Thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUỆ

THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUỆ

THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO


2.3. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong Thủ tục ban hành Quyết định thi hành
án trong Thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam .....................................................53
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY ....................70
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi
hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ............................................................70
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án
trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam............................................71
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong
Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam .....................................................74
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHV

: Chấp hành viên

THADS

: Thi hành án dân sự

THA

: Thi hành án

UBND

51

2017 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam
Những hạn chế, bất cập trong công tác ban hành
2.3.

quyết định thi hành án trong THADS tại tỉnh

66

Quảng Nam

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.2.

2.2.

Quyết định THADS tại tỉnh Quảng Nam năm
2013-2017
So sánh Quyết định THA chủ động với Quyết định
THA yêu cầu tại tỉnh Quảng Nam 2013-2017

Trang

51

động thi hành án quyền và lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức kinh tế, tổ chức
XH và của công dân được bảo vệ; pháp chế được tăng cường, tạo được niềm tin
vững chắc trong quần chúng nhân dân, đảm bảo trật tự xã hội. Cũng như các cơ
quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan THADS giữ vị trí đặc biệt quan
trọng, là một khâu không thể thiếu trong quá trình tố tụng. Mọi phán quyết của Tòa
án chỉ là những quyết định trên giấy tờ và không thể phát huy trên thực tế nếu
không được thi hành đầy đủ và hiệu quả nhất là trong lĩnh vực thi hành án.
Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã
chỉ rõ: “Sớm xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi hành án theo hướng tập trung
nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thi hành án vào Bộ Tư pháp. Xây dựng đội

1


ngũ cán bộ làm công tác thi hành án để bảo đảm tốt công tác xét xử.”
Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã
khẳng định “Xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước
thống nhất về công tác thi hành án”. Tiếp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2015 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã tiếp tục khẳng định
“Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính
phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án”.
Công tác THADS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong những năm qua luôn
tăng về số lượng và giá trị nhưng kết quả thi hành vẫn hoàn thành và vượt chỉ tiêu
của Quốc hội giao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại,
hạn chế đối với công tác ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Thủ tục ban hành Quyết định
thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm Luận văn
Thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

cụ thể nào đó như “thủ tục xác minh”. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện về thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong THADS.
Vì vậy, đây chính là vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ mà luận văn này mong muốn
góp phần giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng thủ tục ban
hành quyết định thi hành án trong THADS, luận văn đưa ra một số phương hướng
và giải pháp nhằm nâng cao hiệu công tác ban hành quyết định thi hành án trong
THADS trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN (xã hội chủ nghĩa)
ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về thủ tục ban hành quyết định thi hành án
trong THADS.
Đánh giá thực trạng cải cách hành chính trong THADS trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam.

3


Trên cơ sở những nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tác giả kiến nghị một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu công tác ban hành quyết định thi hành án trong
THADS trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung về thủ tục ban hành Quyết định thi
hành án trong THADS, thực tiễn ban hành Quyết định thi hành án trong THADS tại
tỉnh Quảng Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật; đưa ra các
kiến nghị, đóng góp để nâng cao hiệu quả công tác ban hành Quyết định thi hành án
trong THADS.

THADS
6.2. Thực tiễn của luận văn
Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về khái niệm
thi hành án và thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự, góp
phần bổ sung, làm phong phú thêm cho các hoạt động nghiên cứu khoa học về thi
hành án dân sự.
Từ việc đánh giá thực trạng ban hành quyết định thi hành án trong thi hành
án dân sự, tác giả đã đưa ra những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật về thi hành án dân sự.
Từ việc đánh giá thực trạng ban hành quyết định thi hành án trong thi hành
án dân sự, tác giả đã phân tích những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự.
Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên
cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật hành chính.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1 – Những vấn đề lý luận về thủ tục ban hành quyết định thi hành án
trong thi hành án dân sự
Chương 2 - Thực trạng thực hiện thủ tục ban hành quyết định thi hành án
trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam hiện nay
Chương 3 - Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu thủ tục ban hành
quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam hiện
nay

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH
THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thủ tục ban hành Quyết định thi


Luật THADS 2014 thì thẩm quyền tổ chức thi hành án được xác định:
1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án,
quyết định đó là: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi
hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với
bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự
cấp huyện có trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối
với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan
thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi
hành án cấp quân khu ủy thác.
2. Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án,
quyết định đó là: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh trên cùng địa bàn;
Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh; Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của
Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết
định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác
hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm
quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại Khoản 1 Điều
này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành và Bản án, quyết định quy định tại khoản 1
Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp
về thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án,
quyết định đó là: Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản
thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án,
quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;
Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình
sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu

cấp tạm thời quy định tại Điều 115 của Bộ luật tố tụng dân sự; cấm ông Trần Minh
S và bà Thái Thị Thu N chuyển nhượng, tặng cho đối với tài sản là quyền sử dụng
đất có diện tích 169m2, thuộc thửa số 226, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khối phố 10,

9


phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam do ông Trần Minh S và bà
Thái Thị Thu N đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H2995 do
UBND Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 01/9/2008...”.
Trong trường hợp nói trên, mặc dù, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam ban
hành Quyết định áp dụng biện pháp khấn cấp tạm thời. Tuy nhiên, quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân Quảng Nam sẽ do Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ tổ chức thi hành.
Khi ban hành quyết định về thi hành án, trước hết cần căn cứ đúng quy định
của pháp luật; cần làm rõ quyết định đó có căn cứ vào văn bản pháp luật nào; thẩm
quyền ban hành, thời hạn ban hành quyết định có phù hợp quy định pháp luật hay
không.
Như việc ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án phải căn cứ
khoản 1 Điều 23, Điều 35, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 45 và Điều 54 (nếu có
chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án) Luật THADS, Điều 7 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP; Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTCVKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối
hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/9/2016.
Hay việc ban hành Quyết định thi hành án đối với Quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời của Tòa án, trọng tài thương mại phải căn cứ Điều 130 Luật
THADS.
Trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án, Chấp hành viên thụ lý hồ sơ chỉ được ban hành các quyết định mà nội
dung các quyết định phải tuân theo pháp luật, theo đúng nội dung phán quyết của

thời gian luật định. Theo quy định, ngày vào sổ nhận bản án, quyết định là ngày
được tính thời hạn ra quyết định thi hành án. Việc vào sổ phải thực hiện nghiêm
túc, đầy đủ, kịp thời theo hướng dẫn tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày
01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành
chính và Biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự.
+ Bên cạnh đó, quyết định áp dụng biển pháp khẩn cấp tạm thời là loại việc
thuộc diện Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án. Theo
quy định của Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành thì cơ quan đã ra

11


quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có trách nhiệm chuyển giao quyết
định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để tổ chức thi hành án và
không có quy định về quyền yêu cầu của đương sự cũng như trách nhiệm của cơ
quan THADS tiếp nhận quyết định đó từ đương sự. Vì vậy, nếu cơ quan thi hành án
nhận được đơn yêu cầu thi hành từ đương sự nhưng vẫn chưa nhận được quyết định
do Tòa án, Trọng tài thương mại chuyển giao thì chưa thực hiện việc ra quyết định,
nhưng vẫn phải ghi vào sổ nhận bản án, quyết định và hướng dẫn đương sự khẩn
trương liên hệ cơ quan đã ra quyết định áp dụng chuyển ngay cho cơ quan THADS
để có cơ sở kịp thời ra quyết định và tổ chức thi hành.
Xác định hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định để đưa ra thi hành:
Để đưa bản án, quyết định ra tổ chức thi hành, cần đảm bảo xác định đúng bản
án, quyết định đủ điều kiện để được đưa ra thi hành theo thủ tục THADS hay không?
Về phạm vi tổ chức: Phạm vi tổ chức thi hành theo thủ tục thi hành án dân
sự là các loại bản án, quyết định, phần nội dung bản án, quyết định theo tính chất vụ
việc theo quy định tại Điều 1 Luật THADS gồm: bản án, quyết định dân sự; hình
phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài
sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản
trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án; quyết định của Tòa án giải quyết

Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 206 Luật Tố
tụng hành chính năm 2015 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án
cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; trường hợp đương sự, đại diện cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện mà không có mặt tại phiên tòa hoặc không có
mặt khi tuyên án nhưng có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ
ngày họ nhận được bản án hoặc bản án đó được niêm yết; trường hợp đương sự, đại
diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt
khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính
từ ngày tuyên án. Đồng thời, đối với bản án hình sự thì theo quy định tại Khoản 1
Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng cáo đối với bản án
của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự, bị
cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án
hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại
Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn kháng nghị đối với
bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện
Kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án; trường hợp Kiểm sát
viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát

14


cùng cấp nhận được bản án. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015, Khoản 1 Điều 213 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời
hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp
là 15 ngày, của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Như vậy, theo các quy định trên thì ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp
luật là ngày các đương sự, bị cáo không còn quyền kháng cáo, Viện kiểm sát các cấp
không còn quyền kháng nghị theo quy định pháp luật. Vậy, tùy từng trường hợp cụ
thể mà xác định ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, đảm bảo việc ra quyết
định thi hành án đối với bản án đã đủ điều kiện đưa ra thi hành.

cạnh tranh có hiệu lực pháp luật sau ba mươi ngày kể từ ngày ký nếu trong thời hạn
đó không bị khiếu nại theo quy định tại Điều 107 của Luật này (Điều 107: 1.
Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên
Hội đồng cạnh tranh; 2. Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội
dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh
tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Thương mại).
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 121 Luật Cạnh tranh thì sau thời hạn 30
ngày, kể từ ngày quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực pháp luật, nếu bên
phải thi hành không tự nguyện thi hành, không khởi kiện ra Tòa án theo quy định
tại Mục 7 Chương này thì bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có
quyền làm đơn yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan đó. Trên cơ sở các quy định này, tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Luật
THADS quy định: Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được thi hành trong trường
hợp sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật mà đương sự không tự nguyện thi
hành, không khởi kiện tại Toà án.
Như vậy, bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chỉ có
quyền yêu cầu thi hành án sau 60 ngày, kể từ ngày ký nếu quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh không bị khiếu nại, bên phải thi hành không tự nguyện thi hành và
không khởi kiện tại Tòa án. Do đó, cơ quan THADS cần đề nghị người yêu cầu thi
hành quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cung cấp thông tin về việc
đương sự không khởi kiện tại Tòa án để có căn cứ ra quyết định thi hành án và xử

16


lý vụ việc.
Đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của
Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt

phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án; hết thời hạn
đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án theo quy định của
Luật THADS. Để xác định thời hiệu yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS cần căn
cứ vào Điều 30 Luật THADS; Khoản 2 Điều 147, Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2015
và Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS, theo đó: Về nguyên tắc,
Khoản 1 Điều 30 Luật THADS quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể
từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Như vậy, để xác định được bản án,
quyết định có còn thời hiệu yêu cầu thi hành án hay không thì cơ quan THADS cần
xác định ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo các nguyên tắc đã nêu ở
trên, từ đó đối chiếu với ngày yêu cầu thi hành án của đương sự.
Theo quy định tại Điều 31 Luật THADS thì ngày yêu cầu thi hành án của
đương sự được xác định tuỳ thuộc vào hình thức yêu cầu thi hành án của họ.
Đơn cử trường hợp yêu cầu thi hành án của đương sự được gửi qua đường
bưu điện thì ngày yêu cầu thi hành án của đương sự được tính từ ngày có dấu bưu
điện nơi gửi. Trường hợp đương sự trực tiếp nộp đơn yêu cầu thi hành án tại cơ
quan THADS thì ngày yêu cầu thi hành án là ngày đương sự nộp đơn. Trường hợp
đương sự trình bày trực tiếp bằng lời nói tại cơ quan THADS thì ngày yêu cầu thi
hành án là ngày đương sự trình bày trực tiếp tại cơ quan THADS (cơ quan THADS
có trách nhiệm hướng dẫn viết đơn hoặc được lập thành biên bản ghi nhận yêu cầu
thi hành án của họ với các nội dung như quy định tại Điều 31 Luật THADS, theo
mẫu D32-THADS ban hành kèm theo Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày
01/02/2016 của Bộ Tư pháp).
Trên cơ sở ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và ngày yêu cầu thi
hành án đã được xác định, cơ quan THADS căn cứ vào Điều 30 Luật THADS,
Khoản 2 Điều 147 và Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu yêu
cầu thi hành án.
Theo quy định tại Điều 30 Luật THADS thì thời hiệu yêu cầu thi hành án có
một số trường hợp đặc biệt đó là:


quyền đề nghị Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền xem xét, quyết định về
việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn. Việc yêu cầu thi

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status