VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ARẤT BLÚI
CẢI CÁCH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TÂY GIANG,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ARẤT BLÚI
CẢI CÁCH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TÂY GIANG,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN MINH ĐỨC
tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam .....................................................................45
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CẢI CÁCH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TIỄN CỦA HUYỆN
TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM .....................................................................54
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả cải cách chính quyền địa phương từ thực tiễn
huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam ..........................................................................54
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách chính quyền địa phương từ thực tiễn
huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam ..........................................................................57
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ
1
CQĐP
Chính quyền địa phương
2
CQTW
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
8
TAND
Tòa án nhân dân
9
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
10
UBMTTQ
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
11
UBND
Ủy ban nhân dân
12
XHCN
địa phương” đồng thời có nhiều điểm mới trong các quy định về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương và các đơn vị hành
chính. Triển khai, thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 theo hướng đổi
mới, Quốc hội nước ta tiếp tục ban hành và thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa
phương năm 2015, quy định chi tiết, cụ thể tổ chức và hoạt động của các cấp chính
quyền địa phương ở Việt Nam. Trong đó, có nhiều nội dung đổi mới về cách thức
hoạt động của chính quyền địa phương, đặc biệt là việc tăng cường cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền mỗi cấp. Hai
văn bản nêu trên là những cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để từng bước đổi mới
1
mô hình tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền địa phương.
Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của các địa phương trong những
năm tiếp theo đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương,
đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Qua học tập, nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam, kết hợp giữa lý luận đã học và thực tiễn tại địa phương
huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam; tôi chọn đề tài: “Cải cách chính quyền địa
phương từ thực tiễn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn thạc sĩ
Luật học, chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính với hy vọng sẽ góp
phần vào công tác cải cách chính quyền địa phương của huyện nhà nói riêng và
cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về cải cách chính quyền địa phương không phải là một nội dung
mới. Đã có nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu về vấn đề này. Trong
khuôn khổ luận văn thạc sĩ có nhiều luận văn nghiên cứu về hoàn thiện, đổi mới tổ
chức bộ máy, tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp huyện ở những địa bàn
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm rõ hơn những vấn đề lý luận và pháp lý về vị trí,
vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương; thông qua phân tích,
đánh giá thực trạng cải cách chính quyền địa phương huyện Tây Giang, tỉnh Quảng
Nam, đưa ra những ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của bất cập trong cải
cách chính quyền địa phương. Từ đó, đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả cải
cách chính quyền địa phương trong hệ thống chính quyền địa phương hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động, quá trình
hình thành và phát triển của chính quyền huyện ở Việt Nam.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng cải cách chính quyền địa phương huyện
Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải cách chính quyền địa
phương trong hệ thống chính quyền địa phương hiện nay.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cải cách chính quyền địa phương (tác giả tập trung
nghiên cứu chính quyền địa phương cấp huyện).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về cải cách tổ chức và hoạt động
của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện Tây Giang, tỉnh
Quảng Nam.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu cải cách chính quyền địa phương huyện Tây
Giang trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay với tầm nhìn của quá trình cải cách
quyền địa phương từ thực tiễn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG, CẢI CÁCH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cải cách chính quyền địa phương
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của cải cách chính quyền địa phương
Để đưa ra cách hiểu về cải cách chính quyền địa phương trước hết cần làm rõ
một số vấn đề sau:
Khái niệm, đặc điểm chính quyền địa phương là gì?
Lịch sử hình thành và phát triển của các địa phương gắn liền với sự mở rộng
về quy mô dân số, hoạt động kinh tế - xã hội của các địa phương. Giai đoạn đầu
hình thành các cụm dân cư mang tính địa phương với quy mô dân số nhỏ, quy mô
sản xuất hạn chế và giai đoạn phát triển các địa phương dần chuyển thành các trung
tâm kinh tế - xã hội của khu vực, chuyển tính chất từ một địa phương thuần túy
nông thôn sang các khu đô thị và các thành phố. Mức độ gia tăng của hoạt động
kinh tế - xã hội địa phương đòi hỏi phải có sự quản lý chung cộng đồng dân cư và
đó chính là nguồn gốc của sự phát triển các hoạt động quản lý địa phương và chính
quyền địa phương sau này. Hoạt động quản lý chung trên địa bàn lãnh thổ mang
tính địa phương được gọi là hành chính địa phương. Các loại hoạt động quản lý này
được hình thành từ thấp đến cao, từ hình thức tự phát trong từng cộng đồng, địa
phương mang tính chất luật lệ địa phương đến hình thức pháp luật của nhà nước nói
chung khi nhà nước ra đời. Các hoạt động quản lư địa phương do nhân dân tại địa
phương tự quyết định thông qua nhiều hình thức khác nhau, ngay cả việc bầu, chọn
những người đứng đầu để quản lý.
Mỗi địa phương đều được đặt trong lãnh thổ quốc gia thống nhất và có những
nhân dân là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư
pháp (theo Điều 107, Hiến pháp năm 2013) khi thực hiện hai chức năng này, Viện
kiểm sát nhân danh nhà nước. Như vậy, quyền tư pháp được thực hiện chủ yếu bởi
Tòa án, là thiết chế nhà nước, không phải thiết chế của cộng đồng dân cư lãnh thổ địa
phương, hay địa phương không có quyền tư pháp. Trong khi đó quyền hành pháp
được triển khai xuống các đơn vị hành chính nhà nước trong mối quan hệ chặt chẽ
với quyền tự chủ, tự quản của dân cư mỗi cộng đồng hành chính - lãnh thổ. Chính vì
7
vậy ở Việt Nam khi nhắc đến chính quyền địa phương thường được hiểu mặc định
gồm HĐND và UBND và là cơ quan thực thi quyền hành pháp được tổ chức theo
nguyên tắc do nhân dân địa phương bầu ra hoặc được thành lập thông qua cơ quan
đại điện của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật; tổ chức và hoạt
động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
theo quy định của pháp luật; giải quyết các vấn đề của địa phương theo quy định của
Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và có sự kết hợp
hài hòa giữa lợi ích của nhân dân ở địa phương với lợi ích của Nhà nước.
Theo quy định của Hiến Pháp năm 2013 và Luật tổ chức Chính quyền địa
phương năm 2015, hệ thống chính quyền địa phương ở nước ta chia thành 3 cấp là
cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ngoài ra, tùy điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Quốc hội
có thể quyết định thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Chính quyền địa
phương mỗi cấp (kể cả đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt) đều gồm có HĐND và
UBND, có chức năng quản lý tập trung, thống nhất mọi lĩnh vực đời sống xã hội
trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền được pháp luật quy định: Kinh tế, chính
trị, an ninh quốc phòng, văn hóa, xã hội...
Tóm lại: Chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành của chính quyền
Nhà nước thống nhất gồm: HĐND và UBND các cấp theo quy định của pháp luật
nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương trên cơ sở nguyên tắc
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật. HĐND quyết định các vấn đề liên quan của địa phương theo
quy định của pháp luật; đồngthời, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại
địa phương và việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND (theo Điều 113 - Hiến
pháp năm 2013). HĐND có các cơ cấu làm việc như: hoạt động của các kỳ họp,
hoạt động của Thường trực HĐND, các ban của HĐND. HĐND với vai trò thay
mặt nhân dân quyết định những chủ trương, giải pháp nhằm huy động các nguồn
lực để xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân;
giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội và của công dân; duy trì thường xuyên việc tiếp xúc cử tri, thu thập ý
kiến, nguyện vọng chính đáng của cử tri để phản ánh với các cơ quan nhà nước
thông qua các hoạt động của HĐND.
9
- Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND có quyền
quyết nghị mọi vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương, miễn là các
quyết định đó không được trái với các thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà nước
cấp trên. Các Nghị quyết của HĐND có hiệu lực pháp lý trên địa bàn của địa
phương; mọi tổ chức và công dân sống trên địa bàn đó đều phải tuân thủ và chấp
hành. HĐND có quyền ban hành nghị quyết trong phạm vi, quyền hạn của mình.
Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân
Uỷ ban nhân dân do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND,
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan
hành chính nhà nước cấp trên (Điều 114 - Hiến pháp năm 2013).
- Uỷ ban nhân dân ở cấp cchinhs quyền địa phương tổ chức thực hiện việc thi
hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; thực hiện Nghị quyết của HĐND và
thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao (Điều 114 - Hiến pháp
năm 2013).
HĐND&UBND các cấp; kiện toàn, củng cố chính quyền cấp xã.
Bên cạnh đó, nhà nước pháp quyền đòi hỏi bộ máy chính quyền tỉnh phải gọn
nhẹ, có sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa các cấp chính quyền.
1.1.2. Vai trò của của cải cách chính quyền địa phương
Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 và các
văn bản pháp luật hiện hành đã tạo ra cơ sở chính chính trị, pháp lý vững chắc cho
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong giai đoạn hiện nay, có những quy định
mang tính cải cách trong quan điểm và nhận thức về chính quyền địa phương nhưng
để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách bộ máy hành chính
nhà nước đáp ứng mục tiêu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN,
cần tiếp tục nghiên cứu, đưa ra các giải pháp mạnh mẽ nhằm cải cách tốt hơn nữa
công tác tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nhằm đáp ứng công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước ta đã đi vào chiều sâu và đạt được
nhiều thành tựu trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa:
Thứ nhất, xây dựng chính quyền địa phương cấp vùng tạo điều kiện thuận lợi
để tạo lập nên vùng trọng tâm, trọng điểm, góp phần thúc đẩy sự phát triển của mỗi
địa phương và của cả vùng. Xây dựng CQĐP từng vùng là cần thiết nhằm tạo ra khả
năng liên kết, phối hợp giữa CQĐP; tập trung đầu tư, phát triển cho cả vùng, hạn
11
chế việc đầu tư, phát triển dàn trải ở mỗi chính quyền địa phương; giảm tải gánh
nặng điều hành của Chính phủ đối với các đơn vị hành chính cấp tỉnh, nâng cao vai
trò, trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh…
Thứ hai, xây dựng Luật quy định về phân cấp, phân quyền nâng cao hiệu quả
hoạt động của CQĐP, giúp CQĐP chủ động thực hiện cơ chế, chính sách; có toàn
quyền thực hiện nhiệm vụ, CQTW không can thiệp; nhiệm vụ, quyền hạn của
CQĐP trong việc phối hợp với CQTW tổ chức triển khai thực hiện; về phân cấp tài
chính; về cơ chế kiểm tra, giám sát hay nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết tranh
phân định rõ thẩm quyền của mỗi cấp chính quyền theo tinh thần phân cấp mạnh mẽ
thì cơ chế xác định trách nhiệm, bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi
cấp chính quyền cũng như thực hiện việc kiểm soát quyền lực mới có hiệu quả. Thế
nên, Luật tổ chức CQĐP năm 2015 quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP
các cấp cũng như nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND ở các đơn vị
hành chính nhằm thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế này
hợp thành CQĐP [35]. Nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP ở các đơn vị hành chính
theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để
tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của
từng cấp chính quyền.
Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương IX để quy định về “chính quyền địa
phương” khác với trước đây đều quy định là HĐND và UBND. Tiếp đó, ngày
19/6/2015 Quốc hội nước Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật tổ chức chính
quyền địa phương quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương mỗi cấp. Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức chính quyền địa phương
năm 2015 đã bổ sung thêm nhiều quy định mới, rõ ràng hơn mở đường cho việc tiếp
tục đổi mới thể chế chính quyền địa phương ở nước ta. Hiến pháp năm 2013 và Luật
tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định chi tiết, cụ thể và có phân
định rõ sự khác nhau cùng những nét đặc thù riêng về chức năng, nhiệm vụ của chính
quyền địa phương ở đô thị, nông thôn và hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân trí, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi
địa bàn. Về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp có một số
điểm mới nổi bật như sau: Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cấp chính
quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính gồm có HĐND và UBND.
13
Cơ cấu tổ chức của HĐND tạo cơ sở pháp lý để củng cố, kiện toàn và hoàn
thiện tổ chức; đồng thời, tạo điều kiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
nhất ở tất cả các UBND cấp huyện còn tổ chức một số cơ quan chuyên môn để phù
hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó huyện miền núi nếu
đủ tiêu chuẩn cũng được thành lập cơ quan chuyên môn chuyên biệt.
Nội dung cải cách chính quyền địa phương được xem là cải cách tổ chức và
hoạt động của HĐND và UBND. Cải cách chính quyền địa phương gồm có cải cách
hành chính: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực
sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao;
nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
1.3. Phương thức cải cách chính quyền địa phương
Thư nhất, cải cách thể chế
Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy
trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư và văn bản
quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp
pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật. Tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh
tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thành quả
của đổi mới, của phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống
thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; sửa đổi, bổ
sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Chính phủ, HĐND&UBND các cấp. Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về
mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương,
chính sách quan trọng và quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan
hành chính nhà nước…
Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính
Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực
quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp.
Thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh,
bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính
nhà nước. Cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; chất lượng dịch vụ công từng bước được nâng
16
cao, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân đối với
dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực.
Thứ tư, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có
bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân
thông qua các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả. Xây dựng, bổ sung
và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ
của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý. Trên cơ
sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, xây dựng cơ cấu cán
bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm. Hoàn thiện quy định của
pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực,
sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo
nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản
lý. Hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên
cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những
người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy
định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức tương ứng với trách
nhiệm và có chế tài nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi
phạm đạo đức công vụ. Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức. Đổi mới quy định của pháp luật về khen thưởng đối với cán
bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ và có chế độ tiền thưởng hợp lý đối
với cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành xuất sắc công vụ. Nâng cao trách nhiệm,
kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức,
cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn
vị sự nghiệp công. Quản lý có hiệu quả các cơ quan hành chính nhà nước. Xây dựng
nơi làm việc của cơ quan hành chính hiện đại, phù hợp với từng địa phương.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc cải cách chính quyền địa phương
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của tổ chức nhà nước, có
thể nhóm các yếu tố này thành các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan cũng có thể
nhóm các yếu tố này thành yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chức nhà nước. Dù là
phân loại theo tiêu chí nào thì về cơ bản các yếu tố sau đây có thể ảnh hưởng đến hiệu
18
quả tổ chức và hoạt động của chính quyền nhà nước.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách chính quyền địa phương, cụ thể như sau:
Thứ nhất, yếu tố chính trị: Sự tác động của yếu tố chính trị đến cải cách chính
quyền địa phương là một yếu tố tất yếu khách quan nhằm thực hiện ý chí chính trị
của đảng cầm quyền. Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với
cải cách tổ chức bộ máy nhà nước nói chung, tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương nói riêng được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản và được
đặt lên hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của chính quyền
nhà nước. Sự phát triển của Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố
chính trị của đất nước, những tác động của môi trường chính trị trong nước và môi
trường chính trị quốc tế. Thấy rõ thách thức, nắm bắt cơ hội trong bối cảnh hiện nay
sẽ tạo ra hiệu quả cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, từ đó xây
dựng xã hội tốt đẹp hơn, đất nước phát triển hơn.
Thứ hai, yếu tố pháp luật: Mọi cơ quan nhà nước trong tổ chức và hoạt động
đều phải tuân theo những quy định cụ thể của luật pháp. Vì vậy đề cập tới yếu tố pháp
lý, tức là hệ thống thể chế, khung pháp lý, những quy định của pháp luật liên quan
đến tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyển nói chung. Tổ chức và hoạt động