VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THIỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THIỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN MINH PHƯƠNG
2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
hành chính tại Quảng Nam......................................................................................................... 44
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA............................................................ 63
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức hành chính ở Việt Nam........................................................................ 63
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức hành chính................................................................................... 63
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở tỉnh Quảng Nam.......................................... 67
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
một số hạn chế như: chênh lệch về trình độ giữa CBCC vùng đồng bằng và miền
núi; năng lực cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị của
một số CBCC chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, điều hành; lúng túng trong
xử lý công việc, thiếu tính chuyên nghiệp và kỹ năng xử lý các tình huống thực
tiễn đặt ra; tâm lý ỷ lại, tư tưởng trì trệ, bảo thủ, tự ti còn khá nặng nề. Trong giải
quyết công việc liên quan đến người dân, không ít CBCC chưa nắm chắc,
1
hiểu sâu vấn đề, chưa giải đáp được những thắc mắc, yêu cầu của người dân;
một bộ phận CBCC suy thoái về đạo đức, lối sống… gây bất bình trong nhân
dân, làm giảm uy tín của tổ chức đảng, chính quyền, giảm vai trò lãnh đạo, quản
lý, điều hành của bộ máy chính quyền tại địa phương.
Để khắc phục tình trạng trên, Tỉnh ủy Quảng Nam đã quan tâm nhiều đến
công tác ĐTBD, nâng cao trình độ cho đội ngũ CBCC hành chính. Thực hiện
Kết luận số 37-KL/TW ngày 2/2/2009 của Ban Chấp hành TW khóa X về “tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020” và Quyết định
số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt "Kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2011-2015" . Trong những năm qua,
tỉnh Quảng Nam luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC của tỉnh nhà,
tạo điều kiện để CBCC tham gia các khóa ĐTBD nâng cao năng lực lãnh đạo,
chuyên môn đáp ứng yêu cầu. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần
thứ XX xác định: Cùng với xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo môi trường đầu tư
thuận lợi, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là ba hướng đột phá trong tiến
trình đưa tỉnh Quảng Nam thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Chủ
trương trên đã đặt công tác ĐTBD, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của tỉnh
trở thành khâu đột phá của nhiệm vụ đột phá. Nghị quyết 04-NQ/TU ngày
30/6/2011 của Tỉnh ủy "Về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2015 và định hướng
đến năm 2020" đã xác định: "Nâng cao chất lượng, hiệu quả và tạo sự chuyển
chức trong điều kiện hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay” do PGS.TS. Triệu
Văn Cường và PGS.TS. Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên, Nxb Hồng Đức,
Hà Nội, 2018 đã phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới, nâng cao chất lượng
ĐTBD CBCC ở Việt Nam trong hội nhập quốc tế và hệ thống hóa kinh nghiệm
nâng cao chất lượng ĐTBD công chức của một số nước trên thế giới; qua đó rút
ra bài học kinh nghiệm, đồng thời đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới, nâng
cao nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC ở Việt Nam trong hội nhập quốc tế [10].
Đề tài khoa học cấp bộ (Bộ Nội vụ) “Cơ sở khoa học của ĐTBD CBCC
hành chính theo nhu cầu công việc” (2008) do Nguyễn Ngọc Vân chủ nhiệm, đã
phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của ĐTBD đội ngũ CBCC hành chính đáp
ứng nhu cầu công việc, dựa trên các yêu cầu khách quan của hoạt động thực thi
4
công vụ thực tế tại Việt Nam, đảm bảo tính khoa học và đồng bộ trong việc nhận
thức về vai trò của hoạt động đào tạo, xác định nhu cầu đào tạo, thực hiện đổi
mới nội dung chương trình đào tạo, từ đó phát huy tối đa vai trò của CBCC
trong thực hiện đào tạo theo nhu cầu công việc.
Đề tài khoa học cấp bộ (Bộ Nội vụ) “Cơ sở khoa học của việc ĐTBD theo
vị trí việc làm đối với công chức ngành Nội vụ” (2012) do Vũ Thanh Xuân chủ
nhiệm, đã đưa ra cơ sở khoa học về ĐTBD công chức theo vị trí việc làm, thực
trạng và giải pháp ĐTBD theo vị trí việc làm trong đó có giải pháp về phát triển
đội ngũ giảng viên.
Đề tài khoa học cấp Bộ (Bộ Nội vụ) “Cơ sở khoa học xây dựng chương
trình bồi dưỡng công chức theo tiêu chuẩn chuyên ngành Nội vụ” (2014) do
Đàm Bích Hiên chủ nhiệm, đã nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng
bồi dưỡng công chức nhằm đáp ứng tiêu chuẩn chuyên ngành Nội vụ, từ đó đề
xuất phương hướng, giải pháp xây dựng chương trình bồi dưỡng công chức theo
tiêu chuẩn chuyên ngành Nội vụ.
Đề tài khoa học cấp Bộ (Bộ Nội vụ ) “Cơ sở khoa học xây dựng chương
thực tiễn về hoạt động ĐTBD CBCC và QLNN về ĐTBD CBCC. Tuy nhiên
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về QLNN về ĐTBD
CBCC hành chính tại Quảng Nam.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá thực trạng
QLNN về ĐTBD CBCC hành chính của tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất các
quan điểm và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTBD
CBCC hành chính, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCC hành chính trong
sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
6
-
Phân tích cơ sở lý luận về QLNN ĐTBD CBCC hành chính theo yêu
cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN).
-
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về ĐTBD CBCC hành
chính của tỉnh Quảng Nam, qua đó rút ra những kết quả hạn chế và nguyên nhân
của những hạn chế đó.
Đề xuất các quan điểm, giải pháp để nâng cao hiệu quả QLNN về ĐTBD
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cơ bản như: hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về
7
QLNN về ĐTBD CBCC.
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận
QLNN ĐTBD CBCC hành chính nhà nước. (chưa sửa)
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
-
Luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan có thẩm
quyền của tỉnh Quảng Nam triển khai thực hiện Quyết định số 163/QĐ-TTg
ngày 25/01/2016 về việc phê duyệt Đề án ĐTBD CBCCVC giai đoạn 2016 2025.
-
Những kết luận được rút ra và giải pháp được trình bày trong luận văn
có thể dùng làm tư liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy liên quan đến
QLNN về ĐTBD đối với CBCC hành chính tỉnh Quảng Nam, đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Khái niệm công chức được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế
giới để chỉ các công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong các
cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Nhưng do đặc thù của từng
quốc gia nên quan niệm về công chức là không đồng nhất.
Tại Pháp thì công chức được coi là những người được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào làm việc tại các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và
các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và
địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng
thuộc địa phương quản lý.
9
Tại Inđônêxia, công chức được quan niệm rộng hơn, bao gồm cả những
người được tuyển dụng, bổ nhiệm để làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà
nước từ Trung ương đến địa phương, những nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước,
các sĩ quan cao cấp trong quân đội, cảnh sát.
Ở
Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát
triển của nền hành chính nhà nước. Trải qua các giai đoạn phát triển của nền
hành chính nhà nước thì khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Pháp lệnh Cán bộ công chức năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2000 và năm
2003 đã có quy định về CBCC nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa cán
bộ và công chức mà vẫn sử dụng chung khái niệm CBCC.
Theo Luật CBCC năm 2008: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,
lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [32]. Theo Wikipedia - Bách khoa toàn
thư mở “đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay
kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững
những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc
nhất định. Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục,
thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi
nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và
đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ
xa, ...”
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về
ĐTBD công chức giải thích tại Điều 5: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp
nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc
học” và “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ
11
năng làm việc”.Theo Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về
ĐTBD CBCCVC quy định “Việc đào tạo cán bộ, công chức, viên chức thực hiện
theo quy định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, phù hợp với kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng, đáp ứng quy hoạch nguồn nhân lực của cơ quan đơn vị” [10].
Như vậy, đào tạo có thể được hiểu là một hoạt động có mục đích, có tổ
chức và được thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho
người học hệ thống kiến thức, kỹ năng phù hợp nhất định.
Thông thường, hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo
dục đào tạo hoặc tại cơ sở sản xuất với nội dung, chương trình, thời gian khác
nhau cho các cấp bậc đào tạo khác nhau. Cuối mỗi khóa đào tạo, học viên sẽ
được cấp bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ tốt nghiệp.
Bồi dưỡng, theo Từ điển Tiếng Việt là “làm cho người học tăng thêm sức
kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được đào
tạo trước đó.
1.1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý có thể hiểu là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt đến mục
đích nhất định. Mục tiêu này có thể do các thành viên trong tổ chức tự thống
nhất với nhau, cũng có thể do người đứng đầu tổ chức xây dựng và giao cho tổ
chức thực hiện. Nhưng cũng có những tổ chức được hình thành để thực hiện
những mục tiêu được xác định trước. Khi đó, bản thân tổ chức không thể tự
mình làm thay đổi mục tiêu.
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại
cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý
gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phận quan
trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương
đối với xã hội. QLNN được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà
nước thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm mọi hoạt động của xã hội cũng như
trên từng lĩnh vực đời sống xã hội vận động theo định hướng nhất định do nhà
nước định ra. QLNN được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và được
phân biệt với quản lý mang tính chất nội bộ một tổ chức xã hội, cơ quan, đơn vị,
doanh nghiệp, cộng đồng dân cư mang tính chất tự quản.
13
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh
vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối
ngoại của nhà nước.
Quản lý nhà nước, theo nghĩa hẹp còn gọi là quản lý hành chính nhà
nước, là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
cơ bản nhất của nhà nước trong quản lý xã hội; là hoạt động thực thi quyền hành
pháp của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực
Qua nghiên cứu các khái niệm có liên quan, có thể hiểu QLNN về ĐTBD
CBCC là sự tác động có mục đích, có tổ chức của các cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền lên các đối tượng quản lý là quan hệ xã hội phát sinh trong
lĩnh vực ĐTBD CBCC trên cơ sở chính sách, pháp luật về ĐTBD để nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động ĐTBD CBCC. Từ đó nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ - công chức của đội ngũ CBCC hướng đến
mục tiêu là nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ nhân dân, phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội theo đúng định hướng của Đảng và Chính phủ đã đặt ra.
1.1.2. Nội dung và phương pháp quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức hành chính
1.1.2.1. Các nội dung quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức hành chính
Nội dung QLNN về ĐTBD CBCC hành chính cũng chính là nội dung
QLNN về ĐTBD CBCC nói chung được thể hiện trong các văn bản quy pháp
pháp luật:
-
Luật Giáo dục đại học năm 2012.
-
Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
-
Các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật CBCC
+
Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức
+ Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 22/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án “Bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý nhà nước cho CBCC trẻ
ở
xã giai đoạn 2014 - 2020”;
+
Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ
Phê duyệt Đề án ĐTBD CBCCVC giai đoạn 2016 – 2025;
+
Thông tư số 36/2018/TT-BTC ngày 30/3/2018 hướng dẫn lập dự toán,
quản lý và sử dụng kinh phí dành cho công tác ĐTBD CBCC;
+
Thông tư số 01/2018/TT-BNV ngày 08/01/2018 của Bộ Nội vụ hướng
dẫn một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính
phủ về ĐTBD CBCCVC;
+
Thông tư số 09/2012/TT-BNV ngày 10/12/2012 của Bộ Nội vụ quy
định quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CCVC;
+
Thông tư liên tịch số 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT ngày 06/6/2011 của
16
Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm
quyền các văn bản quy phạm pháp luật về ĐTBD CBCCVC.
2.
Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành theo thẩm
quyền chiến lược, đề án, kế hoạch ĐTBD CBCCVC; hướng dẫn thực hiện chiến
lược, đề án, kế hoạch ĐTBD sau khi được phê duyệt, ban hành; theo dõi, tổng
hợp kết quả ĐTBD CBCCVC của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
3.
Xây dựng kế hoạch, quản lý, hướng dẫn công tác bồi dưỡng CBCCVC
17
ở
nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước. Tổ chức các khóa bồi dưỡng cán
bộ, công chức, viên chức ở nước ngoài theo thẩm quyền.
4.
Tổng hợp nhu cầu, đề xuất kinh phí ĐTBD gửi Bộ Tài chính cân đối,
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, UBND cấp tỉnh
thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
5.
4.
Tổ chức các khóa bồi dưỡng CBCCVC ở nước ngoài theo thẩm quyền.
5.
Quản lý và biên soạn các chương trình, tài liệu bồi dưỡng CBCCVC
theo thẩm quyền.
6.
Quản lý cơ sở ĐTBD và đội ngũ giảng viên theo thẩm quyền.
7.
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách ĐTBD theo thẩm
quyền.
8.
Các bộ quản lý viên chức chuyên ngành quy định điều kiện các cơ sở
đào tạo, nghiên cứu được tổ chức thực hiện các chương trình bồi dưỡng viên
chức chuyên ngành.
-
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính, gồm:
1.