MỤC LỤC
Trang
1
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Kiến thức đúng chung về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng.32
2
DANH SÁCH HÌNH
Trang
4
Hình 4.2. Đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi.4
Hình 4.3. Đối tượng nghiên cứu theo dân tộc.
Hình 4.4. Đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp.
3
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
Viêm loét dạ dày tá tràng là một bệnh lý khá phổ biến thường gặp ở khắp nơi
trên thế giới, bệnh có đặc điểm mãn tính và thường hay tái phát, có triệu chứng không
điển hình và không đặc hiệu, gây nhiều tác hại nguy hiểm với sức khoẻ, có thể gây ra
các biến chứng xuất huyết tiêu hoá, gây ra thủng ổ loét và hẹp môn vị hoặc có thể dẫn
đến thoái hoá ác tính ở dạ dày. Loét dạ dày tá tràng không chỉ phổ biến ở những nước
đang phát triển mà ngay cả ở những nước phát triển.
Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng chiếm khoảng 35% các bệnh lý về tiêu hoá và là
quan tới bệnh và cách phòng ngừa bệnh viêm loét dạ dày tá tràng để thực hành đúng
giúp ích cho việc giảm số lượng người mắc bệnh, giảm tỷ lệ phẫu thuật ở bệnh nhân
loét dạ dày tá tràng. Hiện nay, có nhiều nguồn cung cấp thông tin đại chúng về bệnh
viêm loét dạ dày tá tràng như ti vi, tờ rơi, áp phích, báo, tạp chí, tại trường học,
internet. Trước nhiều nguồn thông tin trái chiều vẫn chưa được kiểm chứng cùng với
nhận thức chưa đúng của một số người dân dẫn đến sự tranh cãi về kiến thức bệnh và
cách phòng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng. Do đó, khi người dân phát hiện ra bản thân
mình mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng thì bệnh có khả năng tiến triển đến giai đoạn
nặng kéo theo hiệu quả điều trị thấp, chi phí tốn kém. Vì vậy, việc có kiến thức đúng
về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng có ý nghĩa quan trọng đến sức khoẻ của bản thân
người bệnh, người thân và cộng đồng. Để thực hiện được những biện pháp và cách
khắc phục bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tốt nhất, các tuyến y tế cần phối hợp với trạm
y tế địa phương tổ chức các đợt tuyên truyền giáo dục sức khoẻ các kiến thức về bệnh
viêm loét dạ dày tá tràng cho người dân, thực hiện mỗi tháng một lần. Chính vì vậy đề
tài tiểu luận: “Khảo sát kiến thức về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng của người dân
tại xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, năm 2018” được tiến hành với
mục tiêu cụ thể:
Xác định tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
tại xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, năm 2018.
5
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. GIẢI PHẪU HỌC VÀ SINH LÝ HỆ TIÊU HOÁ
2.1.1. Giải phẫu hệ tiêu hoá
- Hệ tiêu hoá bao gồm hai phần: Ống tiêu hoá và các cơ quan tiêu hoá phụ.
- Ống tiêu hoá được chia làm nhiều phần có kích thước và chức năng khác nhau đi từ
trên xuống : Ổ miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già.
2.1.1.3. Giải phẫu học loét dạ dày tá tràng
Phân loại ổ loét bằng nội soi theo phân loại Kawai:
- Ổ loét tròn: Hay gặp nhất, chiếm khoảng 60-70% tổng số ổ loét hành tá tràng. Kích
thước thông thường từ 5-20mm. Có những ổ loét lớn hơn 20mm.
- Loét hình bầu dục (oval) cũng thường gặp chỉ đứng sau loét tròn, kích thước chiều
ngang 5-10mm, chiều dọc 10-20mm.
- Loét dài hẹp (linear): Là ổ loét dạng nứt rãnh sâu ở đỉnh một nếp niêm mạc tá tràng
phù nề, dài khoảng 1-2cm, rộng 1-2mm. Tỷ lệ gặp khoảng 6-15% số loét tá tràng.
- Loét hình sao (stellate) bờ không đều có hình sao 4-5 cánh hoặc hình tam giác, chiếm
khoảng 7-20% tổng số ổ loét.
- Loét salami: Kiểu như miếng súc xích Ý, có nhiều loét nhỏ trên một niêm mạc phù
nề, tẩy đỏ. Tỷ lệ gặp ít hơn 2-5% số loét tá tràng (Hoàng Trọng Thảng, 2014).
2.1.2. Sinh lý hệ tiêu hoá
Hệ tiêu hoá được điều khiển bởi các hệ thống thần kinh, nội tiết và cận tiết. Hệ
tiêu hoá có các tế bào nội tiết nằm rải rác trong niêm mạc. Chúng bị kích thích bởi
thức ăn (do tiếp xúc, do các chất hoá học của thức ăn) và các xung động thần kinh. Các
chất nội tiết điều hoà hoạt động cơ học và bài tiết (Phạm Đình Lựu, 2011). Dạ dày và
tá tràng cung cấp máu có nguồn gốc từ động mạch thân tạng và động mạch mạc treo
tràng trên (Nguyễn Kim Lộc, 2004) và sản xuất một số hormone đưa vào máu như
gastrin, histamine và somatostain làm chức năng nội tiết (Phạm Đình Lựu, 2011).
Hai thành phần bài tiết chính của dạ dày có khả năng gây tổn thương niêm mạc
là acid chlohydric và pepsinogen.
Sinh lý bài tiết của dạ dày tá tràng:
+ Bài tiết chất nhầy (mucus) tiết ra một lượng lớn chất nhầy để bảo vệ niêm
mạc dạ dày khỏi tổn thương dưới tác dụng của acid và pepsin.
+ Tế bào thành bài tiết acid nằm trong tuyến acid, liền kề với các thành phần tế
bào khác như tế bào ECL (Enterochromaffine-like), tế bào D có tầm quan trọng trong
tiến trình bài tiết dạ dày. Đây cũng là tế bào duy nhất bài tiết nội. Tế bào thành còn có
những thụ thể gắn kết với những chất có khả năng gây ức chế sản xuất acid
(somatostain, prostaglandin, EGF: Epidermal Growth Factor).
2.2. BỆNH HỌC VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
2.2.1. Khái niệm bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là tình trạng niêm mạc trong dạ dày và tá tràng
bị tổn thương do tác động ăn mòn của axit và pepsin vượt qua các cơ chế bảo vệ của
lớp cơ niêm do tác động trong dịch vị dạ dày và tá tràng (Nguyễn Duy Thắng, 2016).
2.2.2. Nguyên nhân và cách thức lây truyền bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
2.2.2.1. Nguyên nhân gây ra bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
Nhiễm trùng: Helicobacter pylori, Herpes simplex virus-HSV, Cytomegalo
virus-CMV, H.Heilmannii và các nhiễm trùng khác: Lao, syphilis.
Do thuốc: NSAIDs và aspirin, corticosteroids (khi dùng chung với NSAIDs),
bisphosphonate, clopidogrel, postassium chlorid và điều trị hoá chất (ví dụ 5fluouracil).
Loét do tự miễn.
Loét liên quan đến bệnh mãn tính hoặc suy đa tạng: Loét do stress, bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính, xơ gan, suy thận, ghép tạng.
Các nguyên nhân khác: U bài tiết gastrin (Gastrinoma gây hội chứng ZollingerEllison), tăng hoạt động của tế bào G ở hang vị, chiếu xạ, crohn, sarcoidosis.
Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây loét dạ dày tá tràng nhưng thực tế lâm sàng
cho thấy có 3 nguyên nhân chính:
+ Loét do Helicobacter pylori: Là nguyên nhân chủ yếu gây loét dạ dày tá
tràng, viêm dạ dày cấp và mạn, ung thư dạ dày. Tỷ lệ nhiễm chung của người Việt
Nam khoảng 70% và người ta thấy chỉ 1-2% số người bị nhiễm Helicobacter pylori bị
loét dạ dày tá tràng.
+ Các kháng viêm, giảm đau NSAID, AINS và aspirin: Hiện là một trong
những nhóm thuốc dùng hết sức phổ biến. Bệnh nhân sử dụng các thuốc này có thể bị
ổ loét cấp tính và thường là nhiều ổ.
+ Loét do stress: Thường gặp ở các bệnh nhân nằm cấp cứu như: Thở máy,
bỏng, chấn thương sọ não, nhiễm trùng huyết, viêm tuỵ cấp, suy gan, suy thận với tỷ lệ
từ 50-100%. Những bệnh nhân như vậy có tỷ lệ xuất huyết tiêu hoá đại thể dao động
từ 10-20% và những biến chứng này làm nặng thêm bệnh chính, làm tăng thêm tỷ lệ tử
vong (Ngô Quý Châu, 2016).
tăng với tỷ lệ đáng kể ở bệnh nhân loét dạ dày, nhưng sự gia tăng bị hạn chế trong
giảm bài tiết acid dạ dày. Sức đề kháng niêm mạc dạ dày bị giảm do ức chế tổng hợp
prostaglandin niêm mạc dạ dày tạo điều kiện cho sự khuếch tán ngược các ion hydro
đã được bài tiết (Hoàng Trọng Thảng, 2014).
2.2.4. Triệu chứng và biến chứng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
2.2.4.1. Triệu chứng của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
- Triệu chứng lâm sàng:
Đau bụng: Chủ yếu ở vùng thượng vị là triệu chứng gần như là hằng định của
bệnh. Đau có thể từ mức độ khó chịu, âm ỉ đến dữ dội. Tuỳ thuộc vào vị trí ổ loét, tính
chất đau ít nhiều khác biệt:
+ Loét hành tá tràng thường xuất hiện lúc đói hoặc sau bữa ăn 2-3 giờ, đau trội
lên về đêm, ăn vào hoặc sử dụng các thuốc trung hoà acid thì đỡ đau nhanh.
+ Loét dạ dày: Tuỳ vị trí ổ loét mà vị trí và hướng lan của tính chất đau có thể
khác nhau. Thường đau sau ăn trong khoảng vài chục phút đến vài giờ. Đáp ứng với
bữa ăn và thuốc trung hoà acid cũng kém hơn so với loét hành tá tràng.
10
Đau âm ỉ kéo dài hoặc thành cơn nhưng có tính chu kỳ và thành từng đợt. Vì
vậy, khai thác về tiền sử của các đợt đau trước đó rất có giá trị đối với chẩn đoán.
Có thể có các triệu chứng: Buồn nôn, nôn, chán ăn, cảm giác nóng rát, đầy
bụng, sụt cân, ợ chua. Khám bụng: Thường không thấy gì đặc biệt, đôi khi có thể thấy
bụng chướng hoặc co cứng nhẹ.
- Triệu chứng cận lâm sàng:
+ Chụp dạ dày tá tràng có Barite, có thể thấy hình ảnh ổ loét là ổ đọng thuốc
hình tròn, hình oval; Sự thay đổi hình dạng vùng quanh ổ loét: Biến dạng các nếp niêm
mạc ở thân và phình vị dạ dày, biến đổi về hình ảnh tiền môn vị hoặc tá tràng, góp
phần phân biệt ổ loét lành tính và ổ loét ung thư.
+ Nội soi dạ dày tá tràng: Được coi là phương pháp có giá trị nhất trong chẩn
đoán xác định loét. Ngoài ra, nội soi còn cung cấp các thông tin: Vị trí, số lượng, kích
đường mật chụp đường mật hoặc siêu âm có hơi trong đường mật hoặc baryt vào
đường mật. Nếu rò dạ dày đại tràng gây đi ngoài phân sống và kém hấp thu, cần điều
trị phẫu thuật.
Hẹp môn vị: Thường gặp nhất khi ổ loét nằm gần môn vị. Do loét dạ dày hoặc
tá tràng hoặc phản ứng co thắt môn vị trong loét dạ dày nằm gần môn vị, hẹp có thể do
viêm phù nề môn vị (Hoàng Trọng Thảng, 2006).
2.2.5. Chẩn đoán bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
2.2.5.1. Chẩn đoán xác định bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng.
- Hình ảnh trên phim X-quang.
- Đặc điểm và những tổn thương trên nội soi.
2.2.5.2. Chẩn đoán phân biệt bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
Chứng chậm tiêu giống loét: Triệu chứng khá giống với loét dạ dày tá tràng
nhưng nội soi không thấy có tổn thương.
Trào ngược dạ dày thực quản: Loét dạ dày tá tràng tính chất nổi bật là đau
thượng vị, lan ra xung quanh hoặc phía sau. Trào ngược-tính chất điển hình là cảm
giác nóng rát vùng thượng vị, sau xương ức, lan lên ngực, miệng. Nội soi rất có giá trị
trong chẩn đoán phân biệt.
Ngoài ra, có thể nhầm: Viêm dạ dày cấp và mạn, ung thư dạ dày, sỏi túi mật,
viêm tuỵ mạn (Ngô Quý Châu, 2016).
2.2.6. Điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
Chủ yếu là điều trị nội khoa, 90% trường hợp khỏi không cần phải mổ.
2.2.6.1. Các thuốc kháng acid
Thuốc có tác dụng trung hoà acid đã được dạ dày bài tiết, làm mất hoạt hoá của
pepsin.
Gồm các hỗn hợp hydroxid nhôm và hydroxid magie (biệt dược: Malox,
Gastropulgic, Phosphalugel, Alumina, Gelox).
Uống khoảng 30 phút đến 1 giờ sau khi ăn, ngày uống 2-3 lần, liều lượng tuỳ
theo loại thuốc và tuỳ thuộc bệnh nhân.
2.2.6.2. Các thuốc kháng tiết
trong các trường hợp:
+ Thủng dạ dày tá tràng.
+ Xuất huyết tiêu hoá trên mà điều trị nội khoa thất bại.
+ Hẹp môn vị.
+ Dò vào các cơ quan lân cận.
+ Ung thư dạ dày (Nguyễn Duy Thắng, 2016).
2.2.7. Chăm sóc bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng
- Giảm đau cho bệnh nhân bị viêm loét dạ dày tá tràng:
Cho bệnh nhân nghỉ ngơi khi đau nhiều, khi đở đau thì đi lại nhẹ nhàng.
Có thể chườm ấm vùng thượng vị nếu chắc chắn không có dấu hiệu của xuất
huyết tiêu hoá.
Cho bệnh nhân dùng thuốc theo y lệnh.
Khuyên bệnh nhân uống nhiều nước chín nếu không có chống chỉ định.
Ăn nhẹ nếu đã được chẩn đoán là loét tá tràng.
13
- Chế độ ăn uống nghỉ ngơi cho bệnh nhân bị viêm loét dạ dày tá tràng:
Nghỉ ngơi: Cần chú ý cho bệnh nhân được nghỉ ngơi về cả thể xác lẫn tinh thần
nhất là trong đợt đau cấp.
Chế độ ăn uống: Quan niệm trước đây chỉ ăn toàn sữa nay không còn phù hợp
vì do khả năng trung hoà mạnh của nó sau đó gây tiết, mạnh hơn cả trà và cà phê. Hơn
nữa nó chứa nhiều mỡ và calci gây xơ vữa và gây tăng calci máu gây sỏi thận và hội
chứng kiềm-sữa (milk alkali syndrom). Thực tế hiện nay đã chứng minh thức ăn ít
quan trọng chỉ cần ăn đều tránh nhịn đói gây tăng tiết acid. Ăn phụ ban đêm hoặc
trước lúc đi ngủ gây tiết acid ban đêm, nên cần chống chỉ định. Thuốc lá đã được
chứng minh có tác hại gây tăng tiết acid, chậm lành sẹo và làm tăng tái phát.
Trong đợt đau cho bệnh nhân ăn những thức ăn mềm, lỏng dễ tiêu như cháo,
súp. Ngoài đợt đau ăn uống bình thường.
Nên chia thức ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày, ăn từng ít một, ăn chậm, nhai
an, giúp họ an tâm, tin tưởng.
Tâm lý liệu pháp: Cần giải thích để bệnh nhân yên tâm và hợp tác trong điều trị.
Nếu bệnh nhân quá lo lắng có thể cho thêm an thần hoặc thuốc giải âu lo. Thông
thường là dùng nhóm benzodiazepine, tetrazepam, chlodazepat (Nguyễn Duy Thắng,
2016).
2.3. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG HIỆN NAY
2.3.1. Tình hình mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng hiện nay trên thế giới
Viêm loét dạ dày tá tràng do nhiễm Helicobacter pylori là một trong những
bệnh nhiễm trùng thường gặp nhất ở người và khoảng phân nữa dân số thế giới mang
loại vi khuẩn này trong người. Ở các nước phát triển nơi có vệ sinh phòng bệnh tốt có
khoảng 20% người dưới 40 tuổi và 50% người trên 60 tuổi bị nhiễm Helicobacter
pylori và cũng thường gặp ở thiếu niên nhưng rất hiếm phát hiện trên trẻ em. Ở các
nước đang phát triển thì phần lớn người lớn 50-60% bị nhiễm Helicobacter pylori và
ước lượng có 10% trẻ em từ 2-8 tuổi bị nhiễm Helicobacter pylori, tỷ lệ này gia tăng
theo tuổi, trên 60 tuổi là 60% (Hoàng Trọng Thảng, 2014).
Hiện nay, có khoảng 10-15% dân chúng trên thế giới bị bệnh viêm loét dạ dày
tá tràng. Ở Anh và ở Úc là 5,2-9,9%, ở Mỹ là 5-10% (Hoàng Trọng Thảng, 2006) hằng
năm có khoảng 500.000 trường hợp bệnh mới và 4 triệu trường hợp tái phát loét
(Hoàng Trọng Thảng, 2014), Murgas (1973) ước tính 3,5-12% dân số. Còn các nước
phương tây tỷ lệ hiện mắc loét tá tràng ở người lớn khoảng 8%, loét dạ dày 2%. Tỷ lệ
mới mắc hằng năm loét tá tràng là 0,12%, loét dạ dày 0,03% dân số (Dive, 1986)
(Nguyễn Vượng, 2007).
2.3.2. Tình hình mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng hiện nay tại Việt Nam
Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori từ 15 đến 75 tuổi là 56-72,5%
(Nguyễn Thuý Oanh, 2012) và từ 1962-1985 qua các cuộc điều tra khám sức khoẻ
nhân dân vào nhiều thời điểm, nhiều địa phương khác nhau trên miền Bắc chủ yếu dựa
trên tiêu chuẩn lâm sàng một số tác giả cho biết tỷ lệ mắc bệnh loét dạ dày tá tràng từ
4,6-8,2%, có địa phương thấp hơn từ 1,8-3,1% dân số, trung bình ước tính 5-7% dân
số. Trong quân đội tỷ lệ loét dạ dày tá tràng ước tính khoảng 6% dân số (Nguyễn
Người dân cư trú tại xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
3.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Người được quản lý sức khoẻ tại Trạm Y tế xã Phú Vĩnh.
- Người đồng ý tham gia vào khảo sát.
3.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bị bệnh tâm thần.
16
- Người bị khiếm thị và khiếm thính.
- Người không biết chữ.
3.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Tại xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Thời gian: Khảo sát được tiến hành thu thập số liệu bắt đầu từ tháng 11 năm
2017 đến tháng 5 năm 2018.
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích.
3.2.2. Cở mẫu
Chọn 100 người dân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu.
3.2.3. Phương pháp chọn mẫu
- Dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
- Chọn 100 người dân từ 18-60 tuổi tại xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
đủ tiêu chuẩn chọn mẫu và không thuộc tiêu chuẩn loại trừ để tiến hành khảo sát.
- Khi tiến hành lấy mẫu, nếu đối tượng nghiên cứu nào thuộc tiêu chuẩn loại trừ thì bỏ
ra và tiếp tục lấy mẫu ngẫu nhiên trên những người dân còn lại cho đến khi đủ 100
mẫu.
3.2.4. Nội dung nghiên cứu
3.2.4.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
- Họ và tên: Ghi cụ thể từng đối tượng khảo sát.
+ Tại trường học, bài giảng
+ Nguồn khác (internet, kinh nghiệm)
- Khảo sát về bản thân có từng bị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng có 2 giá trị:
+ Có
+ Không
- Khảo sát về trong gia đình có người thân mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng có 3 giá
trị:
+ Có
+ Không
+ Không biết
3.2.4.2. Các nội dung về kiến thức đúng về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng của người
dân
Bộ câu hỏi khảo sát gồm 20 nội dung, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, mỗi
câu trả lời chưa đúng được 0 điểm.
- Kiến thức về khái niệm bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có 4 giá trị:
+ Là các vết ăn mòn, vết lõm, hố ở mặt trong của thành dạ dày tá tràng
+ Là hiện tượng hoại tử niêm mạc dạ dày
+ Đau vùng thượng vị
+ Là tổn thương niêm mạc trong dạ dày và tá tràng
Câu trả lời đúng: Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là tình trạng niêm mạc trong dạ
dày và tá tràng bị tổn thương; Là hiện tượng hoại tử niêm mạc dạ dày; Là các vết ăn
mòn, vết lõm, hố ở mặt trong của thành dạ dày tá tràng. Người trả lời đúng là người
chọn từ 2 đến 3 đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về đối tượng có nguy cơ mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng cao, có
5 giá trị:
+ Tầng lớp tri thức
18
+ Nhân viên kinh doanh
pylori (vi khuẩn HP) thường lây truyền qua con đường là ăn uống chung mâm, chén,
đũa. Người trả lời đúng là người chọn 1 đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về biểu hiện của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có 4 giá trị:
+ Đau bụng
+ Rối loạn tiêu hóa
+ Chán ăn, sụt cân
19
+ Nhanh đói
Câu trả lời đúng: Biểu hiện của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là đau bụng; Rối
loạn tiêu hoá; Chán ăn, sụt cân. Người trả lời đúng là người chọn từ 2 đến 3 đáp án
trên được 1 điểm.
- Kiến thức về biểu hiện đau bụng của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có 4 giá
trị:
+ Cơn đau âm ỉ ở khu vực trên rốn
+ Không đau
+ Đau xuất hiện 2-4 giờ sau ăn
+ Đau ở thượng vị lan ra sau lưng về phía bên phải
Câu trả lời đúng: Biểu hiện đau bụng của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là cơn
đau âm ỉ ở khu vực trên rốn; Đau xuất hiện 2-4 giờ sau ăn; Đau ở thượng vị lan ra sau
lưng về phía bên phải. Người trả lời đúng là người chọn từ 2 đến 3 đáp án trên được 1
điểm.
- Kiến thức về biểu hiện tiêu hóa của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có 5 giá
trị:
+ Ăn mất ngon
+ Đầy hơi sau khi ăn
+ Ợ hơi, ợ chua
+ Nôn hoặc buồn nôn
+ Tất cả các ý trên
đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có 5 giá trị:
+ Tự uống thuốc
+ Thuốc kháng sinh và kháng axit
+ Thuốc bắc
+ Thuốc nam
+ Bỏ liều, không uống
Câu trả lời đúng: Điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là thuốc kháng sinh và
kháng axit. Người trả lời đúng là người chọn 1 đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về để điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng có hiệu quả cần, có 5
giá trị:
+ Giảm stress
+ Tuân thủ điều trị, thực hiện đúng theo hướng dẫn của bác sĩ
+ Không nên tự ý mua thuốc uống mà không có đơn của bác sĩ
+ Tái khám định kì để kiểm tra các triệu chứng cũng như tình trạng sức khỏe
+ Tất cả các ý trên
Câu trả lời đúng là tất cả các ý trên. Người trả lời đúng là người chọn từ 3 đến 5
đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về chế độ dinh dưỡng đối với người bệnh viêm loét dạ dày tá tràng,
có 4 giá trị:
+ Ăn nhiều đạm, nhiều đường, nhiều trái cây và nhiều mỡ
+ Cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm, các loại vitamin và muối khoáng
+ Ăn lỏng dễ tiêu, ăn theo định lượng
+ Không ăn thức ăn đặc, khô quá
Câu trả lời đúng: Chế độ dinh dưỡng đối với người bệnh viêm loét dạ dày tá
tràng là cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm, các loại vitamin và muối khoáng;
21
Ăn lỏng dễ tiêu, ăn theo định lượng; Không ăn thức ăn đặc, khô quá. Người trả lời
đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về những thói quen sinh hoạt giúp hạn chế diễn tiến của bệnh viêm
loét dạ dày tá tràng, có 5 giá trị:
+ Ăn nhiều bữa trong ngày. Mỗi lần chỉ ăn một lượng nhỏ thức ăn
+ Ăn thức ăn nấu chín
+ Ngưng hút thuốc lá
22
+ Rửa tay trước khi ăn để tránh nhiễm trùng
+ Tất cả các ý trên
Câu trả lời đúng là tất cả các ý trên. Người trả lời đúng là người chọn từ 3 đến 5
đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về chăm sóc người thân bị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có 4 giá
trị:
+ Uống trà ấm
+ Thư giãn trước khi đi ngủ
+ Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
+ Chế độ ăn uống và sinh hoạt điều độ
Câu trả lời đúng là an toàn vệ sinh thực phẩm; Chế độ ăn uống và sinh hoạt điều
độ. Người trả lời đúng là người chọn cả 2 đáp án trên được 1 điểm.
- Kiến thức về ngăn ngừa và phòng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có 4 giá trị:
+ Không tập thể dục ngay sau khi ăn
+ Hạn chế ăn đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành
+ Tránh gây áp lực lên thần kinh
+ Hạn chế dùng thuốc kháng sinh
Câu trả lời đúng: Ngăn ngừa và phòng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là không
tập thể dục ngay sau khi ăn; Hạn chế ăn đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành; Tránh
gây áp lực lên thần kinh; Hạn chế dùng thuốc kháng sinh. Người trả lời đúng là người
chọn từ 2 đến 4 đáp án trên được 1 điểm.
Giải thích ý nghĩa, mục đích của bộ câu hỏi và đề tài
khảo sát, phiếu khảo sát cho người dân hiểu.
Tiến hành phát bộ câu hỏi để người dân điền vào sau
đó thu lại bộ câu hỏi.
Tính tỷ lệ phần trăm đối tượng trả lời đúng và chưa
đúng trong bộ câu hỏi.
Đánh giá kiến thức về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
của người dân.
Hình 3.1. Sơ đồ khảo sát
3.2.7. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Nhập số liệu và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.
- Tính tỷ lệ phần trăm.
3.2.8. Phương pháp kiểm soát sai số
- Giải thích bộ câu hỏi, nội dung trong bộ câu hỏi cho người dân rõ trước khi điền đáp
án vào bộ câu hỏi.
- Bộ câu hỏi được khảo sát mẫu trên 10 đối tượng nghiên cứu trước khi tiến hành trên
quần thể nghiên cứu, sau đó chỉnh sửa cho phù hợp mới đưa vào nghiên cứu chính
thức.
- Kiểm tra lại các phiếu khảo sát sau mỗi ngày khảo sát, với những phiếu thông tin
chưa đầy đủ hoặc không hợp lý thì bị huỷ hoặc đưa lại đối tượng khảo sát để bổ sung.
25