Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy địa lí 11, nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh tại trường THPT - Pdf 55

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của giải pháp
1. Về không gian
Sáng kiến sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy Địa lí 11 tại
trường THPT Sốp Cộp
2. Về thời gian
Một số kĩ thuật dạy học tích cực đã được giáo viên thực hiện trong quá trình
dạy thực nghiệm ở một số lớp thuộc môn Địa lí 11 trong năm học 2018 - 2019.
3. Thực trạng của việc thực hiện vấn đề
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban
chấp hành Trung ương "Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế". Nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục là
đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động có ý thức làm chủ, có tri thức, thành
thạo nghề nghiệp và có thái độ lao động tích cực, sáng tạo…Đó là nhiệm vụ nặng
nề, phức tạp đòi hỏi mỗi môn học trong trường phổ thông phải dựa dựa vào đặc
trưng môn học để xác định vị trí, chức năng và nhiệm vụ của mình trong nhiệm vụ
chung.
Trong số các môn học thì môn Địa lí là một trong những môn học có nhiều
khả năng bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, trí tưởng tượng và óc thẩm mỹ,
rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng có ích trong đời sống và sản xuất. Cùng với
các môn học khác, môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho học sinh ý thức trách nhiệm,
lòng ham hiểu biết khoa học, tình yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước.
Vì vậy, Địa lí là môn học không thể thiếu được trong hệ thống các môn học của nhà
trường, nhằm góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông như luật
giáo dục đã nêu.
1


Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, mà thực tế hiện nay có thể thấy rất ít HS có
niềm đam mê đối với môn Địa lí. Vậy thực tế này có nguyên nhân từ đâu, làm thế

trong đó phải kể đến là chương trình SGK thiết kế vẫn còn nặng về trang bị kiến
thức là chủ yếu, chính vì vậy GV ít có điều kiện giúp cho HS phát triển các kĩ năng,
năng lực cần thiết. Bên cạnh đó còn nhiều GV chưa thực sự hiểu rõ và vận dụng
thành thạo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, nếu có thì chỉ vận dụng
một số phương pháp được xem là tích cực hiện nay như thảo luận nhóm, đàm thoại
gợi mở,….và thường xuyên lặp đi lặp lại trong các tiết học, khiến cho giờ học trở
nên đơn điệu và nhàm chán, HS mất dần hứng thú đối với môn học.
Đối với chương trình địa lí cấp THPT chương trình Địa lí 11 có sự kế thừa,
nâng cao kiến thức Địa lí Trung học cơ sở và ở lớp 10, đồng thời góp phần tạo cơ
sở cho việc trang bị kiến thức về Địa lí Việt Nam ở lớp 12. Có thể thấy rằng
chương trình Địa lí 11 đã cung cấp cho học sinh cái nhìn toàn cảnh về nền kinh tế
xã hội thế giới, các khu vực và các quốc gia lớn trên thế giới. Vì vậy nội dung kiến
thức của lớp 11 rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên để học sinh thực sự yêu thích và
hứng thú đối với môn học Địa lí nói chung trong đó có chương trình Địa lí 11 đòi
hỏi GV phải thực sự tâm huyết để đầu tư, tìm tòi cập nhật các kiến thức và ứng
dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để có thể khơi dậy niềm đam mê
và hứng thú học tập cho HS, đồng thời giúp các em phát triển các năng lực của bản
thân.
Qua quá trình bồi dưỡng thường xuyên và thực tế giảng dạy nhiều năm tôi
nhận thấy việc xác định nội dung kiến thức cơ bản của bài giảng là một khâu rất
quan trọng, nhưng để học sinh tích cực, chủ động tiếp cận, lĩnh hội tri thức là một
khoa học và nghệ thuật. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy
của giáo viên. Giáo viên cần lựa chọn hình thức và phương pháp, kĩ thuật dạy học
thích hợp nhất với từng đơn vị kiến thức, từng bài để học sinh lĩnh hội được kiến
3


thức bài học một cách sâu sắc và bền vững, không những thế giáo viên cần phải tạo
cho học sinh thói quen chủ động khai thác kiến thức. Tuy nhiên trong thực tế có thể
thấy không một phương pháp nào là vạn năng và sử dụng trong toàn bộ quá trình

một loạt các khái niệm chung về kinh tế thế giới hiện đại, toàn cầu hóa, tri thức
hóa…Các đặc trưng cơ bản về các nước phát triển và đang phát triển, một số khu
vực và các quốc gia trên thế giới như: Hoa Kì, Nhật Bản, Trung Quốc, các khu vực
Đông Nam Á, Mĩ La Tinh, Tây Nam Á…có thể thấy nội dung kiến thức khá là
phong phú trong khi thời lượng dành cho chương trình lại rất ít 1 tiết/tuần vì thế đối
với GV thường lựa chọn đảm bảo cung cấp đầy đủ kiến thức cho mỗi bài mà ít chú
trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học vì sợ mất thời gian không đảm bảo
được chương trình nên các phương pháp GV thường dùng trong các tiết học chỉ là
giảng giải, thuyết trình, vấn đáp, đàm thoại là chủ yếu, vì vậy tiết học diễn ra tương
đối trầm và GV phải làm việc nhiều, ít có sự tham gia của HS.
Đối với HS các em từ lâu đã quá quen với các phương pháp dạy học truyền
thống, đã quen đến lớp chỉ việc nghe giảng và ghi chép bài đầy đủ mà không cần
chuẩn bị gì nhiều cho bài học mới vì thế đã tạo ở các em sức ì quá lớn, khó tiếp
nhận cái mới, khó thay đổi….nhiểu em chưa xác định được nhiệm vụ học tập của
bản thân xem việc cung cấp kiến thức là của thẩy cô còn bản thân chỉ việc tiếp nhận
kiến thức một cách thụ động, ít có sự chủ động tìm tòi khám phá kiến thức mới.
2. Ưu nhược điểm của giải pháp đã áp dụng
2.1. Ưu điểm
Với việc thực hiện các phương pháp dạy học như đã nêu trên cũng đã có
những ưu điểm, đó là dễ thực hiện, đảm bảo được thời gian quy định trong mỗi tiết
học mà GV vẫn đạt được các mục tiêu kiến thức của từng bài; Thực hiện đầy đủ các
tiến trình lên lớp, mà không phải mất nhiều chi phí và thời gian đầu tư cho mỗi tiết
5


học. HS cũng không phải mất nhiều thời gian để chuẩn bị cho bài học mới, nếu có
chỉ cần đọc qua bài một lượt, đến lớp thì chỉ cần nghe giảng và ghi chép được đầy
đủ nội dung chính của bài học.
2.2. Nhược điểm.
Hiện nay với việc thay đổi cách tiếp cận mục tiêu giáo dục trong những năm

Thứ ba là đối với học sinh trường THPT Sốp Cộp là một trường vùng sâu,
vùng xa, đa phần học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số mặt bằng nhận thức
và khả năng giao tiếp còn hạn chế, nhiều em còn khá rụt rè chưa dám thể hiện bản
thân và ngại giao tiếp. Đặc biệt các em chưa có thói quen đọc trước bài hoặc chuẩn
bị bài mới trước khi đến lớp, vì thế việc giúp các em nâng cao trình độ nhận thức,
tiếp thu bài học nhanh, phát huy tính tích cực, sáng tạo, khả năng tư duy và tự giác
học tập là một vấn đề nan giải đối với đội ngũ giáo viên của trường.
Từ kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi nhận thấy nếu giáo viên có sự đầu
tư cho bài giảng và biết vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực vào từng nội dung hoặc từng bài cụ thể sẽ lôi cuốn được học sinh tham gia một
cách tích cực, chủ động, phát huy được tiềm năng sáng tạo của học sinh, giúp các
em đạt được các phẩm chất và năng lực cần thiết. Vì vậy trong phạm vi sáng kiến
này tôi đã áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy một số bài thuộc chương
trình Địa lí 11 nhằm giúp cho HS phát triển được các năng lực của bản thân.
II. Nội dung của sáng kiến
1. Bản chất của giải pháp mới
Với mong muốn làm phong phú thêm các phương pháp và kĩ thuật dạy học
Địa lí theo hướng tích cực đồng thời khắc phục những nhược điểm và hạn chế nêu
trên, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, vừa tăng cường hiệu
quả học tập vừa phát triển được các kĩ năng như trình bày, giao tiếp với các bạn và
giáo viên, tạo không khí lớp học thân thiện, cởi mở và hợp tác. Sáng kiến đã đưa ra
7


các bước tiến hành áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong nội dung cụ thể của
một số bài thuộc chương trình Địa lí 11, góp phần phát triển năng lực cho HS,
đồng thời giúp giáo viên có thể vận dụng linh hoạt và có hiệu quả các phương pháp
và kĩ thuật dạy học tích cực, góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất
lượng giáo dục. Cụ thể tác giả đã đề xuất giải pháp sử dụng các kĩ thuật mảnh ghép,
kĩ thuật động não, kĩ thuật đặt tiêu đề cho một đoạn văn, kĩ thuật tổ chức trò chơi là


2

3

2

2

2

3

3

3

3

1

2

3

- Vòng 2
Vòng 2

1


Lưu ý: Khi áp dụng kĩ thuật mảnh ghép trong giảng dạy địa lí giáo viên cần:
- Trước khi lên lớp giáo viên phải giới thiệu trước cho học sinh một số tài liệu có
liên quan đến các nội dung bài học mình giảng dạy để học sinh có thời gian tìm
kiếm và tự nghiên cứu.
- Khoảng thời gian trên lớp giáo viên giao cho từng nhóm học sinh một chủ đề nào
đó để nghiên cứu kỹ, các chủ đề nhỏ trong bài học phải có sự liên quan gắn bó chặt
chẽ với nhau. Mỗi nhóm học sinh sẽ thảo luận tìm ra nội dung theo yêu cầu của
giáo viên.
- Khi HS đã chuẩn bị tốt tâm thế học tập như tài liệu và nội dung bài học thì việc
sử dụng kỹ thuật các mảnh ghép là khâu cuối cùng để HS có cơ hội nêu ý kiến của
mình và ai cũng được tham gia vào nội dung của bài học hay một vấn đề mà GV
nêu ra.
- Về phía GV thì trong quá trình sử dụng kĩ thuật mảnh ghép phải dành thời gian
theo dõi HS thảo luận nhóm và trình bày kết quả, có như vậy thì người học có điều
kiện trao đổi trực tiếp với giáo viên và ý thức rằng mình làm việc một cách nghiêm
túc, đồng thời để đảm bảo các nhóm hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian quy định.
- Thành lập nhóm mới "nhóm mảnh ghép” cần đảm bảo có đủ thành viên của các
nhóm chuyên sâu. Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp
và chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1.
Do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết về kiến thức, kĩ năng, thông tin,…
cũng như các yếu tố hỗ trợ cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này.
10


* Để đảm bảo hiệu quả của nhóm, các thành viên trong nhóm cần được phân công
các nhiệm vụ như sau:
Vai trò
Nhiệm vụ
Trưởng nhóm
Phân công nhiệm vụ

11

Trung tâm

Alaxca và
Ha - Oai


Địa hình
Khí hậu
Tài nguyên nổi
bật của vùng
Các nhóm thực hiện nhiệm vụ được giao, tìm hiểu thảo luận đảm bảo mỗi
thành viên trong nhóm phải nắm chắc được các đặc điểm tự nhiên của mỗi vùng để
trình bày trong nhóm mới - nhóm mảnh ghép ở vòng 2. Như vậy vai trò của cá
nhân trong nhóm không chỉ hoàn thành nhiệm vụ hoạt động cá nhân mà còn phải
trình bày truyền đạt lại kết quả và thực hiện tiếp nhiệm vụ ở mức độ cao hơn.
Phần lãnh thổ ở trung tâm lục địa Bắc Mĩ phân hóa thành 3 vùng tự nhiên
Vùng
Phí a Tây
Trung tâm
Phía Đông
Phạm
Gồm vùng núi Coóc-đi- Nằm giữa dãy A-pa- Gồm dãy A-pa-lát
vi
e và các đồng bằng ven lát và dãy Rốc-ki.
và các đồng bằng
TBD.
ven ĐTD.
Địa

chì.
- Các đồng cỏ, đất
- Thủy năng, rừng, đồng màu mỡ.
cỏ, đất trồng.

12

- Khoáng sản: than
đá, sắt.
- Đất phì nhiêu, thủy
năng.


Bán đảo Alaxca và quần đảo Ha-oai
Đặc điểm tự nhiên
Bán đảo Alaxca
- Là bán đảo nằm ở tây bắc Bắc Mĩ.
- Nhiều núi cao, khí hậu lạnh giá, giàu
dầu khí, thủy sản.
Quần đảo Ha-oai
- Là quần đảo giữa TBD.
- Nhiều đảo núi lửa, san hô; khí hậu nhiệt
đới ẩm.
- Vòng 2: Nhóm mảnh ghép
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, mỗi thành viên từ các nhóm chuyên
sâu khác nhau hợp lại thành các nhóm mới, gọi là nhóm “mảnh ghép”. Lúc này,
mỗi học sinh “chuyên gia” trở thành những mảnh ghép trong “nhóm mảnh ghép”
.Từng học sinh từ các nhóm “chuyên gia” trong nhóm “mảnh ghép” lần lượt trình
bày lại nội dung tìm hiểu của nhóm mình nêu được các đặc điểm tự nhiên của các
vùng lãnh thổ phía Đông, phía Tây, vùng Trung Tâm,..... Đảm bảo tất cả các thành

Các cá nhân trong nhóm thực hiện nhiệm vụ được giao đảm bảo tất cả các thành
viên đều trả lời được các nội dung của nhóm ở vòng 1
Đặc điểm
nhiên
Địa hình

Đất đai
Khí hậu
Sông ngòi
Sinh vật
Khoáng sản
Biển

tự Đông Nam Á lục địa

Đông Nam Á biển đảo

- Chia cắt mạnh nhiều đồi núi Tập trung nhiều đảo, quần
(60% diện tích.
đảo.
- Có nhiều đồng bằng lớn.
- Ít đồng bằng, nhiều đồi,
núi, núi lửa
- Đất phù sa, đất đỏ badan, Đất đỏ badan màu mỡ, …
feralit.
- Nhiệt đới ẩm gió mùa, phân Nhiệt đới gió mùa và khí hậu
hóa đa dạng.
xích đạo.
- Có nhiều sông lớn, chế độ Nhiều sông chế độ nước điều
nước theo mùa.

- Có nhiều sông lớn => Phát triển giao thông, thủy lợi, thủy điện.
- Giàu khoáng sản => Phát triển công nghiệp,
- Có diện tích rừng lớn: Rừng xích đạo và rừng nhiệt đới phong phú và đa dạng=>
khai thác, chế biến lâm sản.
b. Khó khăn
- Có vị trí kề sát vành đai lửa Thái Bình Dương, đây là nơi hoạt động của áp thấp
nhiệt đới nên chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai như bão, lũ lụt..
- Diện tích rừng đang bị thu hẹp, tài nguyên bị khai thác quá mức.
* Tính mới của giải pháp
Học sinh bước đầu được làm quen với một kĩ thuật dạy học mới "kĩ thuật
mảnh ghép" và được đóng vai trò tích cực, chủ động trong việc tham gia xây dựng
kiến thức của bài học mới, khuyến khích động cơ và hiệu quả học tập cao hơn.

15


Đồng thời còn có thể đào tạo ra những chuyên gia giàu kinh nghiệm trong xử lí,
giải quyết công việc nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.
Sử dụng kĩ thuật này còn có thể khắc phục được những nhược điểm của
phương pháp tổ chức hoạt động nhóm thông thường đó là nhóm nào tìm hiểu nội
dung nào thì chỉ biết nội dung đó cô lập nội dung kiến thức của mỗi bài mà không
nắm kĩ nội dung của toàn bài vì thế hiệu quả học tập không cao.
1.2. Giải pháp 2. Kĩ thuật đặt tiêu đề cho một đoạn văn
Một đoạn văn có nội dung thông tin nhất định, thông qua việc đọc kĩ một
đoạn văn người đọc có thể tìm ra nội dung cốt lõi nhất và đặt tiêu đề cho đoạn văn
đó. Tìm được tiêu đề đặt tên cho đoạn văn tức là người đọc đã hiểu được đoạn văn.
Kĩ thuật này thường được dùng trong các bài, các mục có nội dung dài viết dưới
dạng văn bản, thay bằng phải giảng giải hoặc phát vấn, giáo viên dùng kĩ thuật này
để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập.
* Các bước tiến hành

đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm tầng ô dôn”, GV yêu cầu học sinh tự đọc kĩ nội
dung mục II. 1 SGK và cho biết nội dung đoạn văn trên nói về vấn đề gì. Học sinh
đọc đoạn văn và dễ dàng chỉ ra được đoạn văn nói về biểu hiện và nguyên nhân của
biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm tầng ô dôn. Tương tự GV thực hiện kĩ thuật
này đối với mục 2 và 3 (ô nhiễm nguồn nước ngọt, biển và đại dương; Suy giảm đa
dạng sinh vật)
* Tính mới của giải pháp

17


Học sinh được làm quen với một kĩ thuật dạy học mới, giúp cho HS có thêm
cách tiếp cận kiến thức hoàn toàn khác so với cách thức truyền thống. Ở giải pháp
này HS được đóng vai trò tích cực, chủ động trong việc tham gia xây dựng kiến
thức của bài học mới, khuyến khích động cơ và hiệu quả học tập cao hơn.
1.3. Giải pháp 3: Sử dụng kĩ thuật động não.
Kĩ thuật động não là một trong những kĩ thuật dạy học tích cực, dùng để giải
quyết nhiều loại vấn đề khác nhau, giúp cho người học trong thời gian ngắn nảy
sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Kĩ thuật này có thể
thực hiện vào đầu tiết học, hoặc bắt đầu một vấn đề, một nội dung ở giữa bài học .
* Mục đích
- Giúp HS trả lời nhanh vấn đề được GV nêu ra.
- Phát triển tư duy logic.
- Giúp cho các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong trình bày ý kiến của mình.
* Các bước tiến hành.
- Bước 1. GV lựa chọn và nêu vấn đề/ chủ đề (có thể gắn với phương tiện
trực quan) cần tìm hiểu trước lớp hoặc trước nhóm kèm theo câu hỏi kích thích suy
nghĩ của người học.
- Bước 2. Yêu cầu cả lớp động não đóng góp ý kiến bằng cách ghi ý kiến của
mình vào giấy nhỏ dán lên bảng phụ hoặc từng người phát biểu ý kiến.

+ GV cần nêu ra trước HS các vấn đề có nhiều khả năng tạo cơ hội bộc lộ
nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau.
+ Các ý kiến của HS phải được tôn trọng và tập hợp, dù cho ý kiến đó có thể
không hoàn toàn hợp lí.
* Tính mới của giải pháp
19


Sử dụng kĩ thuật động não giúp cho GV huy động được sự tham gia tích cực
của HS trong việc xây dựng và hình thành kiến thức của bài học. Khai thác được
tiềm năng sáng tạo của HS, giúp cho HS được tự do tham gia vào các hoạt động để
tìm ra kiến thức mà không quan tâm đến những hạn chế của cá nhân, từ đó giúp cho
các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp và trình bày ý kiến của mình.
1.4. Giải pháp 4. Kĩ thuật tổ chức Trò chơi
Tổ chức các trò chơi trong hoạt động học tập nói chung và trong môn Địa lí
nói riêng cần được áp dụng rộng rãi bởi nó được xem là một trong những biện pháp
tích cực trong hoạt động dạy và học hiện nay. Có thể thực hiện vào đầu tiết học,
hoặc bắt đầu một vấn đề, một nội dung ở giữa bài học hoặc áp dụng trong các tiết
ôn tập.
* Mục đích:
- Giúp HS tự tin, mạnh dạn và nhanh nhẹn hơn.
- Tạo cho HS niềm đam mê, hứng thú học tập đối với môn học
- Lôi cuốn được sự tham gia tích cực của HS,...
* Cách tiến hành
- Bước 1: GV cần tìm hiểu kĩ nội dung của bài học.
- Bước 2. Lựa chọn nội dung bài học và hình thức tổ chức trò chơi.
- Bước 3. GV thiết kế nội dung trò chơi
- Bước 4. Tổ chức trò chơi.
Lưu ý: GV yêu cầu HS tìm hiểu trước nội dung bài học và sưu tầm các tài liệu
liên quan. Trước khi tiến hành GV chia lớp thành các đội chơi, đưa ra luật chơi và


21


- Mỗi nhóm có thời gian tối đa là 3 phút quan sát hình ảnh lá cờ của các nước
trong khu vực Đông Nam Á trên phông chiếu, mỗi lá cờ được đánh số thứ tự từ 1 11 và yêu cầu HS các nhóm điền tên các quốc gia tương ứng.
- Nhóm nào điền đúng, đủ và nhanh nhất tương ứng sẽ là đội nhất, nhì, ba
- Phần thưởng sẽ tương ứng với số điểm hoặc món quà từ cao xuống thấp.
* Tính mới của giải pháp
Sử dụng kĩ thuật tổ chức trò chơi có tác dụng mở rộng, nâng cao hiểu biết và
các kĩ năng hoạt động của học sinh. Tổ chức trò chơi tốt vừa phát huy được sự
nhanh trí, sáng tạo, vừa rèn luyện tính tự lập và tinh thần tập thể của các em. Ngoài
ra hứng thú học tập, niềm tin và tình cảm của học sinh được nâng cao. Nội dung
học tập trở nên sinh động, gần gũi và thiết thực hơn đối với các em.
2. Ưu nhược điểm của các giải pháp mới:
2.1. Ưu điểm
Một số kĩ thuật được đề cập trong sáng kiến đã góp phần làm phong phú
thêm các hình thức dạy học tích cực trong môn Địa lí.
Tạo cho HS có thói quen chuẩn bị bài ở nhà và đào sâu kiến thức trong từng
lĩnh vực và phát huy hiểu biết của học sinh trong giải quyết vấn đề.
Phát triển tinh thần hợp tác làm việc theo nhóm và phát huy trách nhiệm
của từng cá nhân, khuyến khích động cơ học tập chủ động và tích cực hơn.
Hình thành cho học sinh những năng lực và phẩm chất cần thiết trong cuộc
sống như năng lực hợp tác, sáng tạo, linh hoạt trong giải quyết các tình huống xảy
ra trong thực tiễn tốt hơn. Giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong trình bày
trao đổi ý kiến của mình.
2.2. Nhược điểm.

22


tiện dạy học mà cần thiết nhất là giáo viên phải nghiên cứu kĩ lưỡng từng nội dung
của mỗi bài dạy để sử dụng sao cho hiệu quả các bước thực hiện đối với mỗi
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.
2. Hiệu quả xã hội
Đối với giáo viên khi áp dụng sáng kiến có thêm nhiều kinh nghiệm trong tổ
chức các hoạt động dạy học cho học sinh bằng các phương pháp và kĩ thuật dạy học
tích cực góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học.
Đối với HS việc vận dụng kết hợp các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực trong mỗi bài dạy Địa lí, bước đầu đã làm thay đổi nhận thức về cách học của
HS đối với môn Địa lí, HS trở nên sôi nổi hơn, hào hứng hơn, yêu thích sự tìm tòi
khám phá và hứng thú hơn với môn học. Với cách học này HS được chủ động tham
gia xây dựng kiến thức, phát huy được tính tích cực, tự giác, sáng tạo, ngoài ra còn
phát triển được nhiều các kĩ năng cần thiết trong thực tiễn của cuộc sống, giúp HS
tự tin hơn trong giao tiếp, trong trình bày và giải quyết vấn đề, phát triển được các
năng lực của bản thân.
* Kết quả thực nghiệm về mức độ hứng thú của HS đối với giờ học
Để kiểm tra cụ thể tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở một số lớp bằng các
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để so sánh với những lớp dạy bằng
phương pháp giảng giải, thuyết trình vấn đáp thường dạy trước đây. Tôi đã phát
phiếu điều tra ở hai lớp khác nhau, kết quả thu được như sau:
Lớp

Số HS

Rất hứng Hứng thú

Bình

Không



Đối chứng
11b2

40

8

10

19

3

(100%)
20%
25%
47,5%
7,5%
Như vậy có thể thấy việc áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích

cực trên đã góp phần làm thay đổi thái độ học tập của HS đối với môn Địa lí. Các
em đã hào hứng hơn với các tiết học Địa lí có sử dụng các phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực, các em trở nên có ý thức hơn trong học tập. Tham gia tích cực
vào các hoạt động học tập và đó sẽ là tiền đề cho việc nâng cao chất lượng giáo
dục.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong các bài Địa lí
11 từ đó có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau: Trước hết tôi nhận thấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status