Tổ chức công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả bán hàng tại nhà máy thuốc lá thăng long - Pdf 55

Luận văn cuối khoá
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang mở cửa nền kinh tế với sự xuất hiện của nhiều loại hình
doanh nghiệp, các doanh nghiệp (DN) đang tồn tại trong sự cạnh tranh khốc
liệt, DN nào muốn phát triển cũng phải có một nền tảng vững chắc để đi lên.
Phương châm của các DN để đứng vững trong nền kinh tế thị trường là: Sản
phẩm có chất lượng tốt, được tổ chức tiêu thụ có hiệu quả để đem lại lợi
nhuận cao nhất. Vì vậy, tổ chức tốt công tác quản lý thành phẩm, tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận tối đa
cho DN là vấn đề được các nhà quản lý kinh tế rất quan tâm.
Kế toán là công cụ rất đắc lực trong việc thu thập, xử lý và cung cấp những
thông tin cho các nhà quản lý, chủ DN, những người điều hành... Nó vẽ ra bức
tranh toàn cảnh về thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN, từ đó các
nhà quản lý sẽ có những đánh giá nhìn nhận đúng đắn, thực chất công tác quản lý
điều hành, tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh trong đơn vị mình, để đưa
ra những giải pháp, chiến lược kinh doanh mới, phù hợp và có hiệu qủa hơn.
Với vai trò quan trọng như vậy của hạch toán kế toán nói chung thì bộ
phận kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh chiếm một vị trí không nhỏ. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp
DN tìm ra những hạn chế cần khắc phục và phát huy những nhân tố tích cực để
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá các hình thức mẫu mã,
chủng loại, mở rộng thị trường, áp dụng rộng rãi các phương thức bán hàng đẩy
mạnh việc tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm, tạo điều kiện để hoạt động sản xuất kinh
doanh diễn ra liên tục, việc thu hồi vốn diễn ra nhanh chóng, từ đó mang lại hiệu
quả kinh tế cao cho DN.
Xuất phát từ lý luận, đồng thời kết hợp với thời gian thực tế thực tập tại
Nhà máy thuốc lá Thăng Long, được sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và các
anh, chị, cô, chú trong phòng tài chính kế toán của nhà máy, em đã thấy được
tầm quan trọng và sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán thành phẩm, tiêu
thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh do vậy em đã chọn đề tài: "Tổ
chức công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả


Luận văn cuối khoá
Đối với nền kinh tế quốc dân: Thực hiện tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là tiền
đề cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền và hàng trong lưu thông, đặc biệt
là đảm bảo cân đối giữa các ngành, các khu vực trong nền kinh tế. Trong nền
kinh tế thị trường (khi mà sự phân công lao động, sự chuyên môn hoá diễn ra
sâu sắc) các DN không thể tồn tại và phát triển độc lập mà chúng luôn có mối
quan hệ khăng khít với nhau. Quá trình tiêu thụ sản phẩm tác động đến quan hệ
cung cầu trên thị trường một cách rõ rệt. Cung và cầu chỉ gặp nhau khi quá trình
tiêu thụ sản phẩm được tổ chức tốt.
Đối với bản thân DN: Sản phẩm được tiêu thụ thì DN mới có điều kiện bù
đắp toàn bộ chi phí đã chi ra, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được diễn ra và
duy trì sự tồn tại của DN. Mặt khác, thông qua tiêu thụ sản phẩm DN mới có thể
thực hiện được giá trị lao động thặng dư, nghĩa là thu được lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh của mình.
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Từ ý nghĩa trên, đòi hỏi các DN phải áp dụng các biện pháp khác nhau để
quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung, quản lý thành phẩm, quá trình
tiêu thụ thành phẩm và kết quả bán hàng nói riêng một cách khoa học, hợp lý,
đúng chế độ tài chính kế toán của Nhà nước. Kế toán là công cụ quản lý, vì vậy
cần thiết phải tổ chức công tác kế toán TP , TTTP & XĐKQBH ở các DN sản
xuất.
1.1.1 Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm (TP).
Sản phẩm của DN sản xuất ra bao gồm TP, nửa thành phẩm, lao vụ mà DN
sản xuất ra để phục vụ nhu cầu sản xuất hay tiêu dùng của xã hội. Trong đó TP
chiếm tỷ trọng lớn.
Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn cuối cùng của quy
trình công nghệ sản cuất ra sản phẩm đó, đã qua kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn quy
định,được nhập kho hoăc giao trực tiếp cho khách hàng.


hàng hoá ứ đọng để có biện pháp giải quyết nhanh chóng.
Về mặt chất lượng: Phải làm tốt công tác kiểm tra, phân cấp sản phẩm và có
chế độ bảo quản riêng đối với từng loại thành phẩm (Đặc biệt là TP dễ hư hỏng),
kịp thời phát hiện những mặt hàng kém phẩm chất. Đồng thời DN phải thường
xuyên cải tiến mẫu mã mặt hàng( kiểu dáng, hình thức, màu sắc…), không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để kích thích nhu cầu tiêu dùng của xã hội,
tránh tình trạng ứ đọng sản phẩm vì hàng kém phẩm chất lỗi thời, lạc mốt.

6


Luận văn cuối khoá
Việc quản lý thành phẩm đòi hỏi phải đầy đủ, chính xác, kịp thời và khoa
học. Kế toán phải thường xuyên cung cấp thông tin về thành phẩm cho chủ DN
từ đó giúp chủ DN đề ra các quyết định ngắn hạn, các biện pháp hữu hiệu nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thành phẩm nói riêng và hiệu quả sản
xuất kinh doanh nói chung.
1.1.2 Bán hàng và yêu cầu quản lý bán hàng.
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu về thành phẩm, hàng hoá, lao vụ,
dịch vụ cho khách hàng, DN thu được tiền hoặc được quyền thu tiền. Đó cũng
chính là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn thành phẩm, hàng hoá
sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả. Bên cạnh quá trình tiêu thụ ra bên
ngoài, trong DN còn có thể phát sinh nghiệp vụ tiêu thụ nội bộ theo yêu cầu
phân cấp quản lý và tiêu dùng nội bộ.
Như chúng ta đã biết, việc tiêu thụ thành phẩm( bán hàng) có ý nghĩa sống
còn đối với DN. Đòi hỏi DN phải quản lý chặt chẽ quá trình này. Quản lý quá
trình bán hàng là quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ thành
phẩm đối với từng thời kỳ, từng khách hàng, từng hợp đồng kinh tế, quản lý về
mặt số lượng, chất lượng mặt hàng tiêu thụ, giá bán, chi phí bán hàng, tình hình
thanh toán của khách hàng... Để thực hiện tốt yêu cầu quản lý công tác tiêu thụ

định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định
và phân phối kết quả.
1.2. Kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả bán
hàng trong DN sản xuất.
1.2.1. Kế toán thành phẩm.
1.2.1.1. Yêu cầu của kế toán thành phẩm.
Thành phẩm của các DN công nghiệp thường rất đa dạng, phong phú, một
DN có thể sản xuất ra nhiều mặt hàng, mỗi mặt hàng thường được chia ra làm
nhiều loại 1, 2, 3…Vì vậy tổ chức một cách khoa học công tác kế toán thành
phẩm là việc làm rất cần thiết và không thể thiếu được đối với một DN sản xuất.
Để đảm bảo tính khoa học này, kế toán thành phẩm cần phải thực hiện các yêu
cầu sau:
- Phải tổ chức kế toán thành phẩm theo từng loại, từng thứ theo từng đơn
vị sản xuất theo đúng số lượng và chất lượng của thành phẩm.
- Phải có sự phân công và kết hợp công tác trong việc ghi chép kế toán
thành phẩm giữa phòng kế toán thành phẩm với thủ kho thành phẩm, đảm bảo
8


Luận văn cuối khoá
cho số liệu kế toán thành phẩm được chính xác, kịp thời phục vụ cho việc quản
lý thành phẩm chặt chẽ.
- Thành phẩm trong DN sản xuất khi hạch toán nhập- xuất kho phảighi
theo giá thành thực tế.
- Thành phẩm trong kho DN luôn biến động do nhiều nguyên nhân: nhập
kho thành phẩm đã sản xuất xong do mua bên ngoài của các đơn vị, xuất kho
thành phẩm đem tiêu thụ, xuất kho cho các bộ phận khác sản xuất tiếp… Vì vậy
cần tổ chức ghi chép ban đầu thật khoa học, hợp lý đúng với những quy định đã
ghi trong chế độ chứng từ và sổ kế toán cũng như những chế độ cụ thể trong chế
độ ghi chép ban đầu.


10


Luận văn cuối khoá
Phiếu nhập kho( Mẫu 01-VT)
Phiếu xuất kho( Mẫu 02-VT)
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ( Mẫu 03-VT-3LL)
Thẻ kho( Mẫu 06-VT)
Biên bản kiểm kê vật tư- sản phẩm hàng hoá( Mẫu 08-VT)
1.2.1.3.2. Kế toán chi tiết thành phẩm:
Để có thể giám sát tình hình hiện có cũng như sự biến động của các loại
thành phẩm trong kho của doanh nghiệp cần phải có tài liệu chi tiết về thành
phẩm hay nói cách khác, phải hạch toán chi tiết tình hình nhập, xuất, tồn kho
thành phẩm theo từng loại cả về số lượng, chất lượng và giá trị. Việc hạch toán
được thực hiện đồng thời cả ở kho thành phẩm và ở phòng kế toán. Tuỳ theo đặc
điểm cụ thể của từng doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn, vận
dụng một trong các phương pháp sau:
1) Phương pháp ghi thẻ (sổ) song song
2) Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
3) Phương pháp ghi sổ số dư
Cả ba phương pháp công việc của thủ kho ở kho đều giống nhau. Khi nhận
các chứng từ nhập, xuất thành phẩm thủ kho phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp
của chứng từ rồi tiến hànhghi chép số thực nhập, thực xuất vào chứng từ và thẻ
kho, cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi lên hoặc
kế toán xuống kho nhận các chứng từ nhập, xuất đã được phân loại theo từng
loại thành phẩm. Chỉ riêng phương pháp sổ số dư là ngoài các công việc trên,
cuối tháng thủ kho phải ghi số tồn kho đã tính trên thẻ kho sang sổ số dư vào cột
số lượng.
Sự khác nhau giữa ba phương pháp chính là công việc ở phòng kế toán. Đối

phản ánh thường xuyên liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn các loại
thành phẩm trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở các chứng từ
nhập - xuất. Như vậy, việc xác định giá trị thành phẩm xuất kho theo phương
pháp này được căn cứ trực tiếp vào các chứng từ xuất kho sau khi được tập hợp,
phân loại theo đối tượng sử dụng để ghi vào các tài khoản và sổ kế toán.
TK 155 (Thành phẩm): Dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến
động từng loại thành phẩm trong DN.
TK 157 (Hàng gửi đi bán): Phản ánh trị giá thành phẩm đã gửi đi hoặc đã
chuyển cho khách hàng, đại lý ký gửi nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.
TK 632 (Giá vốn hàng bán): Phản ánh trị giá vốn của thành phẩm, hàng
hoá, lao vụ, dịch vụ đã xuất bán trong kỳ.
Trình tự kế toán tổng hợp thành phẩm theo phương pháp kê khai thường
xuyên được thể hiện trên sơ đồ 01.
- Ưu điểm: + Giám đốc chặt chẽ tình hình tăng, giảm và trị giá TP tồn kho
trên sổ kế toán
+ Trị giá TP có thể xác định tại bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán.

12


Luận văn cuối khoá
-

Nhược điểm: Khối lượng ghi chép nhiều.
Điều kiện áp dụng: Phương pháp này có thể áp dụng cho mọi loại
hình DN.
* Trường hợp DN hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi, phản ánh
thường xuyên, liên tục tình hình xuất kho thành phẩm, hàng hoá trên các tài
khoản hàng tồn kho tương ứng. Do đó, giá trị hàng tồn kho không căn cứ vào số


Luận văn cuối khoá
Theo phương pháp này, trị giá thành phẩm xuất kho cho các mục đích khác
nhau không được thể hiện rõ, kế toán cũng sử dụng những tài khoản sau:
TK 155 (Thành phẩm).
TK 157 (Hàng gửi đi bán).
TK 632 (Giá vốn hàng bán).
Trong đó, TK 155 và TK 157 chỉ sử dụng để phản ánh trị giá vốn của thành
phẩm và hàng gửi bán tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ. Còn TK 632 phản ánh việc
nhập, xuất kho của thành phẩm trong kỳ.
Trình tự kế toán tổng hợp thành phẩm theo phương pháp kiểm kê định kỳ
được thể hiện trên sơ đồ 02.
-

Ưu điểm: Đơn giản, giảm được khối lượng công việc hạch toán

-

Nhược điểm: Độ chính xác của trị giá TP xuất kho không cao nếu
không theo dõi được số hao hụt và mất mát.

-

Điều kiện áp dụng: Phương pháp này phù hợp với DN có nhiều
chủng loại TP nhưng giá trị mỗi thứ nhỏ, nhập xuất thường xuyên và
DN có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, quản lý chặt chẽ được hàng tồn
kho.

* Hệ thống sổ kế toán sử dụng trong kế toán tổng hợp thành phẩm.
Tuỳ từng hình thức kế toán mà sử dụng hệ thống sổ kế toán khác nhau:

sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.
2. DN không còn nắm giữ hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền
kiểm soát hàng hoá.
3. Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
4. DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
5. Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
*Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng:
- Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền mà DN đã giảm trừ, hoặc đã thanh
toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng( sản phẩm, hàng
hoá), dịch vụ với khối ling lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi
trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.

16


Luận văn cuối khoá
- Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ được doanh nghiệp (bên bán) chấp
thuận một cách đặc biệt trên giá đã thoả thuận trên hoá đơn, vì lý do hàng bán bị
kém phẩm chất, không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn ghi trong hợp
đồng.
- Hàng bán bị trả lại: Là số sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp đã xác định
tiêu thụ, nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các đIũu kiện đã cam kết trong
hợp đồng kinh tế như: hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại.
- Các khoản thuế về tiêu thụ: thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp
trực tiếp; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu. Đây là các khoản thuế gián thu,
tính trên doanh thu bán hàng, tính cho các đối tượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ
phảI chịu thuế; các cơ sở sản xuất kinh doanh chỉ là đơn vị thu nộp thuế thay
cho người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó.
* Các phương thức bán hàng.
- Phương thức gửi hàng (bán hàng qua đại lý ).

- Đối với sản phẩm, hàng hoá không thuộc diện chịu thuế GTGT hoặc chịu
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là tổng giá thanh
toán.
- Đối với sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng là tổng giá thanh toán (bao gồm cả
thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu).
- Những DN nhận gia công vật tư, hàng hoá thì chỉ phản ánh vào doanh thu
bán hàng số tiền gia công thực tế được hưởng, không bao gồm giá trị vật tư hàng
hoá nhận gia công.
- Đối với hàng hoá nhận bán đại lý, kí gửi theo phương thức bán đúng giá
hưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng phần hoa hồng bán hàng
mà DN được hưởng.
- Trường hợp bán hàng theo phương pháp trả chậm, trả góp thì DN ghi nhận
doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động
tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm phù hợp với thời
điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.

18


Luận văn cuối khoá
- Những sản phẩm, hàng hoá được xác định là tiêu thụ, nhưng vì lý do về
chất lượng, về quy cách kỹ thuật..., người mua từ chối thanh toán, gửi trả lại
người bán hoặc yêu cầu giảm giá và được DN chấp nhận, hoặc người mua hàng
với khối lượng lớn được chiết khấu thương mại thì các khoản giảm trừ doanh
thu thu bán hàng này được theo dõi riêng biệt trên các TK531- Hàng bán bị trả
lại, TK532 - Giảm giá hàng bán, TK521 - Chiết khấu thương mại.
- Trường hợp trong kỳ DN đã viết hoá đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng
nhưng đến cuối kì vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì trị giá số hàng
này không được coi là tiêu thụ và không được ghi vào TK 511- "Doanh thu bán

TK333...
1.2.4.3.2. Trình tự kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu.
Được thể hiện trên Sơ đồ 03, 04, 05.
1.2.3. Kế toán giá vốn hàng bán.
Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ các chi phí liên quan đến quá trình
bán hàng, gồm có trị giá vốn của hàng xuất kho để bán, chi phí bán hàng và chio
phí quản ký DN phân bổ cho hàng bán ra trong kỳ.
Đối với DN sản xuất, trị giá vốn của hàng xuất kho để bán hoặc TP
hoàn thành không nhập kho đưa bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của
TP xuất kho hoặc giá thành sản xuất thực tế của TP hoàn thành (cách xác định
đã được nêu ở phần đánh giá TP).
Sau khi tập hợp được Chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN sẽ tiến hành
phân bổ cho hàng đã bán (trình bày ở mục sau), từ đó xác định được trị gía vốn
của hàng bán.

21


Luận văn cuối khoá
Trị giá vốn
Của hàng bán

=

Trị giá vốn của hàng
Xuất kho để bán

+

CPBH và CPQLDN phân


bổ PSTK

Tổng tiêu chuẩn phân bổ của TP xuất
bán trong kỳ và “TP tồn cuối kỳ”

22

X

phân bổ của TP
đã xuất bán
trong kỳ


Luận văn cuối khoá
Tieu chuẩn phân bổ có thể là: Trị giá vốn thực tế của TP xuất bán, doanh thu
bán TP, số lượng TP xuất bán…
“Hàng tồn cuối kỳ”: Đói với DN sản xuất là trị giá vốn thực tế của TP tồn
kho cuối kỳ và hàng gửi đI bán chưa được tiêu thụ cuối kỳ.
Phần CPBH không được phân bổ thì được kết chuyển sang theo dõi ở “chi
phí chờ kết chuyển” (TK 1422).
* Tài khoản sử dụng: TK 641 - Chi phí bán hàng.
Tài khoản này không có số dư, và có 7 tài khoản cấp II:
TK 6411 - Chi phí nhân viên.
TK 6412 - Chi phí vật liệu.
TK 6413 - Chi phí dụng cụ đồ dùng.
TK 6414 - Chi phí khấu hao TSCĐ.
TK 6415 - Chi phí bảo hành.
TK 6417 - Chi phí dịch vụ mua ngoài.

Lãi ( lỗ )

=

Lợi nhuận gộp
từ bán hàng

Doanh thu thuần
từ bán hàng

Lợi nhuận gộp
từ bán hàng

-

Doanh thu
thuần từ bán
hàng

=

=

Doanh thu bán
hàng

24

CPBH và CPQLDN
phân bổ cho hàng

+ Sổ cái các TK.
- Hình thức CTGS: Các sổ kế toán tiêu thụ được sử dụng ở hình thức này
là:
+ Chứng từ ghi sổ.
+ Sổ cái các TK liên quan.
+ Sổ đăng kí chứng từ ghi sổ.
+ Sổ chi tiết các TK 632,511,512,911,641,642...
- Hình thức NKC: Trong hình thức NKC kế toán phản ánh tình hình tiêu
thụ TP của DN trên các sổ sau:
+ NKC, Nhật ký bán hàng, Nhật ký thu tiền.
+ Sổ cái các TK liên quan.
+ Sổ chi tiết các TK 632,511,512,911,641,642...

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status