CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện.
- Họ và tên:
- Ngày tháng năm sinh:
- Nơi công tác:
- Chức danh (chức vụ):
- Trình độ chuyên môn:
- Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số giải pháp tổ chức lớp học
theo mô hình trường học mới Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh
lớp 2 ở trường Tiểu học.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: áp dụng trong ngành Giáo dục.
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: ngày 20 tháng 8 năm 2018
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Học sinh lớp 2 chưa biết hợp tác trong khi học nhóm. Một số em học tập thụ động,
chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cô giáo, ít sáng tạo, tính tự giác chưa cao. Các em còn
rụt rè chưa quen với cách học cũng như chưa mạnh dạn bày tỏ ý kiến. Giải pháp nhằm
giúp học sinh tự tin, có khả năng làm chủ bản thân, có khả năng ứng xử phù hợp, tích cực
trước các tình huống trong cuộc sống; học sinh nỗ lực tiếp thu bài giảng và tìm tòi những
kiến thức liên quan đến bài học để liên hệ áp dụng vào thực tiễn. Đồng thời xây dựng tinh
thần chia sẻ, ý thức trách nhiệm cho các em. Tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó, quan tâm
giúp đỡ lẫn nhau trong học tập; Nâng cao kỹ năng làm việc nhóm; Nâng cao kỹ năng điều
hành của Hội đồng tự quản. Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên và học sinh; Giúp
giáo viên biết cách trang trí và sử dụng các công cụ hỗ trợ mô hình trường học mới; Đánh
giá động viên khuyến khích học sinh kịp thời.
+ Về nội dung của sáng kiến: Ổn định tổ chức lớp học. Xây dựng các nề nếp của
lớp ngay từ đầu năm học. Xây dựng Hội đồng tự quản của lớp và một số công cụ hỗ trợ
Hội đồng tự quản. Giáo viên thiết kế và xây dựng môi trường lớp học thân thiện, tích cực.
Đổi mới về phương pháp dạy-học. Tổ chức các hoạt động tập thể và các trò chơi vui tươi
năng: 5em, chiếm tỉ lệ: 18%; hoàn thành: 15em, chiếm tỉ lệ: 56%; chưa hoàn thành: 7em,
chiếm tỉ lệ: 26%. Về năng lực - phẩm chất số học sinh tốt là 6em, chiếm tỉ lệ: 22%; số
học sinh đạt là 15 em, chiếm tỉ lệ: 56%, số học sinh cần cố gắng là 6em, chiếm tỉ lệ: 22%.
+ Đến giữa tháng 4, hoàn thành tốt kiến thức, kỹ năng là 11em, chiếm tỉ lệ: 41%;
hoàn thành: 16em, chiếm tỉ lệ: 59%; chưa hoàn thành: 0em, chiếm tỉ lệ: 0%. Về năng lực
- phẩm chất số học sinh tốt là 13em, chiếm tỉ lệ: 48%; số học sinh đạt là 14em, chiếm tỉ
lệ: 52%; số học sinh cần cố gắng là 0em, chiếm tỉ lệ: 0%.
Hiệu quả về xã hội: Hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh và cộng đồng tạo
điều kiện cho cha mẹ các em và các tổ chức, người dân địa phương tham gia vào các hoạt
động nhà trường thường xuyên và hiệu quả; Cha mẹ học sinh và cộng đồng trở thành chủ
thể của lực lượng giáo dục, trực tiếp hỗ trợ học tập, đồng thời tham gia đánh giá và giáo
dục học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc sửa đổi Quy định đánh giá học sinh tiểu học. Lớp học tổ chức
theo mô hình trường học mới thì học sinh được tự chủ, tự quản, dân chủ, thân mật và hợp
tác; học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập để phát triển toàn diện cả về thể
chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em; phát huy tốt nhất tiềm
năng của bản thân được quy định tại điều 4 Luật trẻ em năm 2019.
Hiệu quả về môi trường: Việc xây dựng các công cụ hỗ trợ học tập trong lớp học
khi tổ chức hoạt động học tập cho học sinh có hiệu quả rất rõ rệt, giúp các em trực tiếp
thực hành học tập thông qua các đồ vật thật, tạo môi trường lớp học thân thiện và hiệu
quả. Việc tận dụng những vỏ hộp bánh đã qua sử dụng, những tấm giấy bìa cứng để trang
trí các công cụ hỗ trợ học tập, các chai nhựa bỏ tái chế lại để phục vụ cho việc học tập
cũng góp phần vào việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn
toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Người nộp đơn
2
Nhược điểm:
- Về phía học sinh: Một vài học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và
làm theo thầy cô giáo, ít sáng tạo, tính tự giác chưa cao; Hội đồng tự quản học sinh
chưa biết cách điều hành chung cả lớp.
- Về phía giáo viên: Một vài giáo viên chưa thật gần gũi, thân thiện với học
sinh; chưa xây dựng được các công cụ hỗ trợ học tập theo mô hình trường học mới.
Việc đổi mới phương pháp dạy - học nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh còn gặp nhiều khó khăn
- Về phía phụ huynh học sinh: Một vài phụ huynh phải lo vấn đề mưu sinh
nên chưa thật sự quan tâm sâu sát đến việc giáo dục đạo đức và quản lí giờ giấc
học hành, sinh hoạt của con em.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
3.2.1 Mục đích của giải pháp:
- Mục đích chung: Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới Việt Nam
3
nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh lớp 2 ở trường Tiểu học Ngọc
Chúc 1 năm học 2018 – 2019, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh nhà.
- Mục đích cụ thể: 100% học sinh có kỹ năng làm việc nhóm, tích cực, tự
giác trong học tập; Hội đồng tự quản điều hành các hoạt động trong lớp đạt hiệu
quả 100%. Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên và học sinh; 100% giáo viên
biết cách trang trí và sử dụng các công cụ hỗ trợ mô hình trường học mới; 100%
học sinh được đánh giá động viên khuyến khích kịp thời. Giáo viên tranh thủ sự
tham gia giáo dục của cộng đồng.
3.2.2 Nội dung giải pháp:
3.2.2.1 Tên giải pháp:
(i) Giải pháp 1: Ổn định tổ chức lớp học.
(ii) Giải pháp 2: Xây dựng các nề nếp của lớp ngay từ đầu năm học.
(iii) Giải pháp 3: Xây dựng Hội đồng tự quản của lớp và một số công cụ hỗ
tịch hội đồng tự quản từ đầu năm học để các em chỉ huy được các nề nếp lớp.
Những nề nếp cần được xây dựng trong lớp: nề nếp học bài làm bài trước khi đến
4
lớp, nề nếp học tập theo nhóm trong giờ học, nề nếp truy bài đầu giờ, nề nếp đi
học đúng giờ, nề nếp tự quản trong học tập…Khi các nề nếp đó trở thành thói quen
của từng cá nhân học sinh thì các em sẽ tự giác trong các hoạt động học tập cũng
như các hoạt động khác. Khi đó giáo viên ít cần đến sức lực của mình để điều
khiển quá trình học tập của học sinh.
(iii) Giải pháp 3: Xây dựng Hội đồng tự quản của lớp và một số công cụ
hỗ trợ Hội đồng tự quản:
Hoạt động 1: Theo mô hình của trường học mới, quản lí lớp học là “Hội
đồng tự quản học sinh” đây là một công cụ giúp học sinh được phát huy quyền làm
chủ quá trình học tập, giáo dục; Hội đồng tự quản học sinh và các ban trong lớp do
học sinh tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm. Giáo viên tư vấn, khích
lệ, giám sát cùng với sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh giúp học sinh thành lập Hội
đồng tự quản học sinh, Ban học tập, Ban Văn nghệ, Ban vệ sinh, Ban đồ dùng,…
để khuyến khích và bảo đảm cho các em tham gia một cách dân chủ, tích cực, toàn
diện vào các hoạt động của nhà trường đồng thời chuẩn bị cho các em ý thức trách
nhiệm khi thực hiện quyền và bổn phận của mình trong lớp học và trong các hoạt
động của trường; phát triển cho các em lòng khoan dung, sự tôn trọng, bình đẳng,
tinh thần hợp tác và đoàn kết.
Hoạt động 2: Sau khi thành lập được hội đồng tự quản, tôi đã tổ chức tập
huấn cho hội đồng tự quản về nhiệm vụ cụ thể của từng ban và cách thức làm việc
như: Chủ tịch hội đồng tự quản vào đầu và cuối mỗi tiết học hoặc khi có khách tới
biết mời các bạn đứng lên chào, mời Ban văn nghệ lên sinh hoạt văn nghệ, sau đó
mời Ban đồ dùng lên phát đồ dùng học tập; Các Phó chủ tịch Hội đồng tự quản phụ
trách theo dõi, đôn đốc, giúp đỡ các bạn thực hiện các nhiệm vụ được phân công
phụ trách; Ban văn nghệ tổ chức cho các bạn hát, múa, chơi trò chơi vào đầu tiết
thiện, tích cực:
Giáo viên cần tận dụng hết không gian của lớp học: Từ mảng tường trên cao,
mảng tường hai bên lớp học để thể hiện những mảng màu sắc, những hình ảnh
sống động thu hút sự tiếp cận của học sinh bởi trên tất cả không gian trong và
ngoài lớp được chuẩn bị và hỗ trợ quá trình học tập rất rõ nét: những câu tục ngữ,
những bài văn hay, bài viết đẹp, sản phẩm khéo tay của học sinh đều được trưng
bày, tạo cơ hội cho tất cả học sinh được đọc, được hiểu nhiều hơn sự trong sáng
của Tiếng Việt. Giáo viên cần đưa những đồ dùng học tập do Bộ Giáo Dục cấp,
những đồ dùng tự làm vào các góc môn Toán, góc môn Tiếng Việt, góc Tự nhiên
và xã hội phục vụ cho việc học tập của các em. Giáo viên vận động phụ huynh và
học sinh quyên góp sách, truyện cũ, các loại báo nhi đồng,… bỏ vào thư viện lớp
học, giao cho ban thư viện quản lí, nhằm tạo điều kiện cho học sinh đọc sách ở mọi
lúc, mọi nơi.
(v) Giải pháp 5: Đổi mới về phương pháp dạy-học:
Trường học mới Việt Nam là nơi học sinh cùng nhau học tập để lĩnh hội
những kiến thức liên quan mật thiết đến cuộc sống của các em, học sinh được học
tập theo bản năng vốn có, được hoạt động, vui chơi (mỗi ngày tới trường là một
ngày vui), được tự khẳng định mình, nuôi dưỡng lòng khát khao, mong muốn được
cống hiến sáng tạo. Các em tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực, tự
giác. Vì vậy, trong mô hình này thì học sinh học tập cá nhân, tự học là chính. Đồng
thời phối hợp với học hợp tác và học theo nhóm; Vai trò của giáo viên thay đổi thật
sự, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và khích lệ các em tìm tòi, chiếm lĩnh
kiến thức, hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp, ứng xử dân chủ, bình đẳng.
Giáo viên không phải soạn bài nhưng dành thời gian nghiên cứu kĩ bài học trước
khi lên lớp, làm đồ dùng, sưu tầm tư liệu giúp học sinh gắn kiến thức với thực tiễn;
vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức phù hợp với nội dung bài dạy và đối
tượng học sinh thông qua tổ chức các hoạt động dạy học cho học sinh; đánh giá
hiệu quả đạt được sau mỗi tiết dạy để có biện pháp cụ thể khắc phục những tồn tại
ở tiết học sau.
(vi) Giải pháp 6: Tổ chức các hoạt động tập thể và các trò chơi vui tươi
và việc làm sai, những điều mình cần phải học tập bạn để phát huy và khắc phục.
Không nên chê các em trước các bạn khi các em mắc phải những khuyết điểm như
bài làm sai, chữ viết chưa đẹp… Những em có khuyết điểm giáo viên nên trực tiếp
trò chuyện và nhắc nhở.
(viii) Giải pháp 8: Phối hợp với cộng đồng cùng tham gia công tác giáo
dục:
Giáo viên cần tranh thủ sự ủng hộ của các cấp, các đoàn thể, chính quyền
địa phương, hội khuyến học, hội phụ huynh, đặc biệt là tất cả phụ huynh của lớp. Ở
mô hình này luôn có sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng. Giáo viên cần phối
hợp tốt với phụ huynh học sinh để xây dựng được Sơ đồ cộng đồng. Bởi vì nó giúp
ta hiểu được khoảng cách mà mỗi em học sinh phải đi từ nhà đến trường, giúp giáo
viên biết đường đi đến nhà học sinh; Giáo viên cần nhờ phụ huynh học sinh cùng
giúp xây dựng một Góc cộng đồng vì Góc cộng đồng giúp cho giáo viên biết các
sản phẩm đặc trưng của địa phương, lễ hội văn hoá để đưa vào bài học. Mặt khác
những kiến thức học sinh được học ở trên lớp cũng có thể được áp dụng vào cuộc
sống gia đình và cộng đồng. Tuyên truyền và nâng cao nhận thức trong xã hội về
vai trò của giáo dục, từ đó khắc phục những tư tưởng, nhận thức không đúng đắn
về giáo dục, giúp phụ huynh phối kết hợp với giáo viên cùng với nhà trường trong
việc tham gia giáo dục học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Thực hiện:
"Giáo dục cho mọi người, mọi người làm giáo dục".
* Tính mới và sáng tạo của giải pháp: Bồi dưỡng cho Chủ tịch hội đồng
tự quản từ đầu năm học để các em chỉ huy được các nề nếp lớp. Những nề nếp cần
được xây dựng trong lớp: nề nếp học bài làm bài trước khi đến lớp, nề nếp học tập
theo nhóm trong giờ học, nề nếp truy bài đầu giờ, nề nếp đi học đúng giờ, nề nếp
tự quản trong học tập; Giáo viên tư vấn, khích lệ, giám sát cùng với sự hỗ trợ của
cha mẹ học sinh giúp học sinh thành lập Hội đồng tự quản học sinh, Ban học tập,
7
Ban Văn nghệ, Ban vệ sinh, Ban đồ dùng…; Ban văn nghệ tổ chức cho các bạn
kiệm được về thời gian, về kinh tế trong việc hướng dẫn con em học ở nhà hoặc
cho con đi học thêm ở ngoài nhà trường, ước tính tiết kiệm được 1.450.000đồng/học
sinh/năm cho con đi học thêm. Giáo viên tiết kiệm được thời gian trong việc truyền
thụ kiến thức mới cho học sinh nhưng vẫn đạt chất lượng giáo dục. Cụ thể:
+ Trước khi chưa áp dụng giải pháp, số học sinh hoàn thành tốt kiến thức, kỹ
năng: 5em, chiếm tỉ lệ: 18%; hoàn thành: 15em, chiếm tỉ lệ: 56%; chưa hoàn
thành: 7em, chiếm tỉ lệ: 26%. Về năng lực - phẩm chất số học sinh tốt là 6em,
chiếm tỉ lệ: 22%; số học sinh đạt là 15 em, chiếm tỉ lệ: 56%, số học sinh cần cố
gắng là 6em, chiếm tỉ lệ: 22%.
+ Đến giữa tháng 4, hoàn thành tốt kiến thức, kỹ năng là 11em, chiếm tỉ lệ:
41%; hoàn thành: 16em, chiếm tỉ lệ: 59%; chưa hoàn thành: 0em, chiếm tỉ lệ: 0%.
Về năng lực - phẩm chất số học sinh tốt là 13em, chiếm tỉ lệ: 48%; số học sinh đạt
là 14em, chiếm tỉ lệ: 52%; số học sinh cần cố gắng là 0em, chiếm tỉ lệ: 0%.
- Hiệu quả về xã hội: Hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh và cộng đồng
8
tạo điều kiện cho cha mẹ các em và các tổ chức, người dân địa phương tham gia
vào các hoạt động nhà trường thường xuyên và hiệu quả; Cha mẹ học sinh và cộng
đồng trở thành chủ thể của lực lượng giáo dục, trực tiếp hỗ trợ học tập, đồng thời
tham gia đánh giá và giáo dục học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày
22 tháng 9 năm 2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi Quy định đánh
giá học sinh tiểu học. Lớp học tổ chức theo mô hình trường học mới thì học sinh
được tự chủ, tự quản, dân chủ, thân mật và hợp tác; học sinh tích cực tham gia vào
quá trình học tập để phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức
và mối quan hệ xã hội của trẻ em; phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân được
quy định tại điều 4 Luật trẻ em năm 2019.
- Hiệu quả về môi trường: Việc xây dựng các công cụ hỗ trợ học tập trong
lớp học khi tổ chức hoạt động học tập cho học sinh có hiệu quả rất rõ rệt, giúp các
em trực tiếp thực hành học tập thông qua các đồ vật thật, tạo môi trường lớp học
- Hoàn thành:
- Chưa hoàn thành:
Năng lực:
- Tốt:
- Đạt:
- Cần cố gắng:
Phẩm chất:
- Tốt:
- Đạt:
- Cần cố gắng:
Đầu năm
Giữa tháng 4
Tăng (giảm)
5em (chiếm 18%)
15em (chiếm 56%)
7em (chiếm 26%)
11em (chiếm 41%)
16em (chiếm 59%)
0em (chiếm 0%)
Tăng 23%
Tăng 3%
Giảm 26%
6em (chiếm 22%) 13em (chiếm 48%)
lớp 2B
Trước TĐ
9
8
7
9
7
Sau TĐ
10
9
9
9
10
Nhóm đối chứng
Họ VàTên HS
Điểm kiểm tra môn toán
lớp 2C
Trước TĐ
5
8
8
7
9
Sau TĐ
6
9
Lê Gia Hội
7
10
7
8
9
7
8
5
9
10
10
9
10
Trần Hữu Nghị
7
8
11
12
10
9
9
6
9
9
10
10
7
8
9
15
Trần Anh Nhi
8
9
10
9
16
17
18
10
20
8
10
7
9
9
10
9
10
10
10
Nguyễn Minh Trí
9
8
10
10
10
10
9
25
Phạm Nhật Trường
8
9
8
8
26
Huỳnh Chí Vĩ
6
7
Huỳnh Minh Vĩ
Nguyễn Thảo Vy
8
7.8461538 8.076923077
11
Max
10
10
10
10
Min
3
7
2
5
Độ lệch chuẩn (SD)
1.64948408 0.877058019
2.0335645 1.494605685
Mức độ ảnh hưởng ES
0.840629919
Giá trị P (Phép kiểm
0.2617137 0.000310092
chứng t-test độc lập)
Giá trị P (Phép kiểm
0.321619866
0.0000051967
chứng t-test phụ thuộc)
* Kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là
9,333333333 kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra nhóm đối chứng là 8,0769231. Độ chênh
lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,256410233. Điều đó cho thấy điểm giá trị trung bình của hai
12