VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HOÀNG HẠ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HOÀNG HẠ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO
1.1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của kiểm toán độc lập............................ 6
1.2. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, loại hình doanh nghiệp của doanh
nghiệp kiểm toán độc lập ................................................................................ 18
1.3. Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập .................... 24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM..................................................................................................... 34
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của doanh
nghiệp kiểm toán độc lập ................................................................................ 34
2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập tại
Việt Nam ......................................................................................................... 43
2.3. Nhận xét chung về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán
độc lập tại Việt Nam ....................................................................................... 55
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP .................................... 60
3.1. Định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán
độc lập trong nền kinh tế Việt Nam ................................................................ 60
3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động
của doanh nghiệp kiểm toán độc lập ............................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNKT
: Doanh nghiệp kiểm toán
KTV
toán tại các công ty này đã phù hợp chưa và có đảm bảo chất lượng cho các
cuộc kiểm toán mà họ thực hiện không?
Bộ máy kiểm toán gồm cả con người và phương tiện chứa đựng các
yếu tố của kiểm toán để thực hiện chức năng kiểm toán. Tổ chức bộ máy kiểm
1
toán với những mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động linh hoạt nhằm thích
ứng với đặc điểm của đối tượng và khách thể kiểm toán trong các cuộc kiểm
toán cụ thể và hướng tới việc thực viện các chức năng của kiểm toán.
Nhận thức được tầm quan trọng mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động
kiểm toán của DNKT độc lập, tìm hiểu lý luận và thực tiễn, tôi đã chọn đề tài
“Tổ chức và hoạt động của DNKT độc lập theo pháp luật Việt Nam” để làm
Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan đến hoạt động kiểm
toán độc lập được đề cập tại rất nhiều diễn đàn, hoạt động nghiên cứu khoa
học với những quy mô khác nhau, thu hút sự tham gia đông đảo của những
người quan tâm. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết
của một số tác giả liên quan đến đề tài về kiểm toán độc lập được công bố, cụ
thể như:
Ở nhóm quy mô luận văn, luận án, đề tài khoa học có thể liệt kê một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng
hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp bộ, Bộ Tài
chính năm 2001, do PGS.TS. Vương Đình Huệ làm Chủ nhiệm đề tài;“Các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam”,
Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số QK.09.04, thời gian
thực hiện từ 2009 đến 2011, do TS. Đặng Đức Sơn làm Chủ nhiệm đề tài;
“Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật
học của tác giả Nguyễn Thị Khuyên, Khoa Luật Đại học Quốc gia, Hà Nội,
trong nền kinh tế Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được
xác định là:
- Đưa ra khái niệm, đặc điểm, cơ cấu tổ chức và hoạt động của DNKT
3
độc lập.
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về DNKT độc lập.
- Phân tích tình hình áp dụng pháp luật thông qua thực tiễn hoạt động
kiểm toán của DNKT độc lập, đưa ra những tồn tại vướng mắc trong áp dụng
pháp luật.
- Đưa ra một số giải pháp để hướng dẫn hoàn thiện các quy định pháp
luật về tổ chức và hoạt động và định hướng nâng cao hiệu quả của DNKT độc
lập trong nền kinh tế Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống quan điểm, các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và
hoạt động của DNKT độc lập.
- Các văn bản pháp luật như: Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 và các
nghị định chuyên ngành và có liên quan đến lĩnh vực kiểm toán độc lập.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của DNKT độc
lập theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011; nghiên cứu thực
trạng áp dụng pháp luật sau khi Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 có hiệu
lực.
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2018.
- Về phạm vi: Các DNKT độc lập tại Việt Nam nói chung và tại Công
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của doanh
nghiệp kiểm toán độc lập.
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm
toán độc lập theo pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập.
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
1.1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của kiểm toán độc lập
1.1.1. Khái niệm kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập là hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn, ra đời và phát
triển trong nền kinh tế thị trường trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Kiểm
toán độc lập xuất hiện và phát triển theo nhu cầu tự thân của nền kinh tế, hoạt
động kiểm toán độc lập phục vụ cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, sau đó được
Nhà nước thừa nhận do hiệu quả và tính chất xã hội của nó.
Trên thế giới, kiểm toán độc lập phát triển mạnh ở các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển, đại diện là các công ty được thành lập từ những
năm cuối của thế kỷ XIX phát triển đến hiện nay và trở thành những công ty
kiểm toán hàng đầu thế giới và được thế giới thừa nhận là nhóm Big Four
như: Ernst&Young, Price Waterhouse Cooper, KPMG Peat Marwich,
Deloitte Touche. Hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán ở các nước
không hoàn toàn giống nhau. Mỗi nước, luật pháp quy định rõ quyền hạn,
trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán, thừa nhận sự khách quan và độc lập
của kiểm toán, vì thế mà xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau và cách
tiếp cận khác nhau về kiểm toán độc lập. Dưới đây ta sẽ viện dẫn một số định
“Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và DNKT về tính
trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của
các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu
cầu của các đơn vị này”.
Khái niệm kiểm toán độc lập được xác định đầy đủ hơn theo các quy
định của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011: “Kiểm toán độc lập là việc KTV
7
hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa
ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác
theo hợp đồng kiểm toán”.
Như vậy, kiểm toán độc lập là hoạt động được tiến hành bởi các KTV
thuộc các Công ty, Văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp nhằm xác minh và
bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động của đối tượng được kiểm toán bằng hệ
thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài
chứng từ. Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc lập là kiểm toán Báo cáo tài
chính. Ngoài ra, theo yêu cầu của khách hàng, KTV độc lập còn có thể thực
hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán khác.
1.1.2. Đặc điểm của kiểm toán độc lập
Trong từng giai đoạn phát triển, kiểm toán độc lập có những đặc điểm
khác nhau, tuy nhiên nổi bậc và xuyên suốt nhất thì đặc điểm của kiểm toán
độc lập được thể hiện qua một số nội dung như sau:
Một là, đối tượng của kiểm toán độc lập là thực trạng hoạt động tài
chính, tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính cùng hiệu quả
và hiệu năng của các nghiệp vụ hay dự án cụ thể.
Thực trạng hoạt động tài chính là đối tượng chung của kiểm toán, có
thể hiểu theo nghĩa chung nhất là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ
kinh tế trong đầu tư, kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tới
Tài sản trong kinh doanh cũng như trong mội lĩnh vực hoạt động khác
thường xuyên vận động. Trong khi đó nghiệp vụ tài chính là các thao tác
khác nhau thong quá trình vận động và hình thành vốn. Số lượng các nghiệp
vụ tài chính tương đối lớn phụ thuộc nhiều loại hình kinh doanh của từng
doanh nghiệp.
Ngoài tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính, theo
quan điểm hiện đại đối tượng kiểm toán còn bao gồm cả hiệu quả và hiệu
năng. Hiệu quả được hiểu là quan hệ giữa một bên là các sản phẩm, dịch vụ
9
làm ra với một bên là nguồn lực đã tạo ra chúng với yêu cầu có kết quả tối đa,
với chi phí về nguồn lực tối thiểu. Còn hiệu năng là xét đến mục tiêu, kết quả
cụ thể của một chương trình. Hiệu quả thường gắn với hoạt động kinh doanh
còn hiệu năng thường gắn với hoạt động quản lý. Đây là đối tượng hoàn toàn
mới, tuy nhiên trên góc độ kiểm toán thì cả hiệu quả và hiệu năng là một bộ
phận của kiểm toán nghiệp vụ, gắn liền với một nghiệp vụ hay chương trình
cụ thể.
Hai là, mục đích của kiểm toán độc lập là kiểm tra, xác nhận và báo
cáo về mức độ phù hợp, trung thực, hợp lý của thông tin trình bày trên báo
cáo tài chính phục vụ cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông
tin. Nói cách khác, mục đích của kiểm toán độc lập là để có được những
thông tin đáng tin cậy. Để đạt được mục đích của kiểm toán độc lập thì cần
phải có một bên thứ ba độc lập, khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, địa vị
và trách nhiệm pháp lý kiểm tra và đưa ra kết luận là các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp lập ra có hợp thức không, có trung thực và hợp lý hay không.
Đó chính là công việc của KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên
nghiệp. Kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền
kinh tế. Luật pháp nhiều nước khẳng định rằng, chỉ những báo cáo đã được
yêu cầu tối thiểu để kết nạp thành viên. Sau khi trở thành một kế toán viên đủ
trình độ người đó vẫn chưa được phép làm KTV, mọi tổ chức chuyên nghiệp
đều chủ trương là các thành viên của mình không được làm các dịch vụ kế
toán trừ khi họ đã có chứng chỉ hành nghề. Trong thực tế rất ít kế toán viên
chuyên nghiệp được cấp chứng chỉ hành nghề mà cam chịu sử dụng nghề
nghiệp của mình để làm thuê cho các văn phòng chuyên nghiệp hay trong
ngành.
Ngoài ra, trong điều kiện nền kinh tế tài chính thế giới ngày càng quốc
tế hóa sâu rộng, KTV cần phải thông thạo ngoại ngữ để có thể trao đổi với
11
khách hàng để công việc kiểm toán có thể diễn ra thuận lợi và các báo cáo
kiểm toán có giá trị quốc tế. Mặt khác khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin
ngày càng phát triển, máy tính trở nên phổ biến, KTV cần phải có kỹ năng tin
học, thành thạo các phần mềm kế toán, phần mềm kiểm toán,… Kỹ năng giao
tiếp cũng là một kỹ năng quan trọng của KTV. Có được một nghệ thuật giao
tiếp tốt, KTV sẽ tránh được những hiểu nhầm, tạo thuận lợi trong việc thu
thập các số liệu làm bằng chứng kiểm toán và nhất là có thể duy trì một mối
quan hệ tốt đẹp và lâu dài giữa công ty kiểm toán và khách hàng kiểm toán.
- Về chính trực và khách quan
Trình độ chuyên môn là một yêu cầu không thể thiếu của KTV trong
việc đưa ra ý kiến của mình đối với báo cáo tài chính. Bên cạnh đó kiểm toán
hoạt động mang tính chủ quan, KTV căn cứ vào những bằng chứng thu thập
được và KTV dựa vào những kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng phán xét
để đưa ra những ý kiến nhận xét trên báo cáo tài chính. KTV phải là người
thẳng thắn, trung thực và có lương tâm nghề nghiệp, phải là người trong sáng
không được phép để cho sự định kiến thiên lệch lấn át tính khách quan. KTV
phải điều chỉnh mình cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, uy tín của bản
ty khách hàng là những người bị ngăn chặn không cho tiếp cận những thông
tin đó, mối quan hệ của họ với ban quản lý sẽ bị căng thẳng nghiêm trọng và
trong trường hợp cực đoan sẽ là nguyên nhân làm hại đến công ty khách hàng.
Hơn nữa việc tiếp cận với các bản tư liệu sẽ cho các nhân viên của công ty
khách hàng một cơ hội để làm thay đổi thông tin trên các tư liệu đó. Vì những
lý do này, luôn luôn phải cẩn trọng để bảo vệ các bản tư liệu. Chính vì vậy,
KTV phải tôn trọng các bí mật của những thông tin đã thu thập được trong
quá trình kiểm toán, không được để lộ bất cứ thông tin kiểm toán nào cho
người thứ ba khi không có sự uỷ quyền đặc biệt hoạc có trách nhiệm pháp lý,
trách nhiệm nghề nghiệp yêu cầu phải công bố.
Bốn là, đối tượng áp dụng kiểm toán là các đơn vị được DNKT độc lập
13
thực hiện kiểm toán. Đối tượng áp dụng kiểm toán độc lập có thể chia ra làm
hai loại: Loại bắt buộc báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi các tổ chức
kiểm toán độc lập và loại thứ hai là loại tự nguyện. Doanh nghiệp thuộc loại
bắt buộc báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi KTV độc lập là các doanh
nghiệp phải được kiểm toán theo yêu cầu của quan hệ thị trường hoặc theo
yêu cầu quản lý của nhà nước và được nhà nước quy định cụ thể bằng pháp
luật. Theo yêu cầu của quan hệ thị trường là do tính ảnh hường của doanh
nghiệp này đến các chủ thể tham gia thị trường lớn, việc tăng trưởng hay
không của doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi ích của các chủ thể có
liên quan. Bên cạnh đó trên thị trường còn một số doanh nghiệp mà theo yêu
cầu quản lý nhà nước, nhà nước cần phải kiểm soát và chi phối, để có cơ sở
kiểm soát nhà nước bắt buộc phải kiểm toán độc lập hàng năm thay vì nhà
nước phải thanh tra, kiểm tra hàng năm. Doanh nghiệp thuộc loại tự nguyện
thuê dịch vụ kiểm toán độc lập thường do bản thân doanh nghiệp có nhu cầu
nhằm tăng cường năng lực quản lý hoặc muốn minh bạch số liệu báo cáo tài
nghiệp, tổ chức mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ từ 20%
quyền biểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm tài chính phải được kiểm toán
đối với báo cáo tài chính hàng năm; Doanh nghiệp mà các tổ chức niêm yết,
tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán nắm giữ từ 20% quyền
biểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm tài chính phải được kiểm toán đối
với báo cáo tài chính hàng năm;
+ DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam phải được kiểm
toán đối với báo cáo tài chính hàng năm.
Đối với trường hợp tự nguyện, Nhà nước khuyến khích tất cả các doanh
nghiệp và tổ chức thuê DNKT thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng
năm hoặc báo cáo quyết toán dự án đầu tư trước khi nộp cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc trước khi công khai tài chính. Tuy nhiên các doanh
nghiệp thường tự nguyện kiểm toán khi:
15
- Doanh nghiệp muốn làm ăn chính đáng, luôn đòi hỏi sự chính xác,
trung thực, khách quan của số liệu;
- Khi sáp nhập hoặc chia tách doanh nghiệp;
- Khi xảy ra sự cố, rủi ro lớn về kinh tế;
Có thể kể đến một ví dụ điển hình là khi các doanh nghiệp và tổ chức
có nhu cầu vay vốn ngân hàng thương mại hay sử dụng vốn của các tổ chức
quốc tế thì cũng phải thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo yêu cầu của
các tổ chức đó.
Năm là, phạm vi kiểm toán độc lập. Để hình thành ý kiến nhận xét về
các báo cáo tài chính, KTV phải có được các căn cứ vững chắc cũng như các
thông tin cốt yếu trong công việc ghi chép kế toán và các nguồn số liệu đáng
tin cậy khác đã được dùng làm cơ sở cho việc xây dựng các báo cáo tài chính,
hay nói cách khác, KTV phải có đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp. Do
nhận và chức năng tư vấn.
Chức năng kiểm tra, thẩm định thông tin là chức năng cơ sở mà KTV
sẽ sử dụng các phương pháp đặc thù để tiến hành kiểm tra, thẩm định tính
đúng đắn, trung thực, hợp lý, hợp pháp của thông tin. Chức năng này gắn liền
với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán. Kiểm tra và thẩm
định là hình thức kiểm tra sau khi các hoạt động tài chính diễn ra. Quan hệ
giữa kiểm tra và thẩm định với các hoạt động kiểm toán là quan hệ giữa “cái
chung và cái riêng”, giữa cái tổng thể và phương diện biểu hiện ra với tính
chất là các nghiệp vụ cụ thể của tổng thể đó. Thông qua chức năng kiểm tra
và thẩm định thì KTV dựa trên các bằng chứng xác nhận thực trạng tài chính
của doanh nghiệp, xác nhận tính đúng đắn của thông tin đã được ghi nhận trên
báo cáo tài chính. Việc xác nhận đó đồng nghĩa với việc giải tỏa trách nhiệm
cho những người cung cấp thông tin.
Qua kiểm tra, thẩm định và xác nhận từ góc nhìn của kiểm toán, KTV
sẽ thấy những mặt mạnh và mặt yếu của thực trạng tài chính và đưa ra những
17
ý kiến tư vấn cho cán bộ quản lý nhằm thiết lập lại kỷ cương hệ thống tài
chính và hướng tới hiệu quả, chất lượng.
Hoạt động kiểm toán giúp cho các đơn vị phát hiện ra những nội dung
mà pháp luật quy định còn chưa chặt chẽ, bất cập để kiến nghị các cơ quan
hữu quan sửa đổi cho phù hợp. Trong quá trình kiểm toán, nếu phát hiện
những dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì KTV phải thông báo với
cơ quan thi hành pháp luật để cơ quan này thực hiện nhiệm vụ.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, loại hình doanh nghiệp của
doanh nghiệp kiểm toán độc lập
1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp kiểm toán độc lập
DNKT độc lập là doanh nghiệp thực hiện chức năng của kiểm toán độc
DNKT độc lập có tính ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý của doanh nghiệp
được kiểm toán, hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư, hiệu quả quản lý của cơ
quan quản lý nhà nước.
- DNKT độc lập là loại hình doanh nghiệp mang tính đối nhân nhiều
hơn đối vốn, mặc dù DNKT độc lập có loại hình công ty TNHH hai thành
viên trở lên và phải có vốn pháp định. Tuy nhiên do yêu cầu quản lý về ngành
nghề nên yêu cầu về vốn đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên kiểm
toán độc lập vẫn là thứ yếu. Trong tất cả các loại hình doanh nghiệp, pháp luật
đều quy định chủ sở hữu DNKT hoặc sở hữu vốn chi phối của DNKT đều
phải là kiểm toán viên hành nghề.
- Do tính chuyên nghiệp và đòi hỏi chuyên môn cao của kiểm toán độc
lập nên DNKT độc lập có phạm vi hoạt động chỉ hạn chế trong các ngành
nghề dịch vụ và tư vấn liên quan đến kiểm toán, kế toán. DNKT độc lập
không được kinh doanh các ngành nghề khác ngoài phạm vi quy định của
pháp luật.
1.2.3. Chức năng của doanh nghiệp kiểm toán độc lập
Hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán rất phổ biến ở các
19