Khảo sát tình hình sử dụng thuốc meloxicam cho bệnh nhân khớp điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện tháp mười nửa cuối năm 2017 - Pdf 55

MỤC LỤC
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................. 1
CHƯƠNG II................................................................................................................................................................. 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................................................................................................. 3
1. THUỐC GIẢM ĐAU CHỐNG VIÊM KHÔNG STEROID............................................................................................. 3
1.1. Đại cương.................................................................................................................................................... 3
1.2. Tác dụng chính và cơ chế............................................................................................................................. 3
1.3. Tác dụng không mong muốn:....................................................................................................................... 7
1.4. Chỉ định chung của NSAID:........................................................................................................................... 8
1.5. Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc NSAID :.......................................................................................... 8
1.6. Phân loại các thuốc NSAID........................................................................................................................... 9
2.CÁC THUỐC NSAID THƯỜNG DÙNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN THÁP MƯỜI..................................................11
2.1 Dẫn chất acid salicylic:................................................................................................................................ 11
2.2.Dẫn chất acid Phenylacetic......................................................................................................................... 12
2.3.Dẫn xuất Oxicam:........................................................................................................................................ 14
2.4.Dẫn xuất Aminophenol:.............................................................................................................................. 15
3. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ BỆNH XƯƠNG KHỚP:.................................................................................................... 17
3.1. Một số nguyên nhân đau xương khớp mạn tính thường gặp.....................................................................17
3.2. Đặc điểm của một số bệnh có đau xương khớp mạn tính thường gặp........................................................17
3.3. Điều trị các bệnh lý về xương khớp:........................................................................................................... 19
CHƯƠNG III.............................................................................................................................................................. 20
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................................................................................... 20
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU................................................................................................................................ 20
1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn:................................................................................................................................... 20
1.2.Tiêu chuẩn loại trừ:..................................................................................................................................... 20
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................................................................................... 20
2.1. Phương pháp chọn mẫu:............................................................................................................................ 20
2.2. Phương pháp thu thập số liệu:................................................................................................................... 20
2.3. Phương pháp xử lý số liệu:......................................................................................................................... 20
CHƯƠNG IV.............................................................................................................................................................. 21
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.......................................................................................................................................... 21


10

Bảng 3.1 Sự phân bố về tuổi của người bệnh trong mẫu nghiên cứu

24

Bảng 3.2 Các bệnh xương khớp mắc phải

26

Bảng 3.3 Bệnh mắc kèm

28

Bảng 3.4 Thời gian mắc bệnh

29

Bảng 3.5 Các loại thuốcNSAID gặp trong bệnh án khảo sát

30

Bảng 3.6 Tỷ lệ từng thuốc so với tổng số thuốc NSAID đã sử dụng

32

Bảng 3.7 Các đường dùng của thuốc NSAID trong mẫu khảo sát

33

CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU
Tuổi thọ ngày càng cao nên tỷ lệ người có tuổi (>= 65 tuổi) trong cộng đồng cũng
ngày càng tăng. Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới, người cao tuổi đang
chiếm 11 - 12% dân số, ước tính đến năm 2020 con số này sẽ lên đến 17%, thậm chí có
thể lên tới 25% ở các nước Âu, Mỹ, tuổi thọ tăng cao, dân số thế giới ngày càng già đi và
tuổi già đã trở thành thách thức của nhân loại. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi
người đặc biệt là cho người có tuổi, một bộ phận rất quan trọng trong mỗi gia đình và
cộng đồng đang là một mục tiêu quan trọng của công tác y tế trong giai đoạn chuyển tiếp
sang Thiên niên kỷ mới.
Một trong những căn bệnh đeo đẳng cuộc sống của con người khó có thể điều trị
khỏi đó là các bệnh lý về xương khớp (chiếm tỷ lệ cao nhất cả ở các nước phát triển và
đang phát triển), Các bệnh xương khớp tuy ít gây tử vong nhưng gây đau đớn kéo dài cho
hàng trăm triệu người, Bệnh thường kéo dài và có thể gây tàn phế cho nhiều người. Nhóm
bệnh lý này gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động và hạn chế hoạt động hàng
ngày. Trong tương lai, tỷ lệ này còn đang tiếp tục tăng cao vì sự gia tăng tuổi thọ... Ngoài
tác động rất lớn về kinh tế, xã hội, các bệnh Xương Khớp còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm
lý tình cảm của con người. Chỉ riêng ở Mỹ, thiệt hại do nghỉ việc, giảm năng suất lao
động của các bệnh Xương Khớp tương đương với 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP)
các bệnh Xương Khớp ảnh hưởng hàng trăm triệu người, mà ước tính tiêu tốn của xã hội
tới 215 tỷ USD hàng năm. Tạo ra một gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Các thuốc giảm đau chống viêm không Steroid là những thuốc được lựa chọn đầu
tiên trong điều trị các bệnh xương khớp, với các tác dụng giảm đau, chống viêm. Được sử
dụng với nhiều chế phẩm, biệt dược và nhiều dạng bào chế rất phong phú. Do hiểu biết về
cách sử dụng của từng dạng bào chế
của người dân nói chung còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả điều trị nhiều khi
không đạt được như mong muốn. Việc sử dụng thuốc, kê đơn thuốc cho bệnh nhân tại các
bệnh viện nhiều khi vẫn thực hiện theo thói quen của người đi trước truyền lại, và có thể
còn vì lợi nhuận kinh tế, chưa chú trọng nhiều về lựa chọn loại thuốc, dạng thuốc và
hướng dẫn sử dụng hợp lý cho từng người bệnh theo đúng nguyên tắc sử dụng thuốc. Vì
vậy vấn đề sử dụng thuốc giảm đau chống viêm không Steroid, đặc biệt là thuốc

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. THUỐC GIẢM ĐAU CHỐNG VIÊM KHÔNG STEROID
1.1. Đại cương
Các thuốc chống viêm không steroid là một nhóm gồm nhiều thuốc khác nhau về
cấu trúc hóa học. Các thuốc trong nhóm đều có tác dụng hạ sốt
– giảm đau- chống viêm ở những mức độ khác nhau không thuộc nhóm các Opiat và
trong cấu tạo của chúng không có cấu trúc Steroid, do đó được gọi là các thuốc chống
viêm không Steroid (Non Steroidal Anti-Inflammatory Drug hay NSAID), và không có
tác dụng hormon.
Các chất thuộc nhóm này có cùng cơ chế tác dụng là ức chế sự tạo thành
Prostaglandin. Chất trung gian hóa học khởi phát nhiều quá trình sinh lý và bệnh lý của cơ
thể. Prostaglandin sẽ khơi mào cho việc tạo ra các chất trung gian hóa học khác như
serotonin, bradikinin, histamin…ở ngọn sợi cảm giác (ngoại vi) nên các thuốc nhóm này
được xếp vào nhóm giảm đau ngoại vi.
Một số chất đồng thời có cả ba tác dụng trên, có thể có một, hai tác dụng trội hơn
hoặc không có một tác dụng nào đó (Paracetamol không có tác dụng chống viêm) nhưng
cùng một cơ chế tác dụng.
1.2. Tác dụng chính và cơ chế
1.2.1 Cơ chế ức chế quá trình sinh tổng hợp Prostaglandin (PG)
PG được tổng hợp ở màng tế bào (tử cung, phổi, não, tuyến ức, tuyến tụy, thận,…)
từ Acid arachidonic qua xúc tác của Enzym ciclooxygenase
(COX). Acid arachidonic được hình thành từ Phospholipid màng tế bào nhờ
Phospholipase A2. Bình thường lượng acid arachidonic tự do trong huyết tương rất thấp,
chủ yếu từ thức ăn và từ mô mỡ. Do đó mức độ tạo thành các PG cũng rất thấp. Nhưng
khi bị kích thích, acid arachidonic tự do được giải phóng ra nhiều và chủ yếu là từ
Phospholipid của màng tế bào. Nếu có tác nhân gây viêm,
gây sốt, gây đau kích thích vào cơ thể, sẽ hoạt hóa sự tổng hợp PG là chất vừa
có khả năng gây ra, vừa có khả năng làm tăng viêm, sốt, đau.

3

LOX

Leucotrien

- Viêm
- Co thắt phế quản

- Tăng sức lọc cầu thận

Hình 2.1: Vai trò của Enzym cyclooxygenase (COX)
và lipooxygenase (LOX).
PG có nhiều loại, hay gặp là PGE, PGF. Khi có những kích thích gây viêm đều
làm tăng tổng hợp PG. Trong cơ thể luôn có sự tổng hợp PG từ acid arachidonic dưới
tác dụng của COX. PGE2 và Prostacyclin (PGI2) làm giãn tiểu động mạch, tiểu tĩnh
mạch, gây ban đỏ, nóng, phù nề. PG làm cho những ngọn dây thần kinh đi tới
(afferent) gây đau nhạy cảm hơn với chất được giải phóng tại ổ viêm. PGE 1 gây sốt,
PGF2α gây co cơ trơn phế quản rất mạnh; ngược lại, PGE 1, PGE2 làm giãn phế quản.
Ngoài ra, PGE2 và PGE2α làm tăng biên độ và tần số co bóp của tử cung có thai.
Cơ chế tác dụng chủ yếu của nhóm thuốc là ức chế enzym Cyclooxygenase.

4


1.2.2.Tác dụng và cơ chế chống viêm của NSAID
Cơ chế chống viêm:
Các thuốc NSAID đều ức chế enzym cyclooxygenase (COX) ngăn cản tổng hợp
Prostaglandin là chất trung gian hóa học gây viêm, do đó làm giảm quá trình viêm (đây
là cơ chế quan trọng nhất).

Phospholipid màng

5


Chính vì thế, xu hướng mới là tạo ra các thuốc chống viêm có tác dụng chọn lọc lên
enzym COX để thuốc không ảnh hưởng tới chức
năng sinh lý bình thường, giảm tác dụng không mong muốn mà vẫn duy trì được tác
dụng chống viêm.
1.2.3.Tác dụng giảm đau
Thuốc có tác dụng giảm đau từ đau nhẹ đến đau vừa, vị trí tác dụng là ở các
reseptor cảm giác ngoại vi. Tác dụng tốt với các loại đau, đặc biệt là các chứng đau do
viêm. Khác với các thuốc giảm đau trung ương (nhóm opiat), thuốc giảm đau-hạ sốtchống viêm không có tác dụng giảm đau mạnh, không giảm đau sâu trong nội tạng,
không gây ức chế hô hấp và đặc biệt không gây lệ thuộc thuốc khi dùng kéo dài.
Cơ chế giảm đau: Thuốc làm giảm tổng hợp PGF 2, làm giảm tính cảm thụ của
ngọn dây thần kinh cảm giác với các chất gây đau của phản ứng viêm như bradykinin,
serotonin,…
1.2.4. Tác dụng hạ sốt:
Chất gây sốt (+) Bạch cầu (+)

Chất gây sốt
Thuốc hạ sốt

Ngoại lai

nội tại
(+)

(-)

PG synthetase
Acid arachidonic

Tiểu cầu

Aspirin

Aspirin

(-)

(-)

Prostacyclin synthetase
Prostacyclin (PGI2)

Thromboxan synthetase
Thromboxan A2 (TXA2)

Hình 2.4: cơ chế chống kết dính tiểu cầu của Aspirin
1.2.6. Các tác dụng khác
Ngoài ra các thuốc này còn đối kháng với hệ enzym phân hủy protein, ngăn cản
quá trình biến đổi protein làm vững bền màng lysosom và đối kháng tác dụng các chất
trung gian hóa học như bradykinin, histamin, serotonin, ức chế hóa hướng động bạch
cầu, ức chế sự di chuyển của bạch cầu tới ổ viêm, ngăn cản quá trình kết hợp kháng
nguyên và kháng thể, hủy fibrin.
1.3. Tác dụng không mong muốn:
Tác dụng không mong muốn của các thuốc NSAID chủ yếu liên quan đến tác dụng ức
chế tổng hợp PG.
1.3.1.Tác dụng trên tiêu hóa:
Kích ứng, đau thượng vị, nặng hơn có thể loét dạ dày tá tràng, xuất huyết tiêu hóa,…
nguyên nhân là do thuốc ức chế tổng hợp PGE1 và PGE2 làm giảm tiết chất nhầy và các
chất bảo vệ niêm mạc, tạo thuận lợi cho các yếu tố gây loét xâm lấn...

Các thuốc NSAID (trừ paracetamol) gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa nên
những thuốc này được chỉ định uống sau bữa ăn. Đối với những thuốc bị thức ăn làm
giảm hấp thu (aspirin) thì nên chọn dạng bào chế thích hợp như viên sủi, viên bao tan ở
ruột…hay trước khi uống nên dùng hồ tinh bột, cháo loãng hoặc sữa để bao đường tiêu
hóa trước.

8


Đối với viên nén trần thì phải uống sau bữa ăn, nhai kỹ viên và kèm theo uống
nhiều nước (khoảng 200ml nước) để giảm thời gian lưu thuốc ở dạ dày .
Đối với viên bao tan ở ruột thì nên uống xa bữa ăn ( khoảng 30 phút trước khi
ăn hoặc 2 giờ sau khi ăn, vì nếu uống cùng thức ăn thuốc có thể lưu lại ở dạ dày lâu (từ
1-8 giờ) dễ làm màng bao viên bị vỡ.
Đối với viên sủi , thuốc bột khi pha thành dung dịch thì có thể uống trước hay
sau bữa ăn, bởi vì dạng dung dịch thuốc không bị cản trở bởi thức ăn mà nhanh chóng
được chuyển xuống ruột nên tránh được tác dụng kích ứng dạ dày.
Trong mọi trường hợp nên uống nhiều nước. Lượng nước lớn có tác dụng làm
tăng độ tan của thuốc, giúp cho thuốc tiếp xúc với bề mặt rộng lớn của ống tiêu hóa tốt
hơn, do tăng diện tích tiếp xúc nên thuốc hấp thu nhanh hơn.
1.5.2.Cách lựa chọn dạng bào chế:
Dựa vào ưu nhược điểm của các dạng bào chế của các thuốc NSAID, để tránh
tác dụng kích ứng dạ dày có thể dùng các dạng viên bao tan ở ruột, viên sủi, thuốc bột,
thuốc đạn. Trong trường hợp người bệnh bị đau cấp tính, cần thuốc xuất hiện tác dụng
nhanh thì nên sử dụng thuốc tiêm.
1.5.3.Các thuốc dùng kèm khác:
Để điều trị dự phòng, làm giảm các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, có thể
dùng các nhóm sau:
Nhóm thuốc ức chế bơm proton (omeprazol 20mg) hoặc ức chế H2 (famotidin
40mg) uống mỗi tối trước khi đi ngủ.



Acid acetylsalicylic,
Acid salicylic

Methylsalicylat,
Diflunisal
Phenylbutazon,

Pyrazolon

Metamizol,
Noramidopyrin..
Indomethacin, Sulin dac,

Indol
Tolmentin, Etodolac
Piroxicam, Tenoxicam,

Giảm đau, hạ sốt,

Meloxicam

chống viêm

Oxicam
Ibuprofen. Ketoprofen,
Acid Propionic

Naproxen, Fenoprofen,

2.1 Dẫn chất acid salicylic:
Thuốc Aspirin
Tên chung quốc tế: Aspirin
Biệt dược và dạng thuốc: Viên bao tan ở ruột Aspirin pH8 500mg, viên
nén 81mg, gói thuốc bột Aspegic.
Thuốc có tác dụng giảm đau, hạ sốt, chống viêm, và ức chế kết tập tiểu cầu.
Aspirin ức chế không thuận nghịch cyclooxygenase, do đó ức chế tổng
hợp prostaglandin
Aspirin được hấp thụ nhanh với mức độ cao, sinh khả dụng đường uống: 68 ±
0,03. Gắn với protein 49%.
Chỉ định:
Thuốc được chỉ định để giảm các cơn đau nhẹ và vừa, đồng thời giảm sốt. Vì có
tỷ lệ cao về tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, nên Aspirin hay được thay thế bằng
Paracetamol, dung nạp tốt hơn. Aspirin cũng được sử dụng trong viêm cấp và mạn như
viêm khớp dạng thấp, viêm khớp dạng thấp thiếu niên, viêm (thoái hóa) xương khớp và
viêm đốt sống dạng thấp.
Nhờ có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, aspirin được sử dụng trong dự phòng
thứ phát nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở những người bệnh có tiền sử về bệnh này.
Chống chỉ định:
Do nguy cơ dị ứng chéo, không dùng aspirin cho người đã có triệu chứng hen,
viêm mũi hoặc mày đay khi dùng aspirin hoặc những thuốc chống viêm không steroid
trước đây. Người có tiền sử bệnh hen không được dùng aspirin do nguy cơ gây hen
thông qua tương tác với cân bằng prostaglandin và thromboxan.
Không dùng aspirin cho những người có bệnh ưa chảy máu, giảm tiểu cầu, loét
dạ dày hoặc tá tràng đang hoạt động, suy tim vừa và nặng, suy gan, suy thận, đặc biệt
người có tốc độ loccj cầu thận dưới 30ml/ phút và xơ gan.
Tác dụng không mong muốn:
ADR phổ biến nhất liên quan đến hệ tiêu hóa, thần kinh và cầm máu.

11

hoặc suy gan nặng.
Người đang dùng thuốc chống đông Coumarin.

12


Người bị suy tim ứ máu, giảm thể tích tuần hoàn do thuốc lợi tiểu hay do suy
thận, tốc độ lọc cầu thận < 30ml/phút (do nguy cơ xuất hiện suy thận).
Người bị bệnh chất tạo keo.
Người mang kính sát tròng.
Liều lượng và cách dùng:
Tùy theo nhu cầu và đáp ứng của từng cá nhân và cần phải dùng liều thấp nhất
có tác dụng. Trong trị liệu dài ngày, kết quả phần lớn xuất hiện trong sáu tháng đầu và
thường được duy trì sau đó.
Liều dùng:
Viêm đốt sống cứng khớp: uống 100-125mg/ngày, chia làm nhiều lần (25mg, 4
lần / ngày, thêm 1 lần 25mg vào lúc đi ngủ nếu cần).
Thoái hóa (hư) khớp: uống 100-150mg/ngày, chia làm nhiều lần ( 50mg, 2-3
lần/ngày, hoặc 75mg/lần, 2 lần/ngày). Điều trị dài ngày: 100mg/ngày; không nên dùng
liều cao hơn.
Hư khớp:100mg/ngày, uống làm một lần vào buổi tối trước lúc đi ngủ hoặc uống
50mg, ngày 2 lần.
Viêm khớp dạng thấp: Viên giải phóng kéo dài Natri diclofenac, viên giải phóng
nhanh Kali diclofenac hay viên bao tan ở ruột: 100- 200mg/ngày, uống làm nhiều lần
(50mg, ngày 3 hoặc 4 lần, hoặc 75mg, ngày 2 lần).
Viêm khớp dạng thấp thiếu niên: Trẻ em từ 1-12 tuổi: 1- 3mg/kg/ngày, chia làm
2-3 lần.
Đau sau mổ:75mg, tiêm bắp ngày 2 lần; hoặc 100mg, đặt thuốc vào trực tràng
ngày 2 lần.
Đau trong ung thư: 100mg, ngày 2 lần.

thuốc trong dịch khớp cao gấp 2,5 lần trong huyết tương vì trong dịch khớp ít protein
hơn.
Dạng viên được chỉ định dùng dài ngày trong bệnh thoái hóa khớp, viêm cột
sống dính khớp và các bệnh khớp mạn tính khác.
Dạng tiêm được sử dụng ngắn ngày trong những đợt đau cấp do bệnh thấp mạn
tính.
Không dùng meloxicam cho người có tiền sử dị ứng với aspirin hoặc các thuốc
chống viêm không steroid khác. Không dùng meloxicam cho người có triệu chứng hen
phế quản, polyp mũi, phù mạch thần kinh hoặc bị phù Quinck, mày đay sau khi dùng
các thuốc chống viêm không steroid, người loét dạ dày-tá tràng tiến triển, chảy máu dạ
dày, chảy máu não, người suy gan và suy thận nặng, phụ nữ có thai và phụ nữ cho con
bú.
14


Thuốc có thể uống, tiêm bắp, đặt trực tràng ngày 1 lần.
Uống vào lúc no hoặc bất kỳ lúc nào, tiêm bắp sâu vào phần tư trên của mông.
Trước khi tiêm thuốc phải hút xem có máu không (tránh tiêm vào mạch máu. Nếu lúc
tiêm người bệnh kêu đau nhiều, phải ngừng ngay).
Liều lượng:
Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp: 15mg/1 lần/ngày.
Khi điều trị lâu dài, nhất là ở người cao tuổi hoặc người có nhiều nguy cơ có tai
biến phụ, liều khuyến cáo là 7,5mg/1 lần/ngày.
Không được vượt quá liều 15mg/ngày
Đợt đau cấp của thoái hóa khớp: 7,5mg/lần/ngày. Khi cần (hoặc không đỡ) có
thể tăng tới 15mg/lần/ngày. Nếu dùng thuốc tiêm, tiêm bắp 15mg/lần/ngày. Không
được vượt quá liều 15mg/ngày.
Đối với người có nguy cơ cao tai biến, liều khởi đầu là 7,5mg/ngày.
Thời gian điều trị 2-3 ngày.
Người cao tuổi: liều dùng khuyến cáo 7,5mg/lần/ngày.

hợp có chống chỉ định với aspirin và các NSAIDs khác.
Tuy vậy liệu pháp hạ sốt nói chung không đặc hiệu, không ảnh hưởng tới tiến
trình của bệnh cơ bản, và có thể che lấp tình trạng bệnh của người bệnh.
Tác dụng không mong muốn:
Nói chung thuốc dung nạp tốt, ít tác dụng không mong muốn, đôi khi gặp các phản ứng dị
ứng (như ban da, mày đay, sốt do thuốc), buồn nôn, nôn, rối loạn tạo máu.
Độc tính với gan và thận chỉ gặp khi dùng liều cao kéo dài.
Chống chỉ định:
-Người bệnh quá mẫn với Paracetamol.
-Người bệnh thiếu hụt men Glucose-6-phosphat dehydrogenase (G6PD).
Liều lượng và cách dùng:
-Cách dùng: Paracetamol thường dùng uống. Đối với người bệnh không uống
được, có thể dùng dạng thuốc đạn đặt trực tràng; tuy vậy liều trực tràng cần thiết để có
cùng nồng độ huyết tương có thể cao hơn liều uống.
-Liều dùng:
Không được dùng Paracetamol để tự điều trị giảm đau quá 10 ngày ở người lớn
hoặc 5 ngày ở trẻ em trừ khi do thầy thuốc hướng dẫn, vì đau nhiều và kéo dài như vậy
có thể là một tình trạng bệnh lý cần được thầy thuốc chẩn đoán và điều trị có giám sát.
Không được dùng Paracetamol cho người lớn và trẻ em để tự điều trị sốt cao (
39 độC), sốt kéo dài trên 3 ngày, hoặc sốt tái phát trừ khi do thầy thuốc

16


Hướng dẫn, vì sốt như vậy có thể là dấu hiệu của một bệnh nặng cần được thầy
thuốc chẩn đoán nhanh chóng.
Để giảm đau hoặc hạ sốt cho người lớn và trẻ em trên 11 tuổi, liều thường dùng
là từ 325mg- 650mg. Cứ 4- 6 giờ dùng 1 lần khi cần thiết, nhưng không quá 4g /1 ngày.
Để giảm đau hoặc hạ sốt ở trẻ em dưới 11 tuổi có thể uống hoặc đưa vào trực
tràng, cứ 4-6 giờ 1 lần, liều xấp xỉ như sau: 80-500mg/lần, tùy theo số tuổi hoặc số

song thường bị cả khớp ngón sao. Có thẻ có các hạt Heberden (ở ngón xa) hoặc
Bouchat (ở ngón gần). Thường tổn thương khớp gối một hoặc hai bên. Đau cơ học, dấu
hiệu phá rỉ khớp dưới 30 phút. Khớp thường ko có dấu hiệu viêm
Gout:
Gặp ở nam, trung niên. Tổn thương khớp gối: thường có tràn dịch. Có tính chất
nóng, đỏ, đau có thể cấp tính. Những đợt đầu thường thuyên giảm trong vòng dưới hai
tuần. Có thể tìm thấy tinh thể Urat trong dịch khớp. Tổn thương khớp kèm theo: có thể
có đợt xưng đau cấp tính ngón chân cái ở giai đoạn đầu. Giai đoạn sau, tổn thương
thường xuất hiện ở các khớp khác ở chân, và sau đó là các khớp ở chi trên (các khớp
nhỏ nhỡ ở bàn tay) đối xứng hai bên. Tuy nhiên, có những trường hợp ở giai đoạn đầu
chỉ tổn thương khớp gối đơn độc, cần xét nghiệm dịch khớp tìm tinh thể Urat; hoặc test
điều trị thử với Colchicin để chẩn đoán. Nếu phát hiện được hạt tô phi thì chẩn đoán dễ
dàng hơn.
Viêm cột sống dính khớp:
Gặp ở nam giới, trẻ tuổi, tổn thương khớp gối xưng đau khớp gối thường hai
bên, kéo dài nhiều ngày. Tổn thương khớp kèm theo: sưng đau khớp khác ở chi dưới
(háng, cổ chân hai bên). Thường đau vùng mông và giảm vận động cột sống thắt lưng,
đau gót chân hai bên hoặc các điểm bán tận khác. Thường nhanh chóng dẫn đến teo cơ,
dính khớp, đặc biệt là khớp háng và cột sống thắt lưng.
Viêm khớp nhiễm khuẩn (lao khớp hoặc viêm khớp do vi khuẩn, cốt tủy viêm…. )
Rất thường gặp ở các đối tượng có suy giảm miễn dịch: dùng Corticoid kéo dài,
đái tháo đường, nhiễm HIV… Bất kỳ khớp nào cũng có thể bị tổn thương. Thường gặp
nhất là lao khớp cổ chân, cổ tay. Thường viêm một khớp duy nhất. Với viêm khớp
nhiễm khuẩn, triệu chứng viêm cấp tại chỗ thường dữ dội. Với lao khớp thường sưng
đau là chính, ít nóng và hầu như không bao giờ đỏ. Giai đoạn muộn có thể có lỗ rò (lao
khớp hoặc nhiễm khuẩn, cốt tủy viêm..). Viêm khớp nhiễm khuẩn thường có đường vào
(châm cứu, tiêm tại khớp, đinh gai chọc vào…)
Hoại tử vô khuẩn đầu xương
Có thể gặp ở mọi xương: chỏm xương đùi, đầu trên xương chày, đầu xương trụ,
… Ở nước ta, chỏm xương đùi hay gặp nhất, ở các đối tượng uống nhiều rượu, mắc

CHƯƠNG III
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hồ sơ bệnh ngoại trú lưu tại Trung tâm y tế huyện Tháp Mười từ ngày 1/7/2018
đến ngày 31/12/2018
1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn:
Bệnh nhân là người bị bệnh khớp, có chỉ định sử dụng thuốc Meloxicam để điều trị
1.2.Tiêu chuẩn loại trừ:
Người không mắc bệnh về khớp
Người bệnh mắc bệnh khớp nhưng không được chỉ định Meloxicam để điều trị
Người bệnh phải phẫu thuật, chuyển viện
Người bệnh tâm thần, mất trí nhớ.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu với mô tả không đối chứng trên hồ sơ bệnh
án lưu tại phòng kế hoạch tổng hợp.
2.1. Phương pháp chọn mẫu:
Lấy tất cả các bệnh án của bệnh nhân bị mắc các bệnh khớp vào điều trị ngoại trú tại
Trung tâm y tế huyện Tháp Mười từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2018, sau khi loại bỏ
những bệnh án không đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn loại trừ, còn lại là những bệnh án đạt
yêu cầu
-Với số lượng bệnh án muốn khảo sát là 100 bệnh án, thì cách chọn mẫu ngẫu nhiên
là:
Đánh số thứ tự cho các bệnh án, rồi lấy ngẫu nhiên cho đến khi nào đủ 100 bệnh án
thì thôi.
2.2. Phương pháp thu thập số liệu:
Mỗi bệnh án trong mẫu nghiên cứu đều được lập phiếu thông tin cần thiết theo mẫu.
2.3. Phương pháp xử lý số liệu:
+Sử dụng các phương pháp thống kê y học.
+Tính trung bình hoặc tỷ lệ phần trăm, sử dụng phần mềm SPSS 16.0



46.9%

46.9%

100%

8

39

21

68

11.8%

57.4%

30.9%

100%

10

54

36

100

Nữ

n

Tỷ lệ
%

Thoái hóa đa khớp

29

46

75

75

Thoái hóa khớp gối

1

1

2

2

Viêm khớp

2

nghiên cứu người bệnh còn mắc thêm những bệnh khác, nghiên cứu vấn đề này thu
được kết quả như sau:
Bảng 4.3: Bệnh mắc kèm

Bệnh mắc kèm

Số lượng

23

Tỷ lệ%



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status