VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN DUY
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN TRƢỜNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH
TỪ THỰC TIỄN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 93 80 102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ THỊ HƢƠNG
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định.
Tác giả luận án
Trần Tuấn Duy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 152
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GV
: Giảng viên
ĐNGV
: Đội ngũ giảng viên
QLNN
: Quản lý nhà nước
TCT
: Trường chính trị
CQNN
: Cơ quan nhà nước
VBPL
: Văn bản pháp luật
Thành tích khen thưởng của giảng viên trường chính trị
vùng Đông Nam Bộ.
Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của giảng viên
các trường chính trị vùng Đông Nam Bộ.
74
76
78
79
80
82
83
96
102
107
Tự đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học, biên soạn
Bảng 11 giáo trình và xây dựng chương trình đào tạo của giảng viên
108
trường chính trị vùng Đông Nam Bộ.
Bảng 12
Tổng hợp ý kiến của giảng viên về sự cần thiết của một số
giải pháp được đề xuất.
120
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong việc truyền thụ, định hướng hoạt động tiếp thu kiến thức, rèn
luyện kỹ năng và định hướng phát triển nhân cách của người học cũng như
việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài thì đội ngũ nhà
giáo đóng vai trò quyết định. Hội nghị Trung ương lần thứ hai – Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết
định chất lượng giáo dục” và “Để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thì
giải pháp có tính quyết định là xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo” [6].
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII cũng chỉ rõ: “Đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có bước phát triển cả về số lượng lẫn
chất lượng” [34, tr.113]. Tuy nhiên, Đảng cũng nhận định “Đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu” [34, tr.114] , “Quản lý
giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo
kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm
đạo đức nghề nghiệp” [8]. Từ đó Đảng đề ra phương hướng “Phát triển đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào
tạo. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào
tạo” [34, tr.117].
Giảng viên trường chính trị cấp tỉnh (gọi tắt là giảng viên trường chính
trị) là một lực lượng rất đặc biệt vì họ có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo, bồi
dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng
và chính sách pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong các
cơ quan của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân từ các trưởng, phó phòng
của sở và tương đương; trưởng, phó phòng, ban, các tổ chức đoàn thể ở cấp
huyện và tương đương; cán bộ dự nguồn các chức danh trên; cán bộ, công
chức cấp cơ sở.
2
chỉnh hoạt động QLNN đối với ĐNGV các TCT đã sớm được Đảng và Nhà
nước quan tâm; các văn bản của Trung ương Đảng, của Bộ Nội vụ, của Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã quy định ngày càng cụ thể hơn các
chủ trương, các tiêu chuẩn, tiêu chí đối với các TCT và đối với cá nhân GV.
Đặc biệt, các quy định hình thành khung pháp lý cho việc QLNN đối với
ĐNGV TCT đều đã được cơ quan nhà nước (CQNN) ban hành dựa trên nền
các văn bản pháp luật (VBPL) về quản lý viên chức và hệ thống tiêu chuẩn
của ĐNGV theo các quy định về lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, các
quy định cụ thể hoá áp dụng đối với QLNN ĐNGV các TCT còn chưa đầy đủ
nên thực tiễn áp dụng đã vấp phải những khó khăn nhất định, hiệu quả QLNN
chưa thực sự cao. Nghị quyết số 29-NQ/TW nhận định: “Việc thể chế hóa các
quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào
tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" còn chậm và lúng
túng” và “Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong
các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Hoạt động quản lý chất lượng, thanh
tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức” [8].
Bên cạnh đó, thế giới ngày nay đã bước vào kỷ nguyên công nghệ 4.0
với những biến đổi từng ngày về phương pháp quản trị nguồn nhân lực. Việc
ứng dụng khoa học công nghệ trong giáo dục không làm mờ đi vai trò của các
nhà giáo, ngược lại, nó đòi hỏi ĐNGV cũng phải “chuyển đổi” để thích nghi,
có khả năng vận dụng được công nghệ để nâng cao chất lượng giảng dạy. Và
đương nhiên, hoạt động QLNN ĐNGV cũng phải thay đổi cho phù hợp. Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định: “Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát
triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn
trọng pháp luật và trách nhiệm công dân” và “Phát triển đội ngũ nhà giáo,
cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới” [34, tr.295-296]. Quyết định số
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường QLNN về ĐNGV TCT trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và
thực tiễn của hoạt động QLNN đối với ĐNGV các TCT vùng Đông Nam Bộ.
4
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, tiến hành khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước có liên quan trực tiếp đến chủ đề của luận án, chỉ ra những vấn đề các
công trình đã giải quyết mà luận án có thể kế thừa; xác định những vấn đề
luận án cần phải giải quyết.
Hai là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về QLNN đối với ĐNGV các
TCT, cụ thể là phân tích, làm rõ các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung
QLNN, các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với ĐNGV các TCT.
Ba là, luận án nghiên cứu làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn vận
hành các quy định pháp luật trong việc QLNN đối với ĐNGV các TCT nhằm
đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về QLNN và thực tiễn thực
thi pháp luật về QLNN đối với ĐNGV các TCT vùng Đông Nam Bộ; chỉ ra
những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề
xuất các giải pháp quản lý hiệu quả hơn, để cải thiện chất lượng đội ngũ này.
Bốn là, trên cơ sở nhận thức lý luận, phân tích thực trạng ĐNGV và
thực tiễn QLNN đối với ĐNGV các TCT vùng Đông Nam Bộ, luận án xác
định quan điểm tăng cường QLNN đối với ĐNGV các TCT; đề xuất các giải
pháp toàn diện từ hoàn thiện pháp luật đến cải thiện bộ máy, đầu tư cơ sở vật
chất… nhằm tăng cường QLNN đối với ĐNGV các TCT, góp phần thực hiện
thắng lợi các quan điểm, chủ trương về cải cách giáo dục theo Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ XII.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
hướng về chính trị, tư tưởng. Đồng thời phải đảm bảo sự phân định giữa
QLNN và sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng ĐNGV các TCT.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp giữa các
phương pháp nghiên cứu mang tính phổ quát chung của khoa học xã hội, vừa
sử dụng các phương pháp đặc thù phù hợp với mục đích nghiên cứu, cụ thể là:
6
- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng tập trung ở chương 1 khi tổng
quan các công trình nghiên cứu và ở chương 2 khi luận bàn các vấn đề lý luận
về QLNN đối với ĐNGV các TCT. Phương pháp này cũng được sử dụng ở
chương 3 của luận án khi xem xét, đánh giá thực trạng pháp luật cũng như
thực tiễn QLNN đối với ĐNGV các TCT. Phương pháp này cũng được sử
dụng ở chương 4 để khái quát hoá những quan điểm, luận về các giải pháp.
- Phương pháp phân tích: được sử dụng trong chương 1, khi phân tích
những nội dung nổi bật của các công trình nghiên cứu; trong chương 3, khi
đánh giá nội dung cơ bản và hạn chế của các VBPL về quản lý công chức,
viên chức nói chung, QLNN đối với ĐNGV các TCT nói riêng; khi phân tích
thực trạng ĐNGV các TCT vùng Đông Nam Bộ. Phương pháp này cũng được
sử dụng để phân tích các căn cứ đề xuất giải pháp tăng cường QLNN đối với
ĐNGV các TCT nói chung, trong đó có TCT vùng Đông Nam Bộ.
- Phương pháp so sánh: được sử dụng ở chương 3 khi phân tích, đối
chiếu giữa việc QLNN đối với ĐNGV giữa các TCT vùng Đông Nam Bộ với
một số trường ở các tỉnh, thành khác hoặc khi đối chiếu với quan điểm và
cách thức quản lý ĐNGV của một số nước trên thế giới.
- Phương pháp lịch sử: được sử dụng tập trung ở chương 3 khi nghiên
cứu về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về QLNN đối với
ĐNGV các TCT và thực trạng ĐNGV các TCT vùng Đông Nam Bộ.
Thứ ba, luận án xác lập được các quan điểm về tăng cường QLNN đối
với ĐNGV TCT. Luận án đề xuất một hệ thống các giải pháp để nâng cao
chất lượng ĐNGV TCT bao gồm các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
QLNN đối với công chức, viên chức, với ĐNGV TCT, giải pháp về thực hiện
pháp luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm phong phú thêm lý luận về QLNN đối với
ĐNGV TCT, góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm tăng
cường QLNN đối với ĐNGV các TCT ở Việt Nam.
8
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về QLNN, quản lý nguồn nhân
lực (như các trường hành chính, chính trị…); là tài liệu tham khảo cho cơ
quan hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực; các cơ quan xây dựng
pháp luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì
nội dung luận án được kết cấu gồm 04 chương:
Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.
Chƣơng 2. Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đội ngũ
giảng viên trường chính trị cấp tỉnh.
Chƣơng 3. Thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên
trường chính trị cấp tỉnh vùng Đông Nam Bộ.
Chƣơng 4. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước
do đặc thù của vấn đề, chỉ có ở một số nước đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa nên các nghiên cứu liên quan đến đề tài này ở nước ngoài cũng không
phải là hệ thống phong phú.
10
Để phục vụ cho nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh đã lựa chọn ra
những nghiên cứu tiêu biểu nhất liên quan đến các nội dung thuộc phạm vi
nghiên cứu của luận án.
1.1.1.
ng quan t nh h nh nghiên cứu nh ng vấn đ lý luận v quản lý
nhà nước đối với đội ngũ giảng viên trường chính trị cấp tỉnh
1.1.1.1. Các nghiên cứu về đội ngũ giảng viên và lý luận quản lý nhà nước
đối với đội ngũ giảng viên
Các nghiên cứu về ĐNGV và lý luận về QLNN đối với ĐNGV được
khai thác ở nhiều nhiều góc độ. Các nghiên cứu này có số lượng lớn và có thể
kể đến một số nghiên cứu điển hình sau:
Với chủ đề “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các trường
Đại học khối Kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào
tạo quốc tế” [20], Luận án Tiến sĩ Kinh tế chuyên ngành Kinh tế và tổ chức
lao động, tác giả Phan Thủy Chi đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về vấn đề
đào tạo nguồn nhân lực cho các trường Đại học khối Kinh tế của Việt Nam
thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế, các yêu cầu đặt ra đối với
công tác đào tạo phát triển đội ngũ giảng viên - lực lượng chủ chốt của nguồn
nhân lực trong các trường đại học. Luận án cũng chỉ ra rằng, đào tạo và phát
triển ĐNGV là nhiệm vụ quan trọng của công tác đào tạo và phát triển nguồn
quản và chiến lược quốc gia về phát triển nhân lực. Thứ hai, về chính sách thu
hút, tuyển dụng ĐNGV thì các nước đều có nền tảng về môi trường làm việc
dân chủ, tự do sáng tạo, khuyến khích phát triển tài năng. Thứ ba, chính sách
sử dụng, đánh giá ĐNGV đại học các nước đều cụ thể hóa quy định chi tiết
chức năng, nhiệm vụ của GV theo các vị trí việc làm. Thứ tư, có chính sách
đào tạo, bồi dưỡng áp dụng cho ứng viên ngay sau khi tuyển dụng. Thứ năm,
chính sách đãi ngộ hầu hết các nước trả lương theo kết quả chất lượng công
việc hoàn thành, không theo thâm niên.
Với chủ đề “Quản lý đào tạo giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu
cầu đổi mới hiện nay” [68], Luận án Tiến sĩ Quản lý giáo dục, tác giả Nguyễn
Thị Thu Thủy đã nghiên cứu về quản lý đào tạo GV lý luận chính trị, một
nguồn quan trọng để cung cấp ĐNGV dạy lý luận chính trị cho các trường đại
12
học, cao đẳng và cho cả hệ thống các TCT. Theo đó, tác giả tập trung trình bày
về yêu cầu và phẩm chất của GV lý luận chính trị: phải có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có ý chí phấn đấu vươn lên trong
nghề nghiệp, có năng lực nghiên cứu tốt, năng lực hoạt động chính trị thực tiễn,
năng lực sư phạm, năng lực tuyên truyền và năng lực quản lý. Các nội dung
này có thể được tham khảo khi nghiên cứu đặc điểm của ĐNGV TCT.
Cùng chủ đề trên, tác giả Nguyễn Mỹ Loan trong Luận án Tiến sĩ
Khoa học giáo dục “Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng
nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long”
[50] đã làm rõ các khái niệm GV, ĐNGV, quản lý phát triển ĐNGV, các tiêu
chuẩn của GV trường Cao đẳng nghề, nội dung của quản lý phát triển
ĐNGV: Quy hoạch phát triển ĐNGV dạy nghề; tuyển chọn và sử dụng; đào
tạo và bồi dưỡng; thực hiện chính sách; quan hệ hợp tác với các cơ sở sản
xuất kinh doanh dịch vụ; kiểm tra, đánh giá. Tác giả đã trình bày những yếu
động quản lý GV ở các trường đại học ở một số nước (Trung Quốc, Thái Lan,
Singapore) và rút ra các giá trị tham khảo cho Việt Nam.
Các nghiên cứu trên đều phân tích và tìm hiểu các khía cạnh khác nhau
liên quan đến các vấn đề lý luận về QLNN đối với ĐNGV đại học, cao đẳng
và sẽ là nguồn tài liệu tham khảo ở mức độ nhất định về QLNN đối với
ĐNGV TCT.
1.1.1.2. Các nghiên cứu về trường chính trị và lý luận quản lý nhà nước
đối với đội ngũ giảng viên trường chính trị
Các nghiên cứu về trường chính trị
Cuốn sách Cadre training and the Party schools system in
contemporary China (Đào tạo đội ngũ nòng cốt và hệ thống trường đảng ở
Trung Quốc đương đại) [74], của tác giả Frank N.Pieke đã đề cập đến nhiều
vấn đề có liên quan đến lý luận về TCT. Bài viết này tập trung giới thiệu về
trường đảng, về cấu trúc của trường đảng, về đào tạo đội ngũ nòng cốt, những
ảnh hưởng của đào tạo và những thách thức trong tương lai. Tài liệu này
không đề cập nhiều đến ĐNGV trường đảng nhưng cho thấy bức tranh tổng
14
quát nhất về trường đảng của Trung Quốc, đây là cơ sở để so sánh với các
TCT ở Việt Nam và một số nước khác.
Công trình The local party schools and China’s cadre education and
training: expectations and realities (Những trường đảng địa phương và đào
tạo đội ngũ nòng cốt ở Trung Quốc: Những kỳ vọng và thực tiễn) [75] của tác
giả Guo Weigui & Shan Wei. Cũng giống như nghiên cứu về Cadre training
and the Party schools system in contemporary China thì bài viết của Guo
Weigui & Shan Wei cũng đề cập đến vai trò của trường đảng địa phương
trong đào tạo đội ngũ nòng cốt; cấu trúc và hoạt động của trường đảng; sự
sách phát triển GV chính trị. Theo đó, nội dung chính sách phát triển GV
chính trị gồm: quy hoạch ĐNGV; thu hút, tuyển dụng ĐNGV; sử dụng, đánh
giá GV; đào tạo, bồi dưỡng GV; đãi ngộ, tôn vinh GV. GV TCT cũng là GV
chính trị theo đối tượng nghiên cứu của luận án này, vì thế đây cũng là nguồn
tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về QLNN đối với ĐNGV TCT.
Với chủ đề “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường chính trị các tỉnh
miền núi phía bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị” [37],
Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục của tác giả Nguyễn Mạnh Hải đã đề cập
đến phát triển ĐNGV TCT các tỉnh miền núi phía bắc. Tác giả phân tích về
nội dung phát triển ĐNGV các TCT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận
chính trị gồm: xây dựng chuẩn GV về nhiệm vụ, số lượng, cơ cấu và chất
lượng; quy hoạch, tuyển dụng, tuyển chọn GV; đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV; sử
dụng ĐNGV, đánh giá GV, tạo động lực và cơ chế quản lý GV.
Cùng chủ đề về phát triển ĐNGV, tác giả Phan Tiến Dũng trong Luận
văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng
viên trường chính trị Nghệ An” [29] đã phân tích vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của ĐNGV TCT. Tác giả cũng đã nêu ra các tiêu chí về phẩm chất,
năng lực cần có của GV TCT: phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng cộng
sản, với chủ nghĩa Mác – Lênin, với đường lối chủ trương của Đảng, pháp
luật của Nhà nước; có chuyên môn giỏi, tri thức rộng; có vốn sống thực tế;
phải yêu nghề; có đạo đức nghề giáo; giữ vững về kỹ năng nghề nghiệp.
16
Bài viết “Lý luận và thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng
viên Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh” [32] của tác giả Trần Tuấn
Duy đăng trên website Tạp chí Dân chủ và pháp luật, ngày 30/10/2015. Bài
viết đã nêu lên một số vấn đề lý luận về QLNN đối với ĐNGV Học viện Cán
bộ Thành phố Hồ Chí Minh như: Trình bày các khái niệm về QLNN, ĐNGV;
Thứ tư, quy trình hoạch định chính sách phát triển GV chưa mở rộng sự tham
gia của đối tượng thụ hưởng và các chuyên gia nên không có khả năng tạo ra
một chính sách tốt. Thứ năm, quá trình thực hiện chính sách phát triển GV
chính trị chưa được tốt.
Với chủ đề “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường
chính trị Nghệ An” [29], Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, tác giả Phan
Tiến Dũng đã phân tích thực trạng hoạt động phát triển ĐNGV TCT tỉnh
Nghệ An trên các mặt: tuyển dụng GV; quy hoạch ĐNGV; đào tạo, bồi dưỡng
ĐNGV; bố trí, sử dụng ĐNGV; thực hiện chế độ chính sách đối với ĐNGV;
kiểm tra, đánh giá ĐNGV. Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giá chung về thực
trạng và phân tích nguyên nhân cũng như rút ra các bài học kinh nghiệm.
Tác giả Lưu Phàm trong Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản “Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của trường đảng Trung Quốc” (中
国 共 产 党 党 教 基 本 问 题 研 究) [76] đã nêu lên một số thách thức trong
việc quản lý ĐNGV các trường đảng ở Trung Quốc: Một là, ĐNGV trường
Đảng còn chưa hình thành cơ chế hình thang có lợi cho việc hợp tác và
chuyển giao cũ mới, thiếu người kế cận. Hai là, trình độ chuyên môn không
cao, đặc biệt là những GV có trình độ khoa học với tầm ảnh hưởng cấp thành
phố, tỉnh, trong nước và quốc tế. Ba là, kinh nghiệm hoạt động thực tế và lý
luận liên quan thực tế chưa đủ. GV trẻ lại thiếu kinh nghiệm hoạt động thực
tiễn và rèn luyện thực tế cấp cơ sở. Bốn là, thu nhập, đãi ngộ cho GV trường
đảng tương đối thấp làm cho nhiều GV không yên tâm hoạt động. Năm là,
một số GV không phải là đảng viên, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt
động giáo dục cán bộ của trường đảng.
Trong Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ “Xây dựng đội ngũ
giảng viên đáp ứng yêu cầu hoạt động đào tạo ở trường Cao đẳng Cảnh sát
Nhân dân 1” [38] tác giả Phạm Tuấn Hiệp đã trình bày thực trạng hoạt động
18
19