VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ VÂN ANH
SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN KINH DOANH
LƯƠNG THỰC - THỰC PHẨM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ VÂN ANH
SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN KINH DOANH
LƯƠNG THỰC - THỰC PHẨM HÀ NỘI
Ngành: Tâm lý học
Mã số: 8 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Lê Thị Vân Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN KINH DOANH
LƯƠNG THỰC-THỰC PHẨM HÀ NỘI ....................................................... 13
1.1. Công ty cổ phần và người lao động trong công ty cổ phần chế biến kinh
doanh lương thực-thực phẩm Hà Nội………………………………………..13
1.2. Sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty cổ phần chế
biến kinh doanh lương thực- thực phẩm Hà Nội.……………………............14
Chương 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 32
2.1. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................... 33
2.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 35
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN SỰ HÀI LÒNG CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN KINH DOANH
LƯƠNG THỰC – THỰC PHẨM HÀ NỘI .................................................. 40
3.1. Đánh giá chung của người lao động công ty cổ phần chế biến và kinh
doanh lương thực - thực phẩm Hà Nội về môi trường làm việc hiện tại........ 40
3.2. Biểu hiện cụ thể của sự hài lòng trong công việc của người lao động tại
công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội ......... 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 66
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Bảng 3.9: Cảm nhận về công việc theo thời gian làm việc tại công ty
Bảng 3.10: Sự hài lòng trong công việc của người lao động
Bảng 3.11: Mức độ hài lòng ở các chiều cạnh của công việc
Bảng 3.12: Tính tương quan giữa các nhóm cảm xúc tại nơi làm việc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với doanh nghiệp, con người là yếu tố đóng vai trò quan trọng, là lợi thế
bền vững, có thể thích ứng những thay đổi trong kinh doanh. Thị trường với những
thay đổi không ngừng, khiến cho các doanh nghiệp cần có những con người phải
luôn chủ động, sáng tạo, sử dụng kỹ thuật tiên tiến, tạo ra sản phẩm mới và dịch vụ
mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
Vì vậy, mục tiêu cơ bản của các doanh nghiệp, tổ chức chính là thu hút, lôi
cuốn những người giỏi về với mình, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng
năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả, động viên thúc đẩy nhân viên, tạo điều
kiện cho họ bộc lộ năng lực, phát triển và cống hiến với tổ chức. Để hoàn thành các
mục tiêu này, nhà lãnh đạo của tổ chức phải hiểu rõ được tâm tư, nguyện vọng của
người lao động.
Nghiên cứu để nhằm đáp ứng sự hài lòng của con người đối với công việc,
cuộc sống là rất cần thiết. Doanh nghiệp sẽ không thể phát triển nếu đội ngũ nhân
viên không hài lòng với công việc hay môi trường làm việc, không có kỹ năng hoặc
thiếu khả năng chuyên môn. Việc tạo dựng một đội ngũ lao động ổn định, có chất
lượng sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
Một thực tế cho thấy không công ty nào có thể đạt được mục tiêu nếu không
có những nhân viên phù hợp và đó là nguồn lực quyết định sự thành công của công
ty. Tuy nhiên, khi ứng viên trở thành nhân sự chính thức, rất ít doanh nghiệp lại sẵn
lòng bỏ thời gian, công sức để tìm hiểu diễn biến tâm trạng, những mong muốn, nhu
cầu, sự hài lòng của nhân viên qua thời gian, từ đó nâng cao sự hài lòng của nhân
viên.
động, điều kiện làm việc, lương, được đánh giá đầy đủ các công việc đã thực hiện,
trung thành cá nhân đối với cấp trên, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp. [8, tr.19]
2
Nghiên cứu của Smith, Kendall và Hulin (1969) của trường Đại học Cornell
đã xây dựng các chỉ số mô tả công việc (JDI), xem xét trên 5 khía cạnh của sự hài
lòng liên quan đến công việc đó là bản chất công việc, tiền lương, thăng tiến, đồng
nghiệp và sự giám sát của cấp trên. [16, tr.9]
Nghiên cứu của Weiss và đồng nghiệp (1967) của trường đại học Minnesota
thì đưa ra các tiêu chí đo lường sự thỏa mãn công việc thông qua bảng câu hỏi thỏa
mãn Minnesota (MSQ). MSQ sử dụng một trong hai bảng đo sau: một bản dài gồm
100 mục phiên bản 1977 và phiên bản 1967) với mỗi khía cạnh sẽ được đo lường
bởi 5 biến và một bảng đo ngắn hơn gồm 20 mục (ứng với 20 yếu tố) đánh giá mức
độ hài lòng chung về mỗi khía cạnh (M.J.Schmit & S.P. Allscheid, 1995). Tuy nhiên,
điểm yếu lớn nhất của MSQ là bảng câu hỏi quá dài. Nếu dùng hình thức 20 câu hỏi
ngắn hơn thì độ sai lệch lớn và không theo phản ánh được cảm nhận của nhân viên.
[18, tr. 12]
Locke (1976) cho rằng sự hài lòng của người lao động được phản ánh qua giá
trị công việc của thang đo nhân tố bao gồm tính chất công việc, tiền lương và phúc
lợi, thăng tiến, công nhận hiệu quả công việc, điều kiện làm việc, đồng nghiệp, giám
sát, công đoàn.[2, tr.13]
Các mô hình trước JSS- nghiên cứu của Spector (1985) được áp dụng cho các
doanh nghiệp sản xuất đều cho kết quả khá thấp, chính vì thế Spector (1977) đã xây
dựng một mô hình riêng cho các nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ, gồm có 9 yếu tố
là lương, cơ hội thăng tiến, điều kiện làm việc, sự giám sát, đồng nghiệp, yêu thích
công việc, giao tiếp thông tin, phần thưởng bất ngờ, phúc lợi. Nó được phát triển và
ứng dụng chủ yếu ở phòng nhân sự của các tổ chức dịch vụ và các tổ chức phi lợi
nhuận như bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe,…[32]
Với nghiên cứu của mình thì Schemerhon (1993) đã đưa ra 8 yếu tố ảnh hưởng
tiếp về sự hài lòng dựa trên phạm vi khái quát của nó.
4
Thứ nhất là hài lòng tổng thể về công việc, phản ánh trạng thái cảm xúc tích
cực chung về công việc. Nếu như phân tích thuật ngữ công việc thì thấy đó cũng là
thuật ngữ khá chung chung, bởi nó có thể bao gồm trong đó nhiều đặc điểm của công
việc: loại công việc, tính chất công việc, các nhiệm vụ, hành vi làm việc… nhưng
đo lường tổng thể không quan tâm đến các chi tiết như vậy.
Thứ hai là hài lòng về các khía cạnh cụ thể của công việc như lương, lợi ích
xã hội, chất lượng mối quan hệ với đồng nghiệp, môi trường làm việc, sự thăng tiến
…, phản ánh trạng thái cảm xúc tích cực về từng mặt cụ thể một cách độc lập. Điều
mà ít người đặt ra trong các nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài là: liệu hài
lòng công việc trong tổng thể có phải là tổng hợp của của sự hài lòng các mặt cụ thể
hay không?
Mức độ hài lòng về công việc của người lao động
Khi nghiên cứu về sự hài lòng về công việc thì hầu hết các bài báo quốc tế
đều tập trung vào phát hiện quy luật về mối quan hệ của nó với các yếu tố như các
yếu tố ảnh hưởng đến nó hay tác động của nó đến các mặt khác nhau của lao động,
tổ chức, con người… Những mô tả về mức độ hài lòng của người lao động trên các
tài liệu nước ngoài là khá hiếm hoi. Chỉ một vài nghiên cứu cho biết thông tin này
trong nghiên cứu của mình.
Worrell (2004) đã sử dụng phiên bản MSQ đã được điều chỉnh năm 1977
(bảng câu hỏi ngắn- 20 câu hỏi) để tiến hành nghiên cứu của ông chỉ ra rằng 90%
các bác sĩ tâm lý trường học ở Mỹ thỏa mãn hoặc rất thỏa mãn với công việc của họ.
Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự thỏa mãn nói chung này đã tăng dần theo thời
gian so với năm 1982 và 1992. Cơ hội thăng tiến tiếp tục là nhân tố tạo ra sự bất mãn
nhưng nó lại không phải là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự bất mãn của chuyên
viên tâm lý trường học, Ý định tiếp tục gắn bó với công việc và giấy chứng nhận
người đến bên ngoài môi trường cũng như các yếu tố công việc để phác thảo nên vô
số những yếu tố có thể tác động đến sự hài lòng của người lao động về công việc.
6
Tuy nhiên, ít các nghiên cứu xem xét sự hài lòng về từng khía cạnh có vai trò như
thế nào đối với sự hài lòng tổng thể nói chung về công việc?
Những điều trên cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc
mang những đặc trưng văn hoá riêng của quốc gia, ngành nghề và tổ chức. Nhưng
đồng thời cũng đặt ra những vấn đề của lý thuyết này trong thời đại ngày nay, cách
thời điểm lý thuyết được xây dựng hơn 50 năm, với biết bao những đổi thay về tổ
chức và quản trị tổ chức cũng như hành vi, hệ thống nhu cầu của người lao động. Nó
cũng cho thấy thuyết 2 nhân tố là có giá trị ở môi trường lao động các nước châu Á
nhưng cũng đặt ra một số vấn đề.
2.2.
Tại Việt Nam
Các nghiên cứu về sự hài lòng của người lao động đối với công việc mới được
nghiên cứu trong những năm gần đây và chủ yếu liên quan đến nguời lao động ở các
doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Phạm Thu Hằng, Phạm Thị Thanh Hồng (2005) cho thấy 5
trong 6 nhân tố thực sự có ảnh hưởng tới sự hài lòng trong công việc của người lao
động gồm bản chất công việc, cơ hội thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và điều kiện
làm việc. Nhân tố tiền lương không có sự ảnh hưởng rõ ràng tới sự hài lòng công
việc của người lao động có thể xuất phát từ việc người lao động có thể xuất phát từ
việc người lao động đã chấp nhận với mức lương khi bắt đầu làm.[9, tr.22]
Nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005) thực hiện kiểm định thang đo Chỉ số
mô tả công việc (JDJ) (Smith và các cộng sự, 1969) và đo lường ảnh hưởng của mức
phúc lợi là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự thỏa mãn công việc, kế đến là tiền
lương và đặc điểm công việc. Nhân tố ít ảnh hưởng nhất là mối quan hệ với cấp trên
và điều kiện làm việc. [7, tr.13]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy (2011) khảo sát sự hài lòng của giảng
viên đại học cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng là đồng nghiệp, thu
8
nhập, đặc điểm công việc và lãnh đạo. Trong đó yếu tố đồng nghiệp có ảnh hưởng
mạnh nhất và yếu tố lãnh đạo ít ảnh hưởng nhất. [19, tr.18]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Cao Anh (2011) chỉ ra 6 yếu tố chính tác
động đến sự hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến
Tre là quyền hạn thực hiện công việc, quan hệ công việc, phương tiện làm việc, thích
nghi với công việc hiện tại, ít khi lo lắng bị mất việc làm, chính sách xử lý kỷ luật
công bằng. Theo đó, yếu tố "quyền hạn thực hiện công việc" có ảnh hưởng mạnh
nhất đến sự hài lòng của người lao động và "chính sách xử lý kỷ luật công bằng" có
ảnh hưởng ít nhất.
Ngoài ra, nghiên cứu này còn so sánh đặc điểm cá nhân bao gồm giới tính,
nhóm tuổi, trình độ học vấn, doanh nghiệp, thời gian làm việc, thu nhập, chế độ phúc
lợi, cho thấy vẫn có sự khác biệt mức độ thỏa mãn với các yếu tố trên của người lao
động đối với doanh nghiệp. [2, tr.50-55]
Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Mai Hương (2011) về “Sự hài lòng về xã
hội, về công việc và về cuộc sống cá nhân của người công nhân hiện nay”. Tác giả
nghiên cứu 1.440 công nhân thuộc 8 doanh nghiệp ở các lĩnh vực công nghiệp khác
nhau (than, xây dựng, dệt may, da giầy, thủy sản, kỹ thuật cơ khí điện tử). Kết quả
cuộc khảo sát mức độ hài lòng của người công nhân đối với xã hội, công việc và với
cuộc sống cá nhân cho thấy, trong đội ngũ công nhân hiện nay có sự đan xen giữa
hài lòng và không hài lòng với các mặt khác nhau trong cuộc sống xã hội của mình.
Họ thể hiện sự không đồng đều trong mức độ hài lòng về các chiều cạnh khác nhau
cũng như các nội dung khác nhau. Sự không đồng đều này thể hiện ở chỗ họ khá hài
Mục đích nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận về sự hài lòng của người lao động tại Công ty cổ phần
chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội. Từ đó đưa ra một số kiến nghị
nhằm gia tăng sự hài lòng của người lao động trong doanh nghiệp.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
10
Xác định một số vấn đề lý luận về sự hài lòng của người lao động trong
doanh nghiệp.
Tìm hiểu mức độ hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty cổ
phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội.
Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả làm
việc của người lao động
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty
cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức thống kê toán
học như số trung bình cộng, tính tỷ lệ %… nhằm xử lý các số liệu điều tra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn các khái niệm về sự hài lòng trong công
việc của người lao động, biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa thực tiễn, là tài liệu giúp cho Công
ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội tìm hiểu, đánh giá
hiện trạng mức độ hài lòng của người lao động thông qua các biểu hiện về sự hài
lòng của người lao động, đồng thời tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng
này, giúp công ty hiểu rõ người lao động đang cần được quan tâm, từ đó có những
kiến nghị sử dụng lao động hợp lý.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của người lao động
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về sự hài lòng trong công việc của
người lao động tại công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà
Nội.
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI
Ban kiểm soát;
b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc
lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập
thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý
điều hành công ty.
2. Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng
quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của
công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị
là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn một người đại diện
theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.
1.2. Sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty cổ phần chế
biến kinh doanh lương thực- thực phẩm Hà Nội.
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm hài lòng
Sự hài lòng về công việc là trạng thái thoải mái hay những cảm xúc dương tính
mà người lao động có được từ những đánh giá về công việc của họ hoặc những trải
nghiệm về công việc mà họ đang làm (Locke, 1976). Nó phản ánh chất lượng cuộc
sống tại nơi làm việc, nơi mà người lao động sử dụng một phần đáng kể thời gian
vật chất trong ngày của mình [2, tr.9].
14
Từ một góc độ khác, thuật ngữ hài lòng không mô tả nó là gì mà bàn đến nguồn
gốc xuất hiện của nó. Hài lòng được coi là sự lượng giá, trong đó cá nhân đánh giá
chất lượng sống trên cơ sở các tiêu chuẩn cá nhân (Shin & Johnson, 1978). [26, tr.
475-492]
Theo cách hiểu này sự hài lòng về công việc là kết quả đánh giá khi đối chiếu
vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm
(hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”. [11]
Theo thuyết nhu cầu của A. Maslow, tác giả cho rằng nhu cầu và sự phát triển
của con người theo các bậc từ thấp đến cao. Sau khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn
thì đòi hỏi cần thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn. Dựa trên các thang bậc từ cơ bản đến
phức tạp của đời sống, các cá nhân sẽ có những mức độ hài lòng khác nhau khi nhu
cầu được đáp ứng ở những mức độ khác nhau. [19]
Theo Kreitener & Kinicki (2007), sự hài lòng công việc/không hài lòng trong
công việc được định nghĩa là thái độ tích cực hoặc tiêu cực của một người về việc
đánh giá công việc của họ, không có ý định/có ý định rời bỏ tổ chức và giới thiệu
tốt/ không tốt về tổ chức với bên ngoài. [17, tr.169]
Theo Smith và cộng sự (1969) sự hài lòng là trạng thái tình cảm của người lao
động đối với các khía cạnh công việc khác nhau. Mức độ hài lòng với các khía cạnh
bao gồm công việc, lãnh đạo, đồng nghiệp, cơ hội thăng tiến, thu nhập ảnh hưởng
đến thái độ và nhận thức của người lao động. [16]
1.2.1.2. Khái niệm công việc
Điều 13 trong bộ luật Lao động của nhà nước Việt Nam quy định: “Mọi hoạt
động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là
“việc làm”[1]
Theo đại từ điển Tiếng việt của Nguyễn Như Ý chủ biên (1999) thì:
- Công việc: Là việc phải làm.
- Việc làm: Là công việc, nghề nghiệp thường ngày để sinh sống.
16
- Nghề nghiệp: Là thành thạo trong một công việc nào đó. [24]
1.2.1.3. Khái niệm người lao động
Theo bách khoa toàn thư, người lao động là người làm công ăn lương, đóng
góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử
dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện
thành phần nhận thức (cảm xúc), tình cảm và hành vi. [28]
Luddy (2005) cho rằng sự hài lòng với công việc là phản ứng về mặt tình cảm
và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc. Luddy nhấn mạnh các
nguyên nhân của sự hài lòng công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp
trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần
thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cơ cấu tổ chức.
[30]
Sự hài lòng công việc là cảm giác thành công của công nhân và thành công
trong công việc. Sự hài lòng công việc là thực hiện công việc yêu thích, làm tốt và
được thưởng cho những nỗ lực của một người. Sự hài lòng công việc là sự nhiệt tình
và hạnh phúc với công việc của một người. Sự hài lòng công việc là chìa khóa dẫn
đến sự công nhận, thu nhập, khuyến mãi, và sự đau đớn của các mục tiêu khác dẫn
đến cảm giác lấp đầy (Kaliski, 2007). [25, tr.77-86]
Sự hài lòng công việc là tập hợp cảm giác và niềm tin mà mọi người có về công
việc hiện tại của họ. Cấp độ về mức độ hài lòng công việc có thể dao động từ sự hài
lòng cực đoan đến sự bất mãn cực đoan. Mọi người cũng có thể có thái độ về các
chiều cạnh khác nhau của họ trong công việc như loại công việc họ làm, đồng nghiệp,
giám sát viên hoặc cấp dưới và mức lương của họ (George et al., 2008). [25, tr.7786]
Sự hài lòng công việc là sự kết hợp giữa sinh lý và các mặt tâm lý mà nhân viên
cảm thấy thỏa mãn công việc của họ. Trong thực tế, sự hài lòng công việc là xác
18