BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
-----š: š:-----
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
THƠ HÀN MẶC TỬ
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
-----š: š:-----
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
THƠ HÀN MẶC TỬ
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Kiều Anh
HÀ NỘI, 2018
trích dẫn nguồn gốc cụ thể.
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng
bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện
thông tin nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở
trên.
Hà Nội, tháng 07 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Lan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 6
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 6
6. Giả thuyết khoa học .................................................................................... 7
7. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 7
Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC THƠ CỦA HÀN MẶC TỬ ....................................................... 9
1.1. Khái lƣợc về phê bình sinh thái .............................................................. 9
1.1.1. Khái niệm phê bình sinh thái ................................................................ 9
1.1.2. Đặc trưng của phê bình sinh thái........................................................ 11
1.1.3. Mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và sinh thái ..................... 15
1.2. Thơ Hàn Mặc Tử - từ cuộc đời ánh lên những trang thơ .................. 19
1.2.1. Hàn Mặc Tử - thi sĩ của những đau thương trong cuộc đời trần thế 20
1.2.2. Thơ Hàn Mặc Tử - lạ lẫm và bi thương .............................................. 22
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ......................................... 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 111
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cuối thế kỷ XX, môi trường sinh thái bị con người lạm dụng, tàn
phá, hủy hoại nghiêm trọng phục vụ cho sự văn minh, phát triển. Ngôi nhà
chung của nhân loại đứng trước nhiều nguy cơ, cần phải được mọi người
chung tay bảo vệ. Nhiều ngành khoa học và nhân văn đã hưởng ứng tinh thần
sinh thái này, trong đó có văn học. Theo nhà phê bình sinh thái Mĩ Cheryll
Glotfelty thì “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn
học và tự nhiên”, mang đến một cách tiếp cận lấy trái đất làm trung tâm trong
nghiên cứu văn học.
1.2. Phê bình sinh thái là một khuynh hướng phê bình đang phát triển
sôi nổi khắp nơi, đặc biệt là ở Anh, Mĩ nhưng hiện nay vẫn chưa được giới
nghiên cứu nước ta chú ý nhiều. Phê bình sinh thái là một lí thuyết liên ngành,
kết hợp giữa văn học và các ngành khoa học khác, giữa phân tích văn chương
và rút ra những cảnh báo về môi trường. “Nó có thể không đưa ra được những
giải pháp trực tiếp cho những vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay
nhưng bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường, nó có
thể tác động đến tâm thức con người, điều chỉnh nhận thức, khắc phục những
ngộ nhận về môi trường, để từ đó, có những hành động đúng đắn hơn, hướng
đến sự phát triển bền vững. Đồng thời, xa hơn và quan trọng hơn cả, phê bình
sinh thái hình thành một chủ nghĩa nhân văn mới, ở đó, con người biết nghe
tiếng nói của thiên nhiên để đối thoại với nó” [35]. Phê bình sinh thái là
phương thức lí luận phê bình văn nghệ thâm nhập vào vấn đề sinh thái từ góc
độ phê bình văn học. Một mặt muốn giải quyết vấn đề quan hệ tầng sâu
giữa văn học và môi trường tự nhiên, mặt khác muốn chú ý đến quan hệ
Được khởi phát từ Anh, Mĩ, phê bình sinh thái trên thế giới đang là một
trào lưu phê bình năng động, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
phương Tây. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phê bình sinh thái xuất hiện
3
từ những năm 70 của thế kỉ XX khi những cảnh báo về sự khủng hoảng môi
trường ngàycàng trầm trọng. Trước bối cảnh khủng hoảng môi trường, để thể
hiện sự quan tâm đến các vấn đề sinh thái, thức tỉnh con người trước nguy cơ
khủng hoảng môi trường, nhiều ngành khoa học nhân văn đã “nghiên cứu
xanh”. Các nhà sử học thì kêu gọi đừng coi tự nhiên như sân khấu cho vở diễn
của con người, các nhà nhân loại học chú trọng mối quan hệ giữa văn hoá và
địa lý. Chỉ có văn học vốn được coi đã “phản ứng chậm” trước những nguy cơ
về môi trường sống.
Lý thuyết phê bình sinh thái còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Năm 2011,
Viện văn học tổ chức buổi thuyết trình về phê bình sinh thái. Trong buổi
thuyết trình, Karen Thronber đã giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý
nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích
sáu điểm cơ bản phê bình sinh thái quan tâm.
Bài “Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu mang tính cách
tân” (2012), Đỗ Văn Hiểu đã chỉ ra điểm mới trong tư tưởng nòng cốt của phê
bình sinh thái từ tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” sang tư tưởng “sinh thái
trung tâm luận”.
Trong bài viết “Phê bình sinh thái - nhìn từ lý thuyết giải cấu trúc”
(2013) đã thể hiện quan điểm phê binh sinh thái chủ trương “tái thiết môi
trường”, “góp phần ngăn chặn văn học phản sinh thái, thông qua cải tạo văn
học, cải tạo quan niệm để chuộc lỗi với tự nhiên”. Trong bài “Cần tìm hiểu về
sự chuyển hướng của phê bình sinh thái” (2015), Phương Lựu đã đưa phê
bình sinh thái vào tư tưởng học thuật của mình.
Ngoài ra, có một số bài báo nghiên cứu từ việc vận dụng lí thuyết phê
Những công trình nghiên cứu theo hướng này chủ yếu thiên về đời tư
với căn bệnh hoạn của Hàn Mặc Tử và những mối tình chớm nở của thi sĩ mà
rất ít nói đến sự nghiệp văn chương tiêu biểu là những công trình nghiên cứu
5
của Hoàng Trọng Miên: Những ngày sống chung với Hàn Mặc Tử ở Sài Gòn,
Ngọc Sương với Tưởng niệm Hàn Mặc Tử, Phan Công Thiện với Một định
mệnh đeo riết bên mình Hàn Mặc Tử và Xin chút lòng để lại lối xưa của Đào
Trường Phúc…
Thứ hai là nhóm các bài viết về Hàn Mặc Tử trong mối quan hệ với
một số tôn giáo như Thiên Chúa giáo, đạo Phật, đạo Giáo. Về phương diện
này đã gây ra nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề “chất Đạo” và “chất Đời”
trong thơ Hàn Mặc Tử. Những công trình nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở mức
đặt ra vấn đề đức tin trong thơ Hàn Mặc Tử mà chưa thể lí giải được vì sao lại
có sự hài hòa giữa một bên là yêu cầu đức tin tuyệt đối và một bên là sự
phóng túng của tâm hồn thi sĩ khát khao giao cảm với cuộc đời.
Bước sang thập kỉ 80, không khí của thời kì đổi mới như đem một
luồng sinh khí mới mạnh mẽ và khoáng đạt hơn so với thời kì trước. Lê Đình
Kị cho rằng trong Thơ điên có nỗi đau của riêng Hàn Mặc Tử hòa vào nỗi đau
chung của đất nước. Đây thực sự là một cái nhìn hết sức mới mẻ về Hàn Mặc
Tử và Thơ điên.
Khuynh hướng nghiên cứu theo kiểu sưu tầm tư liệu về cuộc đời cũng
như thơ ca Hàn MặcTử là khuynh hướng tiêu biểu. Với công trình nghiên cứu
của Phạm Xuân Tuyển: Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử (1997). Sau bao tháng
ngày tìm về với lối xưa, chốn cũ đi theo những dấu chân, những con đường
mà nhà thơ đã đi qua tác giả Phạm Xuân Tuyển đã thu nhặt tập hợp những thi
liệu quý giá ấy để làm nên công trình tương đối trọn vẹn về bức chân dung
cuộc đời Hàn Mặc Tử. Có thể nói, đây là một tài liệu rất quý phục vụ cho việc
nghiên cứu và tìm hiểu về tác giả Hàn Mặc Tử.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Sinh thái là vấn đề rộng. Phạm vi nghiên cứu của luận văn đi sâu vào
hai phương diện chính là biểu hiện của sinh thái môi trường và sinh thái xã
hội trong thơ của Hàn Mặc Tử.
Các tác phẩm được khảo sát bao gồm:
- Gái quê
- Thơ điên
- Xuân như ý
- Thượng thanh khí
- Cẩm châu duyên
- Chơi giữa mùa trăng
- Đây thôn Vĩ Dạ
- Mùa xuân chín
6. Giả thuyết khoa học
Luận văn này tập trung tìm hiểu Thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn phê bình
sinh thái, nhằm mục đích bước đầu chỉ ra sự hòa kết độc đáo giữa văn chương
và sinh thái trong sáng tác của Hàn Mặc Tử. Tính đến thời điểm luận văn này
được tiến hành thì chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về đề
tài này ra đời. Do đó, tôi rất hy vọng đề tài nghiên cứu này như là một phát
hiện thú vị trong sáng tác của ông nhằm khẳng định sự phong phú và giá trị to
lớn của thơ ca Hàn Mặc Tử để lại cho hậu thế.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh
8
giới phê bình có ý kiến cho rằng vận mệnh của phê bình sinh thái trong tương
lai được thể hiện ở chỗ nó có làm rõ được mối quan tâm của văn học về tình
trạng của môi trường hay không.
10
Đã có rất nhiều người định nghĩa về phê bình sinh thái nhưng có lẽ định
nghĩa được nhiều người tiếp nhận và công nhận nhất là của Cheryll Glotfelty.
Ông từng cho rằng: “Phê bình sinh thái là phê bình bàn về mối quan hệ giữa
văn học và tự nhiên”. Phê bình sinh thái thường hướng con người đến cách
tiếp cận coi trái đất là trung tâm để nghiên cứu văn học.
Phê bình sinh thái hay còn gọi là Chủ nghĩa Ecocritism. Hướng nghiên
cứu ấy là nghiên cứu về văn học và môi trường theo quan điểm liên ngành,
trong đó các nhà nghiên cứu văn học phân tích các văn bản minh hoạ các mối
quan tâm về môi trường và nghiên cứu các cách khác nhau về văn học đối xử
với chủ đề tự nhiên. Chủ nghĩa Ecocritism là một phương pháp tiếp cận có
chủ ý rộng rãi được biết đến bởi một số các tên gọi khác như “nghiên cứu văn
hoá xanh”, “ecopoetics” và “phê bình văn học về môi trường” và thường được
các lĩnh vực khác như sinh thái, thiết kế bền vững, biopolitics, lịch sử môi
trường, môi trường và sinh thái xã hội.
Thực chất, phê bình sinh thái không bao giờ đơn thuần chỉ “vì chính
nó”, bởi vì mọi vấn đề liên quan đến môi trường bao giờ cũng liên đới đến các
lĩnh vực chính trị, văn hóa, tôn giáo, kinh tế. Sinh thái văn hoá là nghiên cứu
thích ứng của con người với môi trường xã hội và thể chất. Sự thích ứng của
con người đề cập đến cả quá trình sinh học và văn hoá cho phép một dân số
tồn tại và sinh sản trong một môi trường nhất định hoặc thay đổi. Phê bình
sinh thái có lập luận trung tâm là môi trường tự nhiên, trong các xã hội quy
mô nhỏ hoặc sống phụ thuộc một phần vào nó, là một đóng góp lớn cho tổ
chức xã hội và các tổ chức con người khác. Trong lĩnh vực học thuật, khi kết
hợp với nghiên cứu kinh tế chính trị, nghiên cứu về các nền kinh tế như chính
tinh thần trong nghiên cứu văn học làm chủ. Muốn trong tác phẩm thể hiện
mối quan hệ phức tạp của con người và thế giới tự nhiên, quan hệ tương tác
12
giữa văn học và môi trường tự nhiên nên phê bình sinh thái luôn cố gắng chỉ
ra những vấn đề tồn tại trong tương quan giữa văn học và môi trường sống.
Tiếp theo, phê bình sinh thái thường xây dựng lại mối quan hệ thẩm mĩ
giữa con người và tự ngã, con người và người khác, con người và xã hội, con
người và tự nhiên, con người và trái đất.
Phê bình sinh thái chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất từ tư tưởng triết học
của các trường phái luân lí học môi trường phương Tây hiện đại như: Luân lí
học trái đất (Land Ethics), Sinh thái học bề sâu (Deep ecology)….Triết lý
sinh thái và môi trường hiện đại tôn trọng sự tồn tại bình đẳng của tạo vật.
Thứ ba, phê bình sinh thái đối với vấn đề tính chủ thể của con người
trong sáng tác nghệ thuật bảo giữ lập trường “chính trị chính xác” - vừa
không thể có lập trường chủ nghĩa nhân loại trung tâm, vừa không thể là lập
trường chủ nghĩa tự nhiên tuyệt đối, mà là chú trọng quan hệ hài hòa giữa con
người và tự nhiên, chủ trương nhân loại chuyển biến từ “ý thức tự ngã” sang
“ý thức sinh thái”. Con người và trái đất có quan hệ hòa hợp sinh mệnh cùng
tồn vong, nhân loại không thể là chúa tể của muôn loài nữa, mà là một thành
viên trong muôn loài trên trái đất, cùng sinh tử với các thành viên khác trong
thế giới tự nhiên.
Phê bình sinh thái liên kết nghiên cứu văn học và khoa học sinh mệnh.
Từ hai lĩnh vực nghiên cứu văn học và tự nhiên, phê bình sinh thái chú trọng
từ góc độ phát triển xã hội loài người và biến đổi môi trường sinh thái thâm
nhập vào tầng diện văn học, từ đó làm cho phê bình sinh thái có đặc tính liên
ngành văn học.
Văn học sinh thái kiếm tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái. Vì
vậy, phê phán mặt trái văn minh cũng là một đặc điểm nổi bật của dòng văn
học sinh thái, những vấn đề về môi trường còn được tích hợp với những vấn
đề xã hội mang tính toàn cầu như giới tính, chủng tộc và giai cấp.
14
Với tư cách là khuynh hướng phê bình văn hóa văn học, phê bình sinh
thái có nhiệm vụ chủ yếu mang giá trị đặc thù và đặc trưng bản thể luận của
nó. Đó là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành
nghiên cứu, phê phán những tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của
loài người làm ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của nhân loại đối với tự
nhiên, dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trường và nguy cơ sinh thái. Phê
bình sinh thái còn thể hiện thái độ của người nghiên cứu về văn hóa ứng xử
của con người đối với tự nhiên. Thái độ đó thể hiện trên nhiều phương diện,
đó có thể là sự bất bình đối với các thái độ, hành vi coi thường tự nhiên, hủy
hoại tự nhiên; có thể là sự ngợi ca vẻ đẹp, sự hữu ích của tự nhiên đối với đời
sống nhân loại; có thể là sự cảnh báo về sự trả giá của con người từ những sai
lầm đối với tự nhiên do họ gây ra. Ngoài việc chỉ ra những hậu quả của văn
minh công nghiệp, của chủ nghĩa nhân loại trung tâm cực đoan, chủ nghĩa
chinh phục tự nhiên, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa hưởng lạc…
Phê bình sinh thái còn chủ trương tái thiết môi trường. Sự tái thiết đó
phải diễn ra trên phương thức tư duy hệ thống, tư duy khoa học liên ngành,
quan niệm giá trị đa nguyên, tinh thần nhân văn… Sự tái thiết liên quan đến
trách nhiệm của nhà văn, nhà phê bình trước nguy cơ sinh thái.
Tóm lại, phê bình sinh thái coi quan hệ giữa văn học và môi trường tự
nhiên là lĩnh vực nghiên cứu của mình, một mặt nó buộc phải nghiên cứu
“tính văn học”, mặc khác lại phải tiếp cận vấn đề “tính sinh thái”. Sự chỉnh
hợp giữa “tính văn học” và “tính sinh thái” khác với phê bình văn học hoặc lí
luận văn học khác. Phê bình sinh thái tràn dầy hi vọng đối với tương lai nhân
loại, và không ngừng hô hào thái độ sinh tồn lạc quan, loại bỏ “sự tuyệt vọng
về tương lai”, từ đó làm rõ đặc điểm tinh thần lạc quan chủ nghĩa của phê
phương pháp hóa đối với tự nhiên. Điều này giúp chúng ta có thể vạch một
ranh giới rõ ràng trong việc miêu tả tự nhiên giữa tác phẩm văn học sinh thái
và tác phẩm văn học phi sinh thái.
16
Trong văn học đương đại Việt Nam, trước khi xuất hiện phê bình sinh
thái, vấn đề con người trong mối quan hệ với tự nhiên đã được chú ý từ lâu.
Trong văn học dân gian, mọi người thường kính nể, tôn sùng tự nhiên qua
những kích thước thân thể khổng lồ, những hành động như vá trời, lấp bể
trong thần thoại, sử thi. Trong văn học trung đại, đó là việc coi thiên nhiên là
nơi lánh trú của tâm hồn, lí tưởng hoá mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên. Đến văn học 1930 - 1945, các tác giả cũng đã quan tâm đến mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên nhưng đa số chú ý tối sự mất dần những giá
trị cổ truyền đã bị xâm lấn do quá trình đô thị hoá trong thơ của Nguyễn Bính,
Bàng Bá Lân. Đến thập niên 80, 90 của thế kỉ trước đã có các tác phẩm mang
tư tưởng sinh thái như: Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Kiến
và người, Mối và người, Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên… Đặc biệt,
tiểu thuyết “Trăm năm còn lại” được Hoàng Phủ Ngọc Tường đánh giá “Là
cuốn tiểu thuyết dữ dội nhất của văn học Việt Nam dẫn dắt chúng ta vào tận
thế giới bên trong chứa đầy sức bạo liệt của rừng”. Đó là những tác phẩm thể
hiện sự yêu thương, tôn trọng của con người đối với tự nhiên, chống lại sự lợi
dụng, chinh phục, khống chế, cải tạo, tước đoạt và tàn phá tự nhiên của con
người. Gần đây nhất, trong truyện ngắn Khói trời lộng lẫy (2010), Nguyễn
Ngọc Tư cũng bộc lộ tư duy sinh thái khi đan lồng vào câu chuyện tình yêu,
thù hận muôn thuở của con người nỗi day dứt vì cái đẹp hoang sơ, chân chất
của tự nhiên đang một đi không trở lại.
Ngoài ra, những sáng tác thuộc dòng “Văn học da cam” cũng đã có sự
giao thoa với văn học sinh thái khi đề cập nhiều đến sự tàn phá môi trường
của chất độc dioxin với những khu rừng xác xơ trụi lá, những mái đầu rụng
hội vào quỹ đạo của sự phát triển không bền vững. Ngoài nỗi đau da cam đã
được chà đi xát lại trong thơ văn, còn rất nhiều vấn nạn của môi trường vẫn
đang diễn ra hàng ngày rất cần sự lưu tâm của nhà văn” [41]. Sếu đầu đỏ bỏ
18
miền Tây Nam Bộ thiên di sang những cánh đồng Campuchia không có cạm
bẫy. Các loài động vật đi vào sách đỏ vẫn tiếp tục bị săn bắt, những con sông
dòng thác đẹp như mơ bị bức tử. Đặc biệt những người dân sống ở vùng có
đập thủy điện luôn hoang mang giữa đi hay ở và ngủ hay thức; chỉ trong phút
chốc thôi mà bao nhiêu tài sản và sinh mạng vùi sâu trong bùn lũ, chỉ trong
giây lát thôi mà cả thành phố sầm uất trở nên đổ nát điêu tàn… Tất cả những
điều đó khiến con người cảm thấy tiếc nuối, đau đớn, bất an, mong manh hơn
trước cuộc sống này. Chúng đều có thể trở thành những đề tài lớn của văn
học, hình thành nên cảm thức sinh thái, tư tưởng sinh thái trong các nhà văn.
Ở văn chương thế giới, mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên đã
được các nhà văn phản ánh rất đậm nét. Trong Ông già và biển cả của
Hemingway, biểu hiện nhân loại trung tâm chủ nghĩa vô cùng rõ ràng: sự đối
lập giữa “người” và “tự nhiên” là động cơ và tuyến cơ bản của câu chuyện,
mấu chốt của tầng thứ này cho thấy sát hại và đấu tranh là quy luật căn bản
của vũ trụ. Trong nước biển, con sứa bị rùa biển ăn, mà sứa cũng có thể phun
chất độc bắt chiến lợi phẩm của mình; trên mặt biển, ông lão bắt, nhưng cá
mập cũng có thể biến ông lão thành chiến lợi phẩm, ông lão dùng hết sức để
chiến đấu. Hemingway thông qua đối lập giữa người và không phải người, chỉ
ra quan hệ giữa hiện tực và tự nhiên, con người và con vật là quan hệ tàn sát
lẫn nhau, không có người mạnh, cũng không có cái gọi là mục đích. Nhưng
đến cuối cùng, con cá mà ông lão dùng cả sinh mệnh để đổi lấy, biến thành
một bộ xương trắng, trở thành rác trôi lềnh phềnh, điều này đã tuyên bố sự
thất bại của ông lão. Bất luận con người đã bỏ ra sự nỗ lực kinh thiên động
địa thế nào, trong quy luật của vũ trụ vẫn vô cùng bé nhỏ và không đáng nhắc
một sức lôi cuốn kì diệu với trái tim bạn đọc. Thơ Hàn Mặc Tử như những
con chữ lạ lùng, nó tạo cho người ta cảm giác quen thuộc, bình dị nhưng
không hiểu sao mỗi lần đọc lên, người đọc lại lâng lâng một cảm xúc khó tả,