Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học đại nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 29

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với quý thầy, cô
giáo Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và điều
kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Học viện.
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn Ban Giám hiệu, các
phòng chức năng, giáo viên các khoa của Trường Đại học Đại Nam đã cung cấp số
liệu, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu hoàn
thành luận văn này.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng tới thầy
PGS.TS Trần Quốc Thành, người Thầy giáo - Nhà khoa học đã tận tình cung cấp
những kiến thức khoa học, thực tiễn cùng những kinh nghiệm qui báu đã hết lòng
giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, song luận văn
này không tránh khỏi được thiếu sót. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các
thầy, các cô, các đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài.
Hà Nội, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Mạnh Hùng
1
MỤC LỤC Trang
Mở đầu
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên
trường Đại học ngoài công lập
Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Quản lý, quản lý nhà truờng, quản lý giáo dục
1.1.2 Giảng viên, đội ngũ, đội ngũ giảng viên
1.1.3 Phát triển đội ngũ giảng viên
1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ giảng viên
1.2.1 Nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên
1.2.2 Quyền hạn của người giáo viên
1.3 Các yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên trường ĐH ngoài

2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển đội ngũ
giảng viên
2.3.1 Thuận lợi
2.3.2 Khó khăn
2.4 Thực trạng đội ngũ giảng viên của trường Đại học Đại Nam

2.4.1 Thực trạng số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên
2.4.2 Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giảng dạy
của đội ngũ giảng viên
2.5 Các yêu cầu về việc phát triển đội ngũ giảng viên trường
Đại học Đại Nam
2.5.1 Giảng viên thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn
2.5.2 Đảm bảo chất lượng, số lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên
2.5.3 Chăm lo công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại
học Đại Nam
2.6 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường
Đại học Đại Nam
2.6.1 Công tác lập kế hoạch tuyển dụng
2.6.2 Công tác tuyển chọn giảng viên
2.6.3 Công tác sử dụng đội ngũ giảng viên
2.6.4 Công tác đánh giá đội ngũ giảng viên
2.6.5 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
2.6.6 Các chính sách nhằm đảm bảo phát triển đội ngũ giảng viên
2.6.7 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên
tại trường Đại học Đại Nam
Kết luận chương 2
Chương 3. Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ
giảng viên trường Đại học Đại Nam
3.1 Phương hướng phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học
Đại Nam đến năm 2015

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phục lục
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBQL Cán bộ quản lý
ĐH Đại học
ĐBCL Đảm bảo chất lượng
ĐNGV Đội ngũ giảng viên
GD Giáo dục
HS-SV Học sinh – sinh viên
HĐQT Hội đồng Quản trị
QL Quản lý
TW Trung ương
TP Thành phố
UBND Ủy ban nhân dân
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong mọi thời đại, nhà giáo luôn có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, giữ vai
trò then chốt trong sự nghiệp giáo dục bởi họ là những người trực tiếp biến các
chính sách, mục tiêu giáo dục thành hiện thực.
Đội ngũ nhà giáo ngày nay được đánh giá cao với một cách nhìn nhận mới,
đồng thời đội ngũ giáo viên phải có trách nhiệm nâng cao, hoàn thiện hơn nữa
trình độ chuyên môn - nghiệp vụ, thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng, từ đó
có thể đào tạo một cách bài bản, hiệu quả lực lượng lao động tương lai. Việc giữ
gìn và phát triển đội ngũ giảng hiện nay cũng là vấn đề hết sức được quan tâm,
được trú trọng, giúp khẳng định quy mô và thương hiệu của các nhà trường.
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế
giới (WTO), cơ hội mới và cả những thách thức còn đang ở phía trước. Để đưa đất

chưa đáp ứng được kịp thời việc nghiên cứu khoa học và dạy học cho sinh viên nhà
trường ở hiện tại, và nhất là giai đoạn từ 2014 – 2018, giai đoạn nhà trường phấn
đấu trở thành một trong 10 trường Đại học không phân biệt công lập hay tư thục
hàng đầu .
Trường đại học Đại Nam trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển
chung của giáo dục cả nước thì nhà trường luôn có tốc độ tăng trưởng nhanh về qui
7
mô đào tạo cũng như sự đa dạng hoá các loại hình đào tạo và chuyên ngành đào tạo.
Định hướng phát triển của trường là chuẩn hóa đội ngũ giảng viên. Điều này đòi
hỏi trong thời gian tới, Nhà trường phải có những biện pháp cần thiết để tăng quy
mô và chất lượng đào tạo, trong đó khâu xây dựng, phát triển giảng viên là vô cùng
quan trọng.
Trường Đại học Đại Nam nằm khá gần trung tâm Hà Nội, do đó tính cạnh
tranh giữa các cơ sở đào tạo và bậc đào tạo tương đương là rất cao, chính vì vậy
đòi hỏi Nhà trường phải có đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao và năng
động, đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và hợp lý về cơ cấu để đảm bảo mở rộng
quy mô các ngành nghề đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu
của thị trường lao động và tăng sức cạnh tranh của Nhà trường so với các cơ sở đào
tạo khác. Vì thế rất cần thiết phải quan tâm, nghiên cứu về lĩnh vực quản lý phát
triển đội ngũ giảng viên của nhà trường. Phát triển đội ngũ giảng viên đại học là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình đi lên của các trường đại học, đồng thời cũng
thể hiện khả năng cạnh tranh giữa các nhà trường trong nước và trong khu vực.
Vì những lý do nêu trên, việc chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý phát triển đội
ngũ giảng viên trường Đại học Đại Nam trong giai đoạn hiện nay” là cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và phân tích, đánh giá thực trạng quản lý đội ngũ
giảng viên ở trường Đại học Đại Nam, đề xuất một số biện pháp quản lý phát triển
đội ngũ giảng viên trường đại học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo ở trường đại học.
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu

pháp phát triển đội ngũ giảng viên, góp phần tích cực vào công tác quản lý của nhà
trường. Ngoài ra đề tài còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản
lý, giảng viên và sinh viên đang làm việc và học tập tại trường Đại học Đại Nam.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các tài liệu, những vấn đề có liên quan đến công tác phát triển đội
ngũ giảng viên.
Nghiên cứu (phân tích, tổng hợp) những tài liệu liên quan đến vấn đề phát
triển đội ngũ giảng viên như các nghị quyết của Trung Ương Đảng, Luật Giáo dục,
các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp ngành, cấp cơ sở, các tài liệu về phát
triển nguồn nhân lực ngành giáo dục đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên để hình
thành cơ sở lý luận của đề tài
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Điều tra bằng phiếu hỏi, sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để thu thập thông
tin cần thiết về thực trạng đội ngũ giảng viên hiện nay.
- Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn các hoạt động quản lý, giảng
dạy học tập trong nhà truờng. Từ đó rút ra một số kết luận có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên.
- Nghiên cứu tài liệu, các báo cáo của các truờng cùng hệ đào tạo về vấn đề
phát triển đội ngũ giảng viên để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phuơng pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về biện pháp phát triển
đội ngũ giảng viên. Trao đổi phỏng vấn với các cán bộ quản lý có kinh nghiệm, đội
ngũ giảng viên lâu năm có uy tín.
- Phương pháp toán thống kê, thu thập và phân tích xử lý số liệu bảng mẫu,
biểu mẫu, biểu đồ: phương pháp này dùng để thống kê số lượng, chất lượng đội ngũ
10
giảng viên, sinh viên. Xử lý các số liệu đã thống kê, kiểm định độ tin cậy của các
biện pháp kiểm định thống kê, kiểm định độ tin cậy của biện pháp phát triển đội
ngũ giảng viên, từ đó đề xuất nhằm đưa ra kết luận phục vụ cho công tác nghiên

cứu và phát triển ở các trường đại học và gửi sinh viên giỏi đi đào tạo ở nước ngoài;
ở Hàn Quốc chính sách và chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn mới được
12
hoạch định dựa theo yêu cầu phát triển của quốc gia hướng vào thế kỷ XXI của 1
quốc gia hiện đại với 3 đặc điểm:
- Một quốc gia phúc lợi, công bằng, ổn định và dân chủ
- Một xã hội phồn vinh, bình đẳng, công nghiệp hoá và định hướng thông tin
cao
- Một hệ thống tự do và năng động của một xã hội mở và định hướng toàn
cầu hoá
Ngoài ra còn một số quan điểm về phát triển đội ngũ giảng viên trên thế giới
rất đáng quan tâm dưới đây:
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực bền vững của Tổ chức Bộ trưởng Giáo
dục các nước Đông Nam Á SEAMEO.
SEAMEO phục vụ nhu cầu của các nước trong khu vực và bên ngoài về các
lĩnh vực đào tạo, tư vấn, nghiên cứu và thông tin có chất lượng về giáo dục, sức
khoẻ theo sứ mạng và mục tiêu của tổ chức. SEAMEO đã nghiên cứu và áp dụng
hiệu quả các kết quả nghiên cứu chủ yếu như những định hướng và các biện pháp
phát triển nhân lực trong các chương trình và dự án, đó là:
+ Chất lượng và sự phù hợp của chương trình đào tạo nhân lực được tăng
cường.
+ Chất lượng và hiệu quả quản lý nhân lực được nâng lên.
+ Sự ổn định và tài chính được đảm bảo.
Những chương trình của SEAMEO được tăng cường tiếp cận thị trường,
đồng thời mối liên kết của các tổ chức quốc gia, khu vực và quốc tế được tăng
cường và nâng cao, nhằm mục đích phát triển nguồn nhân lực xã hội đủ về số
lượng, hợp lý về cơ cấu và đặc biệt nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp.
Chiến lược đổi mới về phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng
giáo dục ở Canađa:
13

Để đạt được mục tiêu trên, nhà nước đã giải quyết hàng loạt các nhiệm vụ ưu tiên
hàng đầu liên quan với nhau. Cụ thể là:
- Đảm bảo sự bảo lãnh quốc gia đối với quyền được học tập và bình đảng cơ
hội tiếp cận giáo dục hoàn chỉnh;
- Hình thành trong hệ thống giáo dục những cơ chế chuẩn mực - pháp lý, tổ
chức - kinh tế thu hút và sử dụng các nguồn ngoài ngân sách;
- Nâng cao vị thế xã hội và trình độ nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm
công tác giáo dục, tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước và của xã hội đối với họ;
- Phát triển giáo dục như là một hệ thống quốc gia - xã hội mở trên cơ sở
phân chia trách nhiệm giữa các chủ thể chính sách giáo dục và đề cao vai trò của tất
cả các thành viên.
Như vậy, Nga đã chỉ ra không những giáo dục phải hướng vào địa chỉ xã hội,
tạo sự cân bằng quyền lợi xã hội, xây dựng quan hệ hiệu quả kinh tế trong xã hội,
mà còn phải đảm bảo hệ thống giáo dục có đội ngũ cán bộ trình độ cao (phát triển
đội ngũ làm công tác giáo dục).
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu như luận văn thạc sĩ, các đề tài
KH&CN, đề án, về phát triển đội ngũ trong các cơ sở giáo dục nói chung. Các
sản phẩm nghiên cứu đó được chuyển thành sách, giáo trình giảng dạy về quản lý tổ
chức bộ máy và nhân sự trong các trường học của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ quản lý giáo dục. Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về phát triển ĐNGV,
giáo viên trong các trường học thì không nhiều; tuy nhiên cũng có một số công
trình điển hình như:
15
- Đề tài KH&CN cấp Bộ, mã số B92. 38 - 18 “Nghiên cứu việc bồi dưỡng
cán bộ giảng dạy đại học và giáo viên dạy nghề” do Phạm Thành Nghị làm chủ
nhiệm đề tài (bảo vệ năm 1993).
Đề tài đã nêu lên thực trạng ĐNGV giảng dạy đại học và giáo viên dạy nghề,
có thể nói khái quát rằng đề tài đã chỉ ra đội ngũ này đang bị hạn chế về nhiều mặt:
mặt bằng trình độ không đồng đều; trình độ tay nghề còn thấp; trình độ sư phạm

1990) lên 118 SV/1 vạn dân (năm 2000).
+ Đội ngũ cán bộ giảng dạy tăng cả về số lượng và chất lượng, từ 20.871
giảng viên (năm 1990) lên 32.205 giảng viên (năm 2000) với 4,5% Giáo sư và Phó
giáo sư; 14,16% Tiến sỹ và 25% Thạc sỹ.
Đề án đề xuất vai trò của Nhà nước chuyển từ người đóng vai thực hiện sang
tạo điều kiện là chính trong sự phát triển sự nghiệp GD&ĐT. Vai trò quản lý nhà
nước thể hiện ở điều hành cấp vĩ mô về phát triển đào tạo và sử dụng nguồn nhân
lực (đảm bảo thống nhất, toàn diện, liên ngành, liên vùng) theo một chiến lược
chung.
Đề án đã nghiên cứu, xây dựng ban hành Chuẩn chất lượng giáo dục (cơ sở
vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học, giáo viên) phù hợp với trình độ và yêu
cầu phát triển trong từng giai đoạn.
Đặc biệt Đề án cũng đã chỉ ra các giải pháp và tổ chức các giải pháp để phát
triển đội ngũ nhà giáo thông qua đào tạo giáo viên các cơ sở giáo dục đại học; trong
những giải pháp đó có giải pháp về phát triển ĐNGV để đáp ứng được yêu cầu đào
tạo giáo viên.
Tại các trường đại học, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, trong
đó phải kể đến luận văn “Những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường
17
Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình giai đoạn 2006 - 2010” năm 2006 của Nguyễn Thị Lệ
Hường - Luận văn thạc sỹ khoa học quản lý giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội; “Quản lý phát triển đôi ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sơn La trong giai
đoạn hiện nay” năm 2009 của Lê Văn Đà - Luận văn thạc sỹ khoa học quản lý giáo
dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội; “Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao
trình độ đội ngũ giảng viên các trung tâm kỹ thuật - tổng hộp - hướng nghiệp của
thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” năm 2002 của Vũ Đức Tuấn - Luận
văn thạc sỹ quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội II và một số công trình nghiên cứu khoa học khác. Tuy nhiên vấn đề quản
lý phát triển đội ngũ giảng viên chưa được đề cập đầy đủ, toàn diện để có thể ứng
dụng vào điều kiện thực tiễn ở từng ngành nghề, địa phương.

những hoạt động cá nhân, sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là
những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản
xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản
xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần
có một nhạc trưởng” [26;105].
Cũng theo nguồn Cẩm nang quản lý của tác giả Nguyễn Hoàng Phương các
nhà quản lý học Việt Nam cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ
quản lý:
Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc
với con người
- Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công
việc và những nổ lực của con người nhằm đạt được những mục tiệu đặt ra.
19
- Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) kể cả
nguồn lực đạt đến kết quả kỳ vọng.
- Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã
hội để chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của
người quản lý.
- Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo kiểm tra công việc của
các thành viên thuộc hệ thống đơnvị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt
được mục đích đã định. [26;105].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể
của chủ thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”. [27;105]
Nhóm tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì cho rằng: Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách
thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích dự kiến của tổ chức” [17;104]
Như vậy, một cách tổng quát nhất quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ
thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, nguyên tắc tương ứng cho hệ

(4)
Lãnh đạo, chỉ đạo
(3)
Tổ chức
(2)
nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Quản lý là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và
sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn
định và phát triển. Giáo dục là bộ phận của kinh tế - xã hội, hệ thống giáo dục,
mạng lưới nhà trường là bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội. Do vậy, quản lý giáo dục là
quản lý một loại quá trình kinh tế xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự phân
hóa xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội.
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội. Bản chất
của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã
hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát
triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên
cơ sở đó không ngừng phát triển.
Quản lý giáo dục đã được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra một số
định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là
hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”. Như vậy theo tác giả Đặng Quốc
Bảo thì với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ
giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ
trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân,
các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. [16;104]
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ
vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính
chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm tụ hội là quá trình

- Mặt khác phương tiện lao động của giảng viên chủ yếu là phương tiện tinh
thần bằng lời, bằng tấm gương, bằng thái độ, bằng điểm tựa, bằng cảm hóa… Thời
gian lao động của người giảng viên cũng khác, nó không được tách bạch, rạch ròi
với thời gian không lao động sư phạm. Với bất kỳ lúc nào, ngay cả khi nghỉ ngơi,
giải trí hay làm việc gia đình…. Người giảng viên vẫn có thể nghĩ về công việc sư
phạm của mình. Vì vậy, trong công tác quản lý giáo dục cần tạo điều kiện thuận lợi
về môi trường sư phạm và đáp ứng nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần cho
giảng viên, đặc biệt là tạo điều kiện để nâng cao tiềm lực cho đội ngũ nhà giáo để
họ có động lực lao động tốt nhất.
- Quản lý giáo dục được gắn liền với quyền lực nhà nước trong việc điều
hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục, thông qua việc xây dựng, ban hành và
chấp hành các văn bản như luật, điều lệ và các quy định, quy chế chuyên môn sư
phạm. Do đó quản lý giáo dục có tính chất kết hợp chặt chẽ giữa quản lý hành
chính nhà nước với quản lý chuyên môn sư phạm.
- Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù là hình thành và phát triển nhân cách
cho người học, nên quản lý giáo dục phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn những sai
sót trong công việc tạo ra “phế phẩm” trong giáo dục.
- Quản lý giáo dục gắn liền với phát triển quan điểm quần chúng, xã hội bởi
vì hoạt động giáo dục là hiện tượng của xã hội, do đó cần kết hợp nhân tố bên trong
và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong có tính chất quyết định. Nhà trường và hệ
thống các cơ quan quản lý giáo dục phải chủ động phối hợp chặt chẽ và đồng bộ gia
đình và các lực lượng xã hội trong việc điều hành và điều chỉnh các hoạt động giáo
dục và đào tạo
- Quản lý giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó khai thác
được các nhân tố tích cực của học sinh, sinh viên và người học trên cơ sở đó phát
huy và lan tỏa những nhân tố tích cực từ học sinh, sinh viên và các người học tới
các khối dân cư khác nhau trong cộng đồng xã hội.
24
1.2.2. Giảng viên, đội ngũ, đội ngũ giảng viên
Giảng viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status