về phương pháp này cho các doanh

khía cạnh thực tiễn, cụ thể là: Với điều kiện đặc thù của Việt Nam, kết quả
nghiên cứu sẽ giúp cho các doanh nghiệp thấy được mức độ tác động của từng

nghiệp một cách bài bản.
Thứ hai: Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích áp dụng

yếu tố thực hiện thành công SPC trong các doanh nghiệp, đặc biệt chú ý đến
công tác tổ chức thực hiện SPC, vai trò của người lãnh đạo cấp cao trong doanh
nghiệp, và tầm quan trọng của bộ phận chất lượng.
4.4 Một số đề xuất và kiến nghị
4.4.1 Đề xuất với nhà quản trị
SPC là một phương pháp trong quản ý hữu hiệu và được nhiều các doanh
nghiệp trên thế giới chứng minh qua thực tế ứng dụng. Tuy nhiên khi nghiên
cứu trong điều kiện các doanh nghiệp của Việt Nam, khi triển khai ứng dụng để
đạt được kết quả tốt cần phải có những bước đi thận trọng. Từ kết quả nghiên
cứu tác giả xin đề xuất ý kiến như sau:
Cần xem xét đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện thành công
SPC trước khi thực hiện phương pháp này trong doanh nghiệp. Theo đó các nhà
quản trị cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả áp dụng

phương pháp này trong quản lý các doanh nghiệp, cụ thể như: Tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp thăm quan học hỏi thực tế từ các doanh nghiệp điển hình, đặc
biệt từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như.
Thứ ba: Nhà nước cần xem xét đưa ra ý tưởng về cách thức triển khai áp

Thứ ba: Luận án mới chỉ nghiên cứu 07 yếu tố ảnh hưởng đến thành công
SPC trong các doanh nghiệp. Trong khi, qua tổng quan tài liệu còn có thêm các
yếu tố khác cũng tác động tới biến thành công SPC như: Các biểu đồ kiểm soát;
Xác định các đặc tính quan trọng của chất lượng; Phân tích hệ thống đo lường;
Trao đổi và chia sẻ kiến thức.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status