Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức trên địa bàn thành phố lạng sơn, tỉnh lạng sơn - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHƯƠNG NGỌC LAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN KHÁNH ĐỨC

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Đề tài do
cá nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và có nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy định và
đề tài chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
HỌC VIÊN

Phương Ngọc Lan


MỤC LỤC

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

CBCC

Cán bộ, công chức

2

ĐTBD

Đào tạo, bồi dưỡng

3

UBND

Ủy ban nhân dân

Stt



hiện nay năng lực, đạo đức của công chức đã được nâng lên nhiều, song so
với thực tế của quá trình đổi mới và yêu cầu của người dân thì năng lực, đạo
đức của đội ngũ cán bộ công chức vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng yêu
cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị và thương mại của tỉnh Lạng
Sơn, có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng an
1


ninh trên địa bàn tỉnh cũng như cả nước trong công tác kết nối, giao lưu kinh
tế quốc tế việc xây dựng thành phố Lạng Sơn vững mạnh là điều có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo tỉnh,
những năm qua thành phố Lạng Sơn đã có những bước phát triển đáng ghi
nhận. Tuy vậy, sự phát triển của thành phố chưa ổn định, chưa tương xứng
với tiềm năng, lợi thế vốn có của mình trong xu thế cạnh tranh để hội nhập
như hiện nay. Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng này chính là
việc thành phố chưa có được một đội ngũ cán bộ đủ mạnh kể cả về số lượng
lẫn chất lượng để đảm đương công tác thúc đẩy thành phố phát triển. Với đội
ngũ cán bộ công chức, viên chức hiện nay còn mỏng, trình độ nghiệp vụ chưa
đáp ứng được yêu cầu của sự đổi mới và hội nhập nên qua các năm, nhiều
mục tiêu phát triển không hoàn thành hoặc hoàn thành ở mức độ thấp. Điều
này ảnh hưởng rất nhiều tới công tác xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội,
củng cố tăng cường quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ở thành
phố Lạng Sơn. Chính bởi vậy, thực tiễn xã hội đặt ra yêu cầu phải có những
chính sách đúng đắn, thiết thực nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công
chức trong hệ thống chính trị thành phố Lạng Sơn để đáp ứng tốt những đòi
hỏi của tình hình mới. Chính sách về ĐTBD CBCC của thành phố Lạng Sơn
được xây dựng theo chủ trương, đường lối và các quy định của Đảng, Chính
phủ và đã được thực hiện tương đối hiệu quả. Tuy có nhiều thành tựu và kết
quả bước đầu song so với yêu cầu mới thì công tác thực hiện chính sách đào

- Nguyễn Ngọc Vân, Cơ sở khoa học của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức hành chính theo nhu cầu công việc, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ
Nội vụ, 2008.
- Ths. Nguyễn Thế Vịnh - Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ
(2007), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở
theo Nghị quyết Trung ưong 5 (khoá IX), Hà Nội. Bài viết này tác giải đã đưa
3


ra những vấn đề lý luận chung về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức theo Nghị quyết Trung ương 5.
- GS.TSKH. Vũ Huy Từ: Một số biện pháp tăng cường chất lượng đội
ngũ cán bộ cơ sở, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5/2002;
- TS. Nguyễn Minh Phương: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ
sở đáp ứng yêu cầu của thời kì mới, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2003; Căn
cứ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất
lượng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức nhà nước
- Bob Boase - Kế hoạch đổi mới chương trình đào tạo trong nền công vụ
Việt Nam. CTA ADB - MOHA, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Thanh Xuân, Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo vị trí
chức danh, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ, 2006.
Những đề tài nghiên cứu khoa học kể trên mang lại cho thấy một cái
nhìn khá bao quát liên quan tới lý luận chung về công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị của Việt Nam, đặc biệt là những
thế mạnh cũng như điểm yếu của việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức,
những cơ sở khoa học đáng tin cậy giúp chúng ta đề xuất, xây dựng và thực
thi những chính sách phù hợp với cán bộ công chức qua các thời kỳ phát triển
của đất nước. Những kết quả nghiên cứu trên có thể coi là những gợi ý cơ bản
trên phương diện lý luận để triển khai nghiên cứu luận văn theo định hướng
đã chọn.

và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ĐTBD
CBCC trong thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các chủ trương, đường
5


lối của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước ta về chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp nghiên cứu sách
chuyên khảo, bài báo trong tạp chí khoa học chuyên ngành..các tài liệu , báo
cáo chuyên đề lý luận quản lý, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực và các chính
sách quản lý nguồn nhân lực tổ chức
- Khảo sát- đánh giá về thực trạng ĐTBD CBCC của thành phố Lạng
Sơn
- Phương pháp thống kê và phân tích thống kê: dựa trên các số liệu thống
kê về kết quả ĐTBD CBCC của thành phố Lạng Sơn.
- Phương pháp điều tra, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ĐTBD
CBCC của thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2015-2020.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp thành phố Lạng Sơn có
cơ sở thực tiễn để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ĐTBD CBC trong
giai đoạn tiếp theo
7. Kết cấu của Luận văn

chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường
lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên
những lĩnh vực cụ thể nào đó” [Nguồn: “Từ điển tiếng Việt” do Nhà xuất bản Đà Nẵng
và Trung tâm Từ điển học ấn hành năm 1997, Hoàng Phê chủ biên, trang 157] . Như vậy,

có thể đưa ra cách hiểu Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo
hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền
của mình. Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ
chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó vì vậy chúng mang tính chất
riêng biệt và được coi là những “chính sách tư”.
Khái niệm Chính sách công còn gây ra rất nhiều tranh cãi. Có thể kể đến
một số khái niệm chính sách công khá tiêu biểu của các học giả nước ngoài
8


đó là:“Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của
một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các
mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” (William Jenkin)
[Nguồn: Bài giảng tổng quan về Chính sách công của PGS.TS Hồ Việt Hạnh] . Thomas

R. Dye lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn về chính sách công, song lại
được nhiều học giả tán thành. Theo ông: “Chính sách công là cái mà chính
phủ lựa chọn làm hay không làm” Định nghĩa này của Thomas R. Dye không
bàn luận về “mục tiêu” hay “mục đích” của chính sách, đồng thời định nghĩa
của Dye cũng thừa nhận rằng các chính sách phản ánh sự lựa chọn làm hay
không làm. Việc quyết định không làm cũng có thể quan trọng như việc quyết
định làm và chính sách là cái chính phủ làm hoặc không làm chứ không phải
là cái mà họ muốn làm hoặc lập kế hoạch để làm. Theo Peter Aucoin “Chính
sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành” Aucoin
cho rằng, chính sách có thể vừa là hành động riêng biệt của chính phủ vừa là

Nam: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của
Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mực tiêu và giải pháp, công cụ chính sách
nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã định'' (Đỗ Phú Hải,
2012). Như vậy, Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan
nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn
đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm
quyền. [nguồn: Từ điển Bách khoa toàn thư ]
1.1.2. Chu trình chính sách
Để nghiên cứu và thực hiện chính sách công một các hiệu quả đòi hỏi
chúng ta phải nhìn nó như một quá trình gồm nhiều giai đoạn với sự tham gia
của nhiều chủ thể cùng với các phương tiện, cơ sở vật chất, điều kiện khác nhau.
Việc xác định được chu trình của chính sách công giúp cho chúng ta xác định
được những bước đi hợp lý, xây dựng những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù
10


hợp. Đồng thời qua đó để chỉ ra những yếu kém, hạn chế trong các khâu, các
giai đoạn của chu trình chính sách công.
Hiện nay trên thế giới có nhiều cách phân chia khác nhau về chu trình
của chính sách công. Tuy nhiên, ở góc độ khái quát có thể phân ra các giai
đoạn của chu trình chính sách công như sau:
- Thứ nhất, xây dựng chính sách công đó là việc thu thập các thông tin,
căn cứ, cơ sở để xây dựng chính sách về mặt lý thuyết. Giai đoạn này bao
gồm các nhiệm vụ cụ thể: Xác định nhu cầu xã hội để lựa chọn xây dựng
chính sách công; Nghiên cứu để đưa ra các giải pháp cơ bản; Tiến hành đưa
vào nghị trình với cấp có thẩm quyền; Nghiên cứu chính thức khi đã được
chấp thuận; Thông qua và ban hành chính sách.
- Thứ hai, thực thi chính sách công, đây là giai đoạn thực hiện các mục
tiêu chính sách công trên cơ sở tiến hành các giải pháp đã xác định theo định
hướng của mục tiêu. Đây là giai đoạn chịu nhiều tác động của các yếu tố

Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn
vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ, công chức có vai trò quan trọng:
- Cán bộ, công chức hoạch định đường lối, chính sách cho cơ quan, tổ
chức hoạt động. Để làm được điều này, các cơ quan Nhà nước phải xây dựng
một hệ thống chính sách hợp lý và khoa học. Phải có cơ chế chính sách hợp
lý, khoa học sẽ làm hài lòng sẽ nhân dân, góp phần vào sự phát triển của xã
hội, Ngược lại, cơ chế chính sách không hợp lý nhân dân sẽ phản ứng và làm
giảm sự phát triển của xã hội.
- Cán bộ, công chức là những người trực tiếp tổ chức thực thi các chính
sách, kế hoạch của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hay nói cách khác,
12


CBCC là những người quyết định đến sự thành công hay thất bại của một
chính sách, kế hoạch Nhà nước.
- Cán bộ, công chức chủ thể tổ chức phối hợp các nguồn lực trong tổ
chức, bao gồm tài chính, người lao động, cơ sở vật chất và nguồn lực khác.
- Cán bộ, công chức là sự kết nối giữa cơ quan Nhà nước với nhân dân. Đó
là việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan Nhà nước với nhau. Tiếp nhận thông tin
từ xã hội, rồi tiến hành phản hồi những thông tin nhận được, giao tiếp với cơ quan,
tổ chức doanh nghiệp, công dân… đòi hỏi công chức phải có nhạy cảm nhất định
với thông tin, đặc biệt là các thông tin về sự phát triển của xã hội. Nếu thực hiện
tốt vai trò này sẽ giúp cơ quan Nhà nước nắm bắt nhanh xu hướng phát triển của
xã hội. Từ đó định ra chính sách kế hoạch trong thời kỳ đổi mới của đất nước.
1.1.4. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức
Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ
về đào tạo, bồi dưỡng công chức (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/05/2010)

CBCC như sau: Công tác ĐTBD cán bộ, công chức là công việc của các đơn
vị trong việc cung cấp, trang bị cho đội ngũ cán bộ, công chức những kiến
thức, kỹ năng, quan điểm, lập trường tư tưởng, đạo đức, bản lĩnh chính trị
vững vàng trở thành những người có năng lực, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh
chính trị vững vàng để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, và đáp ứng tốt
các yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới của đất nước.
1.2. Chính sách đào tạo và bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC là một định hướng mang tính
chính trị quan trọng của nhà nước nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của
đội ngũ CBCC. Do vậy, trên quan điểm về chính sách công nói chung và nhiệm
vụ của đào tạo, bồi dưỡng CBCC, có thể đưa ra khái niệm về chính sách ĐTBD
CBCC như sau: “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là tổng thể
những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của nhà nước với các giải
14


pháp, công cụ cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng CBCC góp phần xây dựng đội ngũ
CBCC có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước”.
Để thực hiện mục tiêu đào tạo bồi dưỡng CBCC, nhà nước dùng chính
sách làm công cụ chủ yếu để giải quyết những vấn đề công nhằm thúc đẩy
quá trình nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CBCC, phù hợp với
yêu cầu của nên công vụ nhà nước.
Trong điều kiện hiện nay, chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
công chức đóng vai trò quan trọng để nâng cao năng lực thực thi công vụ và
nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. Vì vậy đào tạo, bồi dưỡng CB, CC có
những vai trò sau:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả thực thi công vụ. Hiện nay với công nghệ
4.0 và yêu cầu nâng cao chất lượng công việc… đòi hỏi mỗi công chức phải
tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao lý luận chính trị, cập

Chính sách ĐTBD CBCC muốn thực hiện được trước tiên phải xây
dựng kế hoạch thực hiện chính sách và xác định được chính xác, cụ thể các
nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch tổ chức điều hành; phải đề ra được nguồn
lực cơ sở vật chất và tài chính cho việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC;
xây dựng cụ thể kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách và xác định
cụ thể thời gian thực hiện chính sách. Kế hoạch nếu được xây dựng một cách
chính xác và đảm bảo tính khả thi thì quá trình thực thi chính sách sẽ thuận lợi
và đạt hiệu quả cao đồng thời trong quá trình thực hiện sẽ không phải điều
chỉnh, bổ sung kế hoạch. Để xây dựng được kế hoạch thực hiện chính sách
chính xác, có tính khả thi cao đòi hỏi những CB,CC được phân công nhiệm
vụ tham mưu, xây dựng kế hoạch phải hiểu và nắm chắc mục tiêu, nội dung,
nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách ĐT,

16


BD CB,CC. Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, các nguồn
lực (nhân lực và vật lực), thời gian và các giải pháp tổ chức thực hiện.
1.3.2. Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng
cán bộ công chức
Sau khi kế hoạch được xây dựng và thông qua, phải tiến hành tổ chức
triển khai thực hiện theo kế hoạch. Đầu tiên là phổ biến, tuyên truyền thực
hiện chính sách. Đây là bước quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan Nhà
nước và các đối tượng thực thi chính sách. Việc phổ biến, tuyên truyền chính
sách sẽ giúp cho các đối tượng chính sách và người dân tham gia thực thi hiểu
rõ mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong
điều kiện hoàn cảnh nhất định; về tính khả thi của chính sách. Qua đó họ nhận
thức và tự giác sẽ thực hiện theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước.
Muốn nâng cao hiệu quả của việc tuyên truyền, phổ biến chính sách đòi hỏi
các cơ quan Nhà nước cần có sự tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật; về

Muốn chính sách này tồn tại việc duy trì được chính sách là vô cùng
quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của chính sách.
1.3.5. Điều chỉnh cách thức thực thi chính sách đào tạo bồi dưỡng cán
bộ công chức
Nếu chính sách không phù hợp với tình hình thực tế do yếu tố khách
quan hay chủ quan hoặc không phù hợp cần phải có sự điều chỉnh để có thể
áp dụng ngay trong quá trình thực hiện. Có điều chỉnh các giải pháp nhưng
phải bám sát vào mục tiêu, kế hoạch không làm thay đổi mục tiêu chính sách,
nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách này coi như thất bại. Các cơ quan, tổ
chức ban hành chính sách này là những cơ quan có thẩm quyền rà soát điều
chỉnh, bổ sung chính sách tuy nhiên cũng cần phải dựa trên bối cảnh chung và
tình hình thực tiễn để điều chỉnh.

18


Để điều chỉnh chính sách hợp lý đòi hỏi CB, CC, viên chức được phân
công thực thi chính sách phải biết, nắm được các quy định, các công cụ thực
hiện chính sách, đồng thời phải có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế,
bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách
để có cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế
chính sách, phải nâng cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp,
cơ chế chính sách, phải thực hiện đúng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách.
1.3.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách đào tạo bồi
dưỡng cán bộ công chức
Quá trình thực thi chính sách cần phải có kiểm tra, đôn đốc đây là bước
rất quan trọng. Qua kiểm tra, theo dõi đôn đốc giúp cho người quản lý biết
được chỗ được, chưa được, điểm mạnh cần phát huy và điểm yếu cần khắc
phục; phát hiện những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực thi
để điều chỉnh; tạo điều kiện phối hợp nhịp nhàng các hoạt động độc lập của

quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ công chức.
Thứ ba, dựa vào các văn bản quy định chính sách để xây dựng chiến
lược, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành, địa
phương, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành đủ về số
lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu.
Thứ tư, dựa vào văn bản quy định để kiểm tra, kiểm soát công tác đào
tạo và bồi dưỡng, chất lượng và nội dung chương trình cũng như kết quả đạt
được của công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức.
1.4.2. Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức
Nguồn tuyển dụng đầu vào là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng của đội ngũ công chức. Tuyển dụng được người học đúng ngành,
chuyên ngành sẽ làm cho việc bố trí, sử dụng công chức sẽ dễ dàng và hiệu
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status