BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LƯU THÙY HƯƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN
THUỐC CHO BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ
NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN
NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LƯU THÙY HƯƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN
THUỐC CHO BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ
NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN
NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Lưu Thùy Hương
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN ............................................................................... 3
1.1 Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú .................................................................. 3
1.1.1 Một vài nét về hình thành Quy chế kê đơn thuốc. ................................... 3
1.1.2 Nội dung chính của thông tư số 05/2016/TT-BYT quy định về kê đơn
thuốc trong điều trị ngoại trú............................................................................. 3
1.1.3. Một số chỉ số sử dụng thuốc ................................................................... 9
1.2. Thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú. .................................... 10
1.2.1 Trên thế giới ........................................................................................... 10
1.2.2 Tại Việt Nam .......................................................................................... 12
1.3 Trung tâm Y tế huyện Bạch Thông và một vài nét về thực trạng kê đơn
thuốc tại bệnh viện. ......................................................................................... 16
1.3.1 Quy mô, cơ cấu nhân lực........................................................................ 16
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ khoa Dược TTYT huyện Bạch Thông............... 17
1.3.3 Một vài nét về thực trạng kê đơn thuốc tại TTYT Bạch Thông ........... 19
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: ........................................................................... 21
2.1.2. Thời gian nghiên cứu: ........................................................................... 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 21
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang ................................ 21
2.2.2 Các biến số trong nghiên cứu ................................................................. 23
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu: ............................................................... 31
2.2.4 . Phương pháp chọn mẫu: ...................................................................... 30
2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu. .................................................. 32
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 37
CHỮ VIẾT
TẮT
ADR
Phản ứng có hại của thuốc
BD
BDG
BHYT
BN
BS
BSCKI
BSCKII
BV
BVĐK
BYT
CK
CLS
CNĐD
CT
ĐD
DMTBV
DMTCY
DMTTY
DS
GN
HA
HDSD
HL
HTT
KT
LS
NHS
QCKĐ
QĐ
Khám chữa bệnh
Kháng sinh
Kế toán
Lâm sàng
Nữ hộ sinh
Quy chế kê đơn
Quyết định
TIẾNG VIỆT
TIẾNG ANH
The adverse reaction of the
drug
International nonproprietary
names
CHỮ VIẾT
TẮT
SL
TB
TĐ
TĐ
TÊN BẢNG
TRANG
2.1
Biến số của việc thực hiện quy chế kê đơn thuốc ngoại trú
23
2.2
Các biến số về chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú
26
3.3
Ghi thông tin bệnh nhân
37
3.4
Số chẩn đoán trung bình
38
3.5
3.10 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh, vitamin
44
3.11 Số kháng sinh trung bình trong 1 đơn thuốc có kê KS
3.12 Tỷ lệ kê thuốc trong DMTBV, thuốc thiết yếu
45
3.13 Tỷ lệ sử dụng thuốc nội, thuốc ngoại trong đơn
46
3.14 Tỷ lệ danh mục thuốc được kê theo nguồn gốc
47
3.15 Tỷ lệ danh mục thuốc được kê theo dạng dùng
48
3.16 Tỷ lệ danh mục thuốc được kê theo đường dùng
49
3.17 Tỷ lệ danh mục thuốc cần quản lý đặc biệt
50
3.18
Số chẩn đoán trong đơn
38
Hình 3.3
Các thông tin liên quan đến kê tên thuốc
41
Hình 3.4
Số lượng thuốc trong đơn
44
Hình 3.5
Biểu đồ tỷ lệ sử dụng thuốc nội, ngoại trong đơn
47
Hình 3.6
Biểu đồ tỷ lệ danh mục thuốc được kê theo nguồn gốc
48
Hình 3.7
cần thiết.
Tại Việt Nam có nhiều bất cập về việc kê đơn thuốc ngoại trú, việc kê
đơn sử dụng thuốc không hợp lý xảy ra nhiều bệnh viện trên cả nước. Việc kê
đơn không đúng quy chế, kê quá nhiều thuốc trong 1 đơn, kê đơn với nhiều
biệt dược, kê đơn thuốc không phải là thuốc thiết yếu mà là thuốc có tính
thương mại cao đang có nguy cơ phát triển và khó kiểm soát tại nhiều cơ sở
điều trị. Bên cạnh đó, khía cạnh tiêu cực của nền kinh tế thị trường cũng tác
động rất lớn đến việc kê đơn của bác sĩ. Việc kê đơn không đúng dẫn đến việc
điều trị không hiệu quả và không an toàn, làm bệnh không khỏi, làm cho bệnh
nhân lo lắng, chưa kể đến chi phí điều trị cao. Để quản lý việc kê đơn thuốc
điều trị ngoại trú, Bộ y tế ban hành nhiều văn bản như: Chỉ thị 03/BYT- CT
ngày 25/02/1997, Chỉ thị 04/1998/BYT-CT ngày 04/03/1998, Chỉ thị
05/2004/VT-BYT ngày 06/04/2004, Chỉ thị 20/2005/TTLB-BYT-BTC, thông
tư 10/2007/TTLB-BYT-BTC ngày 10/08/2007 về việc chấn chỉnh công tác
cung ứng, quản lý sử dụng thuốc và tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hiệu
1
quả, kinh tế, Thông tư số 05/2016/TT-BYT ngày 29/2/2016 1 quy định về kê
đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, Một số chỉ số sử dụng thuốc quy định tại
Thông tư 21/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ y tế.
TTYT Huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn là bệnh viện đa khoa tuyến
huyện với quy mô 60 giường bệnh. Mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 150
lượt khám bệnh và phần lớn là bệnh nhân điều trị ngoại trú. Trong thời gian
chất lượng khám và chữa bệnh của bệnh viện đã được khẳng định. Bệnh viện
thường xuyên có các hoạt động nhằm kiểm soát việc kê đơn, sử dụng thuốc an
toàn hợp lý. Tuy nhiên các nghiên cứu này tại bệnh viện chưa được đề cập
tới. Vì vậy tôi chưa biết thực trạng kê đơn điều trị cho bệnh nhân ngoại trú tại
TTYT Huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn với các chỉ số kê đơn sử dụng thuốc
đó, việc kê đơn thuốc an toàn, hợp lý trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn
ngành y tế nói chung và công tác dược bệnh viện nói riêng. Bộ y tế ban hành
tạm thời Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn theo quyết định số 488/QĐ BYT ra ngày 03/04/1995.
Để quy chế kê đơn ngày càng hoàn thiện và thích ứng được điều kiện
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, ngày 01/02/2008 Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định số
04/2008/QĐ – BYT ban hành Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú, bãi bỏ Quy chế
kê đơn và bán thuốc theo đơn năm 2003. Và ngày 29 tháng 02 năm 2016, Bộ
Y tế ra Thông tư số 05/2016/TT-BYT quy định về kê đơn thuốc trong điều trị
ngoại trú có hiệu lực từ ngày 1/5/2016 thay thế cho quyết định số
04/2008/QĐ-BYT.
1.1.2 Nội dung chính của thông tư số 05/2016/TT-BYT quy định về
kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
1.1.2.1 Quy định đối với người kê đơn thuốc
1. Bác sỹ.
2. Y sỹ được kê đơn thuốc khi đáp ứng đầy đủ các Điều kiện được quy
định tại thông tư.
3. Bác sỹ, y sỹ tại trạm y tế xã được phép kê đơn thuốc đối với các
bệnh ở các chuyên khoa tương ứng với phạm vi khám bệnh, chữa bệnh đa
3
khoa được quyết định trong phạm vi chuyên môn của trạm y tế xã và của bác
sỹ, y sỹ.
4. Trong trường hợp cấp cứu người bệnh mà chưa kịp làm thủ tục nhập
viện, người kê đơn thuốc của bất cứ chuyên khoa nào (kể cả y học cổ truyền)
đều được kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu phù hợp với tình trạng của bệnh cấp
cứu.
1.1.2.2 Nguyên tắc kê đơn thuốc
bệnh của người bệnh.
3. Kê đơn thuốc đối với người bệnh tiếp tục phải điều trị ngoại trú ngay
sau khi kết thúc việc điều trị nội trú:
a) Trường hợp người kê đơn thuốc tiên lượng người bệnh chỉ cần tiếp
tục sử dụng thuốc từ 01 (một) đến 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc tiếp vào
bệnh án điều trị nội trú đồng thời kê đơn vào sổ khám bệnh hoặc sổ điều trị
bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh.
b) Trường hợp người kê đơn thuốc tiên lượng người bệnh cần tiếp tục
điều trị trên 07 (bảy) ngày thì phải chuyển sang điều trị ngoại trú (làm bệnh án
Điều trị ngoại trú) ngay sau ngày kết thúc điều trị nội trú.
4. Kê đơn thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất theo
thực hiện theo quy định tại các điều 7, 8 và 9 thông tư này.
1.1.2.4 Yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc
1. Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong đơn thuốc hoặc trong
sổ khám bệnh hoặc sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh.
2. Ghi chính xác địa chỉ nơi người bệnh đang thường trú hoặc tạm trú:
số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn, ấp, bản, xã, phường, thị trấn.
3. Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi thì phải ghi số tháng tuổi và ghi tên bố
hoặc mẹ của trẻ.
4. Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic) trừ trường hợp
thuốc có nhiều hoạt chất. Trường hợp ghi thêm tên thuốc theo tên thương mại
phải ghi tên thương mại trong ngoặc đơn sau tên chung quốc tế.
Ví dụ: đối với thuốc Paracetamol
5
- Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế: Paracetamol 500mg.
- Trường hợp ghi tên thuốc theo tên thương mại: Paracetamol 500mg
(Hapacol hoặc Biragan hoặc Efferalgan hoặc Panadol,...)
bệnh, chữa bệnh, 01 bản giao cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh.
4. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải lập danh sách chữ ký mẫu của
người kê đơn thuốc gây nghiện của cơ sở mình gửi cho các bộ phận có liên
quan trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được biết.
1.1.2.6 Kê đơn thuốc gây nghiện để giảm đau cho người bệnh ung thư
hoặc người bệnh AIDS
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi chẩn đoán xác định người bệnh ung
thư hoặc người bệnh AIDS thì làm bệnh án điều trị ngoại trú cho người bệnh
và cấp sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày cho người bệnh. Người kê đơn
hướng dẫn người bệnh hoặc người nhà của người bệnh cam kết về sử dụng
thuốc gây nghiện cho người bệnh vào phần cam kết tại trang 2 sổ điều trị
bệnh cần chữa trị dài ngày.
2. Liều thuốc gây nghiện để giảm đau được kê đơn theo nhu cầu giảm
đau của người bệnh, thời gian mỗi lần chỉ định thuốc tối đa 30 (ba mươi)
ngày, nhưng cùng lúc phải ghi 03 đơn cho 03 đợt Điều trị liên tiếp, mỗi đơn
cho một đợt điều trị kê đơn không vượt quá 10 (mười) ngày (ghi rõ ngày bắt
đầu và kết thúc của đợt điều trị).
3. Trường hợp kê đơn thuốc gây nghiện để giảm đau cho người
bệnh ung thư hoặc người bệnh AIDS giai đoạn cuối nằm tại nhà (người bệnh
không thể đến khám tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh): Người bệnh phải có
Giấy xác nhận của Trạm trưởng trạm y tế xã nơi người bệnh cư trú xác định
người bệnh cần tiếp tục điều trị giảm đau bằng thuốc gây nghiện theo mẫu
quy định tại phụ lục số 06 ban hành kèm theo thông tư này để làm căn cứ cho
bác sỹ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kê đơn thuốc, mỗi lần kê đơn, số
lượng thuốc sử dụng không vượt quá 10 (mười) ngày.
1.1.2.7 Kê đơn thuốc hướng tâm thần và tiền chất
7
3. Đơn thuốc “N” theo quy định tại khoản 2 điều 8 Thông tư này: đơn
thuốc được in ra 06 bản tương ứng cho 03 đợt điều trị cho một lần khám bệnh,
trong đó: 03 bản tương ứng 03 đợt điều trị lưu tại bệnh án điều trị ngoại trú
của người bệnh; 03 bản tương ứng 03 đợt điều trị giao cho người bệnh hoặc
người nhà người bệnh.
4. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có ứng dụng công nghệ thông tin phải
bảo đảm việc lưu đơn để triết xuất dữ liệu khi cần thiết.
1.1.3. Một số chỉ số sử dụng thuốc
Để đánh giá cũng như giám sát hoạt động kê đơn thuốc trong bệnh
viện, Bộ Y tế cũng đã ban hành nhiều văn bản quy định về các hoạt động kê
đơn thuốc trong bệnh viện: Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng
thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh; Thông tư 21/2013/TT-BYT quy
định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện.
Thông tư 21/2013/TT-BYT có quy định như sau:
1.1.3.1 Thuốc chỉ định cho người bệnh cần bảo đảm các yêu cầu sau:
+ Phù hợp với chẩn đoán và diễn biến bệnh.
+ Phù hợp tình trạng bệnh lý và cơ địa người bệnh.
+ Phù hợp với tuổi và cân nặng.
+ Phù hợp với hướng dẫn điều trị (nếu có).
+ Không lạm dụng thuốc.
1.1.3.2 Lựa chọn đường dùng thuốc cho người bệnh
+ Căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý, đường dùng của
thuốc để ra y lệnh đường dùng thuốc thích hợp.
+ Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc
khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc
với thuốc chỉ dùng đường tiêm.
+ Các chỉ số sử dụng thuốc được ban hành kèm theo thông tư số 21/TTBYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ y tế bao gồm các chỉ số liên quan đến
-
Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc
-
Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn
-
Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh
-
Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin
-
Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị
-
Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức
-
TL% cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách quan
khỏe
1.2. Thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
thường là do chữ khó đọc. Với đơn viết tay, một nửa số thuốc có sai sót y
khoa, 1/5 số đơn có thể gây hại [26], 82% có từ 1-2 sai sót, 77% không ghi
cân nặng hay ghi sai, 6% không ghi ngày hay ghi sai ngày kê đơn, 38% sai sót
dưới liều, 18,8% là kê quá liều, sai sót do ghi thiếu hay sai khoảng thời gian
sử dụng là 28,3% và 0,9% [28]. Bác sỹ chủ yếu kê thuốc theo tên thương mại,
kê thuốc theo tên gốc, tên INN chỉ chiếm 7,4%[27]. Việc sử dụng thuốc
không hợp lý thường xuyên xảy ra với nhiều nguyên nhân khác nhau. Các
nghiên cứu trên thế giới cho thấy cứ 3/10 bệnh nhân nhập viện là do dùng sai
thuốc. Thống kê tại Mỹ cho thấy sai sót sử dụng thuốc hàng năm ảnh hưởng
tới 1,3 triệu người, trong đó có khoản 180.000 sai sót gây ra ảnh hưởng
nghiêm trọng. Và ở một số quốc gia sai sót trong đơn có thể lên tới 67% [28].
11
1.2.2 Tại Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc
Khảo sát của Cục Quản lý khám chữa bệnh - BYT tại một số bệnh viện
trong những năm gần đây cho thấy: mỗi bệnh nhân trong một đợt điều trị đã
được sử dụng từ 0-10 thuốc, trung bình là 3,63±1,45 thuốc.
Các thủ tục hành chính liên quan đến bệnh nhân dù không trực tiếp ảnh
hưởng đến việc sử dụng trong đơn, nhưng là yếu tố quan trọng giúp thầy
thuốc định hướng đến việc lựa chọn thuốc, liều dùng, cách dùng, có định
hướng theo dõi và quản lý sử dụng thuốc…Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện
Bệnh viện Phong Điền Thừa Thiên Huế cho thấy có 7,75% đơn thuốc ghi
không rõ ràng, khó đọc, dễ nhầm lẫn; 5,75% đơn thuốc ghi không đúng địa
chỉ người bệnh; 4,75% đơn thuốc không viết tên thuốc theo tên quốc tế với
thuốc có 01 thành phần; 52,75% đơn thuốc không ghi đủ hàm lượng, số lượng
của mỗi thứ thuốc, ghi liều dùng 1 lần và liều dùng 24 giờ, cách dùng của mỗi
thứ thuốc; 25% đơn thuốc hướng thần sai; 9,75% đơn thuốc không có ký tên,
chiếm tỷ trọng 47,9% (năm 2009 ) và 58,7% (năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí
hàng năm trong bệnh viện.
Về cơ cấu sử dụng thuốc: Kết quả khảo sát tại bệnh viện đa khoa huyện
Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2008 cho thấy Số thuốc nhiều nhất
được kê trong một đơn là 06 loại thuốc chiếm tỷ lệ 2,3%, số thuốc ít nhất
được kê trong một đơn là 01 loại thuốc chiếm tỷ lệ 0,3%. Phần lớn đơn thuốc
được kê 4 loaị thuốc chiếm tỷ lệ 65,8%. Trung bình số lượng thuốc trong 1
đơn là 4,14 loại thuốc, đặc biệt số đơn có 5-6 loại thuốc là quá cao[15]. Tỷ lệ
này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện
Phước Long là 4.6 thuốc[20]. Để đảm bảo việc kê đơn hợp lý an toàn, khuyến
cáo của Tổ chức Y tế Thế giới là số thuốc trong một đơn là 1,5 đến 2 loại. Tỷ
lệ các phản ứng có hại tăng lên theo cấp số nhân khi kết hợp nhiều loại thuốc.
Việc sử dụng nhiều loại thuốc trong 1 đơn sẽ gây nhiều tương tác bất lợi:
tương tác dược động học, tương tác dược lực học không thể thấy ngay được.
Các thuốc sử dụng đồng thời có thể làm giảm tác dụng của nhau, hoặc làm
13
tăng độc tính đối với cơ thể, có hại cho sức khoẻ của bệnh nhân. Mặc khác kê
nhiều thuốc trong đơn sẽ tổn hại kinh tế cho người bệnh và gây lãng phí
không đáng có trong chi phí y tế.
Tại bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình có 352 đơn thuốc được kê
có thuốc kháng sinh trong 800 đơn thuốc khảo sát (chiếm tỷ lệ 44,0%) trong
đó có 157 đơn thuộc BHYT và 195 đơn KBHYT, số thuốc kháng sinh trung
bình trong 1 đơn thuốc ở BHYT tương đương với KBHYT và nằm trong tỷ lệ
chung là 1,24 thuốc, phù hợp với QCKĐ, có 128 đơn thuốc (chiếm 61,1%)
trong hệ BHYT và ở hệ KBHYT cao hơn, 146 đơn (chiếm 74,9%) chỉ sử
dụng 1 loại kháng sinh và phân bổ đều ở các chuyên khoa[18].
Tỷ lệ này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa
trong kê đơn KBHYT được ghi nhận thấp (chỉ với 50 lần được kê, chiếm tỷ lệ
12,5%)[18].
Qua nghiên cứu tại bệnh viên đa khoa huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An cho
thấy chi phí đơn thuốc kê kháng sinh và đơn thuốc kê vitamin chiếm tỷ lệ
tương đương nhau. Với kháng sinh chiếm 50,5%, còn chi phí vitamin là
49,5%. Tổng số tiền kháng sinh và vitamin chiếm tỷ lệ quá cao, xấp xỉ 1/3
toàn bộ tổng chi phí các đơn được khảo sát[19].
Bên cạnh nhóm kháng sinh và vitamin, các thuốc có tác dụng bổ trợ,
hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến ở hầu hết các
bệnh viện trong cả nước.
Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán thuốc Bảo Hiểm Y Tế trong
cả nước năm 2010 cho thấy, trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán
lớn nhất, có cả các thuốc bổ trợ là L-Ornithin L-Aspartat, Ginkgo Biloba và
Arginin. Trong đó, hoạt chất L- Ornithin L-Aspartat nằm trong số 5 hoạt chất
chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán. Đồng thời, hoạt chất này cũng là
một trong những hoạt chất chiếm giá trị nhập khẩu lớn nhất thuộc nhóm tiêu
hóa có xuất xứ từ Ấn Độ và Hàn Quốc năm 2008.
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm
2009, các nhóm thuốc tiêu hóa có giá trị sử dụng lớn tại tất cả các BV khảo
15
sát, trong đó các thuốc hỗ trợ điều trị bệnh gan mật (L-Ornithin L-Aspartat và
Arginin) chiếm tỷ lệ cao. Tại 1 BVĐK tuyến TW, 3 thuốc chứa L-Ornithin LAspartat 500mg, dạng tiêm có giá trị sử dụng là 21 tỷ, chiếm tỷ trọng 25,3%
nhóm thuốc tiêu hóa. Ngoài ra, tại các bệnh viện tuyến TW và tuyến tỉnh,
nhóm thuốc giải độc và dùng trong trường hợp ngộ độc cũng chiếm tỷ lệ cao
về giá trị và phần lớn giá trị của nhóm thuốc này tập trung vào các hoạt chất
có giá thành cao, hiệu quả điều trị không rõ ràng là Gluthathion và
Alfoscerate .