ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ HOÀI UYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA HTX ĐÔNG NAM DƢỢC XÃ HÀ VỊ - HUYỆN BẠCH THÔNG
TỈNH BẮC KẠN”
Hệ đào tạo
: Chính quy
Định hƣớng đề tài : Hƣớng nghiên cứu
Chuyên ngành
: Kinh tế nông nghiệp
Khoa
: Kinh tế và phát triển nông thôn
Khóa học
: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng giúp sinh viên trau dồi,
củng cố, bổ sung kiến thức đã học tập được ở trường. Đồng thời cũng giúp
sinh viên tiếp xúc với thực tế đem những kiến thức đã học áp dụng vào thực
tiễn sản xuất. Qua đó giúp sinh viên học hỏi và rút ra kinh nghiệm từ thực
tếđể khi ra trường trở thành một cán bộ có năng lực tốt, trình độ lí luận cao,
chuyên môn giỏi. Đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội.
Với mục đích và tầm quan trọng trên, được sự phân công của Khoa
Kinh tế và Phát Triển Nông Thôn, đồng thời được sự hướng dẫn của Thầy
giáo Ths. Đỗ Hoàng Sơn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực
trạng hoạt động SXKDcủa HTX Đông Nam Dược, xã Hà Vị, huyện Bạch
Thông, tỉnh Bắc Kạn”.
Để hoàn thành khóa luận này, không thể thiếu sự hỗ trợ của các thầy
cô, các anh chị tại đơn vị thực tập, các cô, chú và người dân thôn khuổi thiêu
xã Hà Vị huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên, quý thầy cô khoa kinh tế và phát triển nông thôn. Em cũng chân
thành cám ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các bác, các cô, chú ở HTX Đông
Nam Dược, và người dân của thôn Khuổi Thiêu xã Hà Vị huyện Bạch Thông
tỉnh Bắc Kạn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Đỗ Hoàng Sơn đã hướng
dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Trong quá trình làm luận văn, em
không tránh khỏi có những sai sót. Mong quý thầy cô thông cảm và giúp đỡ.
Cuối cùng em xin chúc thầy và quý thầy cô khoa kinh tế và phát triển
nông thôn dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong công việc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 3năm 2018
Sinh viên thực tập
Bình quân
CP
Chi phí
DT
Doanh thu
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
HQKT
Hiệu quả kinh tế
HTX
Hợp tác xã
LN
Lợi nhuận
NĐ-CP
Nghị định của chính phủ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 3
1.2.1. Mục tiêu chung ........................................................................................ 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................ 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 4
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 4
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 4
PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN............................................. 5
2.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 5
2.1.1. Một số khái niệm có liên quan ................................................................ 5
2.1.2. Vai trò Hợp tác xã trong phát triển nông thôn ........................................ 8
2.1.3. Nhận thức về bản chất mô hình HTX trong nền kinh tế thị trường ........ 9
2.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 12
2.2.1. Phát triển dược liệu tại Việt Nam và Thế giới ...................................... 12
2.2.2. Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam .......................... 20
PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..22
3.1. Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu ........................................... 22
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 22
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 22
3.1.3. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................ 22
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22
vi
3.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 23
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 23
3.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................... 24
3.4.1. Một số chỉ tiêu phân tích và cách tính hiệu quả .................................... 24
3.4.2. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ ................................ 26
nông thôn và canh tác nông nghiệp. Trong chiến lược phát triển nông nghiệp
và quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay cho thấy rằng, hợp
tác xã nông nghiệp đang có vai trò thiết yếu trong việc liên kết hộ nông dân đi
lên sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, đặc biệt tạo ra sức cạnh tranh
hàng hóa và chuỗi giá trị nông sản. Ở hầu hết các nước có phong trào hợp tác
xã phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, CHLB Đức, Hoa Kỳ v.v..
khẳng định hợp tác xã nông nghiệp có vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vật
tư nông nghiệp, bao tiêu và tiếp thị sản phẩm cho người nông dân. Vai trò
cung ứng vật tư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân đã trở thành
công cụ đắc lực và hữu hiệu cho thành viên hợp tác xã, người nông dân yên
tâm sản xuất, đồng thời tạo ra vòng tròn khép kín giữa người sản xuất - hợp
tác xã - thị trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hầu hết các hợp tác xã nông
nghiệp, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tuy thực hiện hoạt động cung cấp vật
tư nông nghiệp, chế biến và tiêu thụ, tiếp thị sản phẩm nông sản nhưng vẫn
còn rời rạc, cầm chừng nên không có sức cạnh tranh cao dẫn đến người nông
dân thiếu niềm tin vào hợp tác xã, người nông dân “khi được mùa thì rớt giá
và chịu cảnh bị tư thương ép giá”.
Cần khẳng định, phát triển bền vững các HTX nông nghiệp là vấn đề
trụ cột cho thành công của mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam
theo hướng sản xuất hàng hóa đem lại giá trị cao. Một thực tế cho thấy, tái cơ
cấu nông nghiệp cần phải dựa vào dân và hướng vào lợi ích của người nông
dân. Tái cơ cấu nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung chỉ thực sự thành
2
công khi có sự tham gia đồng thuận của người dân, từ đó tạo sự gắn kết trong
hợp tác kinh doanh và phát triển. Do đó cần tập trung hỗ trợ HTX củng cố và phát
triển bền vững làm nền tảng và động lực trong việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
HTX là một tổ chức đã được nhiều người biết đến trong nhiều năm qua.
thuật trong trồng và chăm sóc cây dược liệu kém, khả năng nắm bắt thông tin
và kết nối thị trường không mạnh, thiếu kiến thức trong xây dựng kế hoạch
SXKD và hoạch toán kinh tế. Ngoài ra, thiếu vốn, thiếu đất sản xuất để mở
rộng sản xuất cung là một khó khăn không nhỏ. Để làm rõ những thuận lợi,
khó khăn và tồn tại trong hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược, trên
cơ sở đó đưa ra được những giải pháp giúp hoạt động SXKD của HTX có
hiệu quả, phát triển ổn định là điều vô cùng cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu
thực tế trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng hoạt động
SXKD của HTX Đông Nam Dược, xã Hà Vị, huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược tại xã
Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Từ đó đưa ra một số định hướng,
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của HTX nông nghiệp
đặc thù này theo hướng ổn định và vững mạnh hơn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
-Đánh giá được thực trạng hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược.
- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKDcủa HTX.
- Làm rõ được những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động SXKD của
HTX Đông Nam Dược.
- Đề xuất đuộc một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
SXKD của HTX Đông Nam Dược.
4
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản
và những kiến thức đào tại nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên
đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức
ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc
hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn
được, loại nào có độc không ăn được.
Phát triển cây dược liệu là: là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của
nuôi trồng dược liệu trong một thời gian nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng trưởng về quy mô, diện tích, sản lượng và cơ cấu sản xuất của ngành.
Phát triển dược liệu bền vững: là sự đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
dược liệu hiện tại nhưng không làm xấu đi khả năng đáp ứng ngày càng cao
về phát triển dược liệu cho tương lai.
7
2.1.1.3. Khái niệm về chi phí
- Chi phí:
+ Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí thay đổi theo quy mô sản
xuất, hoặc doanh số như lao động, nguyên liệu hoặc chi phí hành chính….
+ Chi phí cố định: là các khoản chi phí không thay đổi tùy thuộc vào
quy mô sản xuất hoặc mức doanh số như tiền thuê nhà, thuê tài sản, tiền bảo
hiểm hoặc chi phí trả lãi vay…
+ Chi phí cơ hội: là chi phí của việc từ bỏ sản xuất cái khác đi sản xuất
cái này.
- Doanh thu là tổng lợi ích kinh tế mà các tổ chức, cá nhân SXKD thu
được, phát sinh từ các hoạt đông SXKD thông thường của tổ chức cá nhân đó.
- Lợi nhuận: là phần còn lại của tổng sản phẩm trừ đi tổng chi phí sản xuất.
2.1.1.4. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực,
vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Từ khái niệm khái quát này,
qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết của HTX nông nghiệp được thực hiện,
sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo điều kiện
hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá. Ví dụ dịch vụ làm
đất, dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ bảo vệ thực vật… đòi hỏi sản xuất của hộ nông
dân phải được thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng và chủng loại giống,
về thời vụ gieo trồng và chăm sóc.
HTX là nơi tiếp nhận những trợ giúp của Nhà nước tới hộ nông dân, vì
vậy hoạt động của HTX có vai trò làm cầu nối giữa Nhà nước với hộ nông
dân một cách có hiệu quả trong một số trường hợp, khi có nhiều tổ chức tham
gia hoạt động dịch vụ cho hộ nông dân hoạt động của HTX là đối trọng buộc
các đối tượng phải phục vụ tốt cho nông dân.
9
2.1.3. Nhận thức về bản chất mô hình HTX trong nền kinh tế thị trường
Ở Việt Nam, dù mô hình hợp tác xã đã được áp dụng từ lâu, nhưng hầu
như nó không hoạt động theo đúng nghĩa. Người nông dân hầu như không
hợp tác lẫn nhau, dẫn tới sản xuất nông nghiệp có xu hướng nhỏ lẻ, phân tán,
không định hướng. Người nông dân làm ra của cải, nhưng họ chưa được
hưởng thụ thành quả lao động đó. Càng làm ra nhiều sản phẩm, họ càng chịu
thiệt nhiều. Lý do nằm ở chỗ, mỗi nông dân làm một kiểu, bán một kiểu, mua
một kiểu, số lượng ít không tạo ra hiệu quả kinh tế đủ lớn. Để giải quyết vấn
đề này, phải có những nhận thức đầy đủ về bản chất của mô hình hợp tác xã
Hợp tác xã (Co-operative) là một tổ chức kinh tế, do những cá nhân,
hay nhưng doanh nghiệp vừa và nhỏ có chung mục đích thành lập ra, được sở
hữu chung. Hợp tác xã là một tổ chức tương trợ phi lợi nhuận, được vận hành
một cách dân chủ, là một phần quan trọng của kinh tế tập thể.
Hợp tác xã do cá nhân tự nguyện đóng góp, nên họ là một nhà đầu tư.
Những ý kiến của mỗi cá nhân đều được tôn trọng và thực thi khi nhận được
(4) Là tổ chức có mục đích hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau
(5) Là tổ chức độc lập về chính trị
Điểm quan trọng của Hợp tác xã là: sự hỗ trợ lẫn nhau. Nhu cầu hỗ trợ
lẫn nhau thể hiện rất rõ trong lĩnh vực nông nghiệp. Thí dụ: mua hạt giống,
mua phân bón, áp dụng kỹ thuật, dùng chung máy móc, chế biến sau thu
hoạch, bán sản phẩm… Mỗi cá thể mua cùng một mặt hàng thì nếu “mua
chung” sẽ giảm được giá thành, chí phí vận chuyển. Ngoài ra, quá nhiều cá
thể sản xuất sẽ triệt tiêu lẫn nhau, mất sức cạnh tranh. Muốn xây dựng thương
hiệu nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh và vươn ra thành thị để chiếm
lĩnh thị trường, thì các cá thể phải kết hợp với nhau thành một pháp nhân. Khi
đó, sản xuất nông nghiệp mới tạo ra hiệu quả kinh tế, có chiến lược cạnh
tranh, nâng cao vị thế kinh tế, vị thế xã hội, ổn định kinh tế nông hộ.
11
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, bản chất của HTX nông nghiệp
không phải là sự phủ định, sự thay thế kinh tế hộ, mà làm cho việc sản xuất cá
thể của các xã viên có sức cạnh tranh cao hơn, thu nhập của xã viên cao hơn
trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, thông qua việc HTX cung
cấp các dịch vụ đầu vào với giá thấp, chất lượng cao cho các hộ xã viên, qua
việc phối hợp kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các hộ và tổ chức tiêu thụ
sản phẩm của các hộ.
Nhìn trên góc độ tổ chức các HTX có thể thấy, để lôi kéo các hộ nông
dân tham gia vào HTX thì các HTX nông nghiệp Việt Nam phải đảm bảo giải
quyết được ngay việc giúp cho các hộ nông dân tiêu thụ các sản phẩm nông
nghiệp với giá phải chăng và chi phí thấp. Để làm được điều này khâu tổ chức
quản lý các HTX nông nghiệp Việt Nam phải đáp ứng được ba điều kiện:
+ Các thành viên trong Ban quản lý hợp tác xã phải có năng lực chuyên
môn, có tâm huyết với mục tiêu giúp nông dân làm giàu hơn là dùng hợp tác
cứu cây thuốc của các nước được sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực
tiễn lớn. Những kiến thức truyền thống về cây thuốc và kinh nghiệm bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc không những góp phần quan trọng trong công
tác bảo tồn các giá trị văn hóa và đa dạng sinh học mà còn mở ra một triển
vọng cho việc phát triển thuốc mới.
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho sự
phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết
hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân
tộc là một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền
đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai.
Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức
quan trọng. Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình
Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc.
13
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm sản ngoài gỗ để làm
thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử
dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn
ngoại tệ đáng kể. Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia
đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh. Vào thế kỷ XVI, Lý Thời
Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được
in ấn lại. Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại
cây cỏ để chữa bệnh. Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành
công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới
thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, hóa
sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại cây thuốc theo từng địa
phương như “Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược
danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” …(Dẫn theo Trần Hồng
giống, trồng, chăm sốc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn
bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [10].
Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 20005000 USD/ Kg. Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi
kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này.
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 –
70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh
trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý
giá của các dân tọc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe,
phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng
80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu
phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn
theo Nguyễn Văn Tập, 2006) [7].
15
2.2.1.2. Phát triển dược liệu tại Việt Nam
Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to
lớn về tài nguyên cây thuốc, đây cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển
nguồn dược liệu, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước. Tuy
nhiên, cho đến nay, nguồn dược liệu nước ta vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào
nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chưa phát huy được hết những tiềm năng
thảo dược tự nhiên.
Việt Nam hiện có 4.000 loài cây thuốc, hơn 50 loài tảo biển, 75 loài
khoáng vật và gần 410 loài động vật làm thuốc, trong đó có nhiều loại dược
liệu quý được thế giới công nhận như cây hồi, quế, atiso, sâm Ngọc Linh
…Tổng sản lượng dược liệu trồng ở Việt Nam ước tính khoảng 100.00
tấn/năm. Với sự đa dạng về khí hậu thổ nhưỡng – đất đai, ngay từ cưới những
năm của thập kỷ 60-80 ở Việt Nam đã hình thành những vùng trồng, sản xuất
khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên
10.000 tấn nguyên liệu thô [13]. Hiện nay, do khai thác bừa bãi để chế biến
trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều
loại cây dược liệu trở nên rất hiếm.
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ
truyền phương Đông, Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến
lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, …Ngoài ra Sa nhân còn dùng
trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu. Các tác giả đã
nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ
thuật, thời gian trồng, thu hoạch của Sa nhân (Lê Trần Đức, 1997) [3].
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới
tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới
tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán,
bảo vệ, khoanh nuôi rừng. Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái,
sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích,
17
Sa nhân, Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp, …(Nguyễn Ngọc Bình và cs,
2000). [5]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả - huyện
Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây
thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây
thuốc của đồng bào dân tộc ở đây. Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất
nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền. Tuy nhiên những kiến
thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức.
Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc,
nơi phân bố, công dụng, cách thu hái 10 chúng. Thêm vào đó họ còn đưa ra
một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây