Phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng(LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TRUNG

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VỀ THAM
NHŨNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TRUNG

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VỀ THAM
NHŨNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. CAO THỊ OANH

HÀ NỘI, NĂM 2019


LỜI CAM ĐOAN

thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 53
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CB, CC

: Cán bộ, công chức

CCHC

: Cải cách hành chính

HĐND

: Hội đồng nhân dân

PCTN

: Phòng, chống tham nhũng

UBND

: Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về tham nhũng chức vụ trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 - 2018

PCTN, được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ.
Đà Nẵng là một thành phố trực thuộc trung ương, trung tâm chính trị - kinh tế
- văn hóa - xã hội của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và sở hữu nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển kinh tế. Đối với công tác PCTN, Thành ủy và UBND thành
phố luôn quan tâm sâu sát, chỉ đạo kịp thời, thường xuyên kiểm tra giám sát việc
thực hiện chức trách, nhiệm vụ của các đơn vị, cán bộ công chức nhằm phát hiện và
xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm. Từ năm 2014 đến năm 2018, các cơ
quan chức năng của thành phố đã phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nhiều vụ án về
tham nhũng, tổng thiệt hại cho ngân sách nhà nước ước tính hơn 4.000 tỷ đồng.
Qua đó có thể thấy, hoạt động phòng ngừa tham nhũng vẫn chưa phát huy hiệu
quả cao nhất, các vụ án tham nhũng vẫn xảy ra, tài sản bị thất thoát lớn nhưng việc

1


thu hồi còn gặp nhiều khó khăn, chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số thiệt hại, làm suy
giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và chính quyền thành phố. Vậy
nguyên nhân nào làm hạn chế hiệu quả công tác phòng ngừa tình hình tội phạm về
tham nhũng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng? Cần tiến hành những giải pháp gì để
nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng? Đây là
những yêu cầu cấp thiết mà thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
tham nhũng ở địa bàn thành phố Đà Nẵng đặt ra. Nhưng hiện nay chưa có một công
trình, đề tài khoa học nào nghiên cứu vấn đề này.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Phòng ngừa tình hình tội phạm về tham
nhũng tại thành phố Đà Nẵng” làm luận văn nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội, vì thế, tham nhũng và phòng
ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng đã được nhiều nhà khoa học xã hội lựa chọn
làm đối tượng nghiên cứu trong các đề án, dự án, công trình, nhiệm vụ khoa học ở
các cấp độ khác nhau, như:

+ Nguyễn Văn Giang (2018), “Nhận diện tham nhũng trong công tác cán bộ”,
Tạp chí Cộng sản, số 911, tr. 23-26;
+ Nguyễn Thanh Hải (2018), “Một số vấn đề cơ bản về kiểm soát tài sản thu
nhập trong PCTN”, Tạp chí Nội chính, số chuyên đề tháng 9-2018, tr. 4-9;
+ Vũ Ngọc Lân (2018), “Một số bài học kinh nghiệm trong PCTN ở nước ta
hiện nay”, Tạp chí Nội chính, số 57, tr. 17-21;
+ Phan Đình Trạc (2017), “Đấu tranh PCTN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
XII của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 892, tr. 17-22.
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về tham nhũng và PCTN có liên
quan. Những công trình trên đã nghiên cứu, làm rõ lý luận và các giải pháp PCTN
dưới nhiều góc độ khác nhau trên cơ sở tiếp cận khác nhau. Các tác giả đã sử dụng
nhiều luận cứ, luận điểm khoa học, mang tính thuyết phục để phân tích, tổng hợp và
đánh giá về khái niệm, bản chất, hình thái cũng như rút ra các nguyên nhân, điều
kiện làm nảy sinh tham nhũng, từ đó đưa ra nhiều biện pháp hợp lý, có tính khả thi
để áp dụng nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng.
Kế thừa những kết quả nghiên cứu mang tính tổng quát từ các công trình trên,
luận văn nghiên cứu cụ thể vào tình hình tội phạm về tham nhũng và công tác

3


phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng ở thành phố Đà Nẵng, đây là nội
dung chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu từ trước đến nay
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của tình hình tội phạm về tham
nhũng và công tác đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm tham nhũng ở thành
phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất các giải pháp tăng cường công tác phòng ngừa tình
hình tội phạm về tham nhũng ở thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, nghiên cứu, phân tích và tổng
hợp các tài liệu có liên quan gồm các văn bản pháp lý, các công trình nghiên cứu lý
luận và các tài liệu khác có liên quan đến tham nhũng và công tác phòng ngừa tham
nhũng.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Thông qua các báo cáo chuyên
đề, báo cáo tổng kết về hoạt động đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm về
tham nhũng ở thành phố Đà Nẵng để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh: Thu thập, hệ thống, phân tích, so
sánh, đánh giá, tổng hợp các tài liệu, số liệu phản ánh tình hình tội phạm về tham
nhũng ở thành phố Đà Nẵng.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Tập trung nghiên cứu một số vụ án tham
nhũng điển hình và một số hồ sơ về hoạt động phòng ngừa do các cơ quan chức
năng ở thành phố Đà Nẵng tiến hành.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học góp phần làm phong phú
thêm lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng, là tài liệu tham khảo
hữu ích cho các độc giả trong các cơ sở đào tạo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cũng như các cán bộ đang trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm về tham nhũng xây dựng các kế hoạch, giải pháp đấu tranh có hiệu
quả đối với tình hình tội phạm về tham nhũng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói

5


riêng và cả nước nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm về tham

- Hành vi ăn cắp, tham ô và chiếm đoạt tài sản của nhà nước mà chủ thể của
hành vi đó là những người có chức có quyền;
- Lạm dụng chức quyền để trục lợi bất hợp pháp thông qua việc sử dụng các
qui chế chính thức một cách không chính thức;
- Mâu thuẫn không cân đối giữa lợi ích chính đáng do thực hiện nghĩa vụ xã
hội với những món lợi tư riêng.
Ở nước ta, khái niệm tham nhũng cũng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ

7


khác nhau. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “tham nhũng là hành vi của những
người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, tham ô,
nhận hối lộ, hoặc cố ý làm trái chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế - tài chính vì
động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của các cơ quan nhà nước và tổ chức chính
trị, xã hội”. [52, tr.312]
Dưới góc độ khoa học pháp lý, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ,
quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái
pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản nhà nước, tập thể và cá nhân,
xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức [60, tr. 1].
Theo qui định tại khoản 2, điều 1 Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm
2007, 2012, 2018) (sau đây gọi tắt là Luật PCTN năm 2005), khái niệm tham nhũng
được hiểu “là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ , quyền
hạn đó vì vụ lợi”. Trong đó, những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham
nhũng: Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài
sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền
hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; Giả mạo trong công tác vì vụ lợi;
Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải
quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; Lợi dụng

trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [29,
tr.160].
Tóm lại, qua các nghiên cứu trên, dưới góc độ tội phạm học, có thể diễn đạt
như sau: Phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng là hoạt động của tất cả các
cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của mọi công dân áp dụng tổng hợp và
đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng đến từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới
loại bỏ tình hình tội phạm về tham nhũng ra khỏi đời sống xã hội.
1.1.2. Mục tiêu, ý nghĩa, nguyên tắc của phòng ngừa tình hình tội phạm về
tham nhũng
1.1.2.1. Mục tiêu
Mục tiêu của công tác PCTN, lãng phí được nêu trong Nghị quyết Trung ương
3 khóa X là: “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển
biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin

9


của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ CB,CC kỷ
cương, liêm chính”.
Chiến lược PCTN đến năm 2020 cũng xác định mục tiêu chung và năm nhóm
mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu chung:
Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, loại bỏ dần các cơ hội, điều kiện
phát sinh tham nhũng, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh,
hoạt động hiệu quả; đội ngũ CB,CC liêm chính; lành mạnh hóa các quan hệ xã hội
thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý
tham nhũng; củng cố lòng tin của nhân dân và cộng đồng quốc tế, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Ngăn chặn, làm triệt tiêu các điều kiện và cơ hội phát sinh tham nhũng trong
việc hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật, nhất là trong quá trình

nhũng vẫn là “quốc nạn” của đất nước, nguy đe doạ tồn vong chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam. Nghị quyết số 14 ngày 15/5/1996 của Bộ chính trị về đấu tranh
chống tham nhũng nhận định: Tình trạng tham nhũng gây hậu nghiêm trọng, làm
xói mòn chất Đảng, Nhà nước, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiếp tay cho
lực thù địch lợi dụng chống phá ta, uy hiếp tồn vong chế độ. Trong chiến lược quốc
gia PCTN đến năm 2020, Chính phủ nhận định: “Tham nhũng trở thành vật cản lớn
cho thành công công đổi mới, cho sức chiến đấu Đảng, đe dọa tồn vong chế độ” [5,
tr.80].
Theo ước tính của WB, tham nhũng năm gây thiệt hại cho kinh tế giới lên tới
hàng tỷ đô la Mỹ. Ở Việt Nam, thời gian qua, nhiều vụ tham nhũng nghiêm trọng bị
phát hiện, xử lý như vụ PMU 18, vụ công ty cho thuê tài chính II, vụ Trịnh Xuân
Thanh tại Tổng Công ty Dầu khí... Thiệt hại kinh tế do tội phạm về tham nhũng gây
ra rất lớn. Tham nhũng khiến nguồn lực của đất nước bị suy giảm, tăng cao nguy cơ
tụt hậu so với khu vực và thế giới. Ngoài ra, tham nhũng làm cho chênh lệch tài sản,
phân hoá giàu nghèo xã hội ngày tăng, tiềm ẩn nguy cơ gây mâu thuẫn, bất ổn xã
hội. Vì vậy, để phát triển kinh tế vững chắc và nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần
cho nhân dân thì thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng ngừa đấu tranh mạnh
mẽ với tham nhũng là việc làm hết sức cần thiết.

11


1.1.2.3. Các nguyên tắc
- Nguyên tắc pháp chế
Hoạt động phòng ngừa tội phạm về tham nhũng phải tuân thủ các quy định
của pháp luật, tức là các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm
pháp luật khác có liên quan đến hoạt động phòng ngừa tham nhũng. Tuân thủ
nguyên tắc pháp chế là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất khi phòng ngừa tội
phạm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người có liên quan. Để
nguyên tắc pháp chế được tuân thủ thì yêu cầu đầu tiên là các quy định của pháp

tội phạm, phải có tính đồng bộ, hệ thống, phù hợp với tiến trình phát triển của xã
hội và xu hướng hoạt động phòng ngừa trên thế giới. Việc đưa ra biện pháp phòng
ngừa tội phạm tham nhũng không thể bột phát, thiếu luận cứ khoa học, mà phải dựa
vào kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá về tình hình tội phạm, nguyên nhân của
tội phạm trong thời gian ổn định, đồng thời kết hợp sử dụng thành tựu của khoa
học, kỹ thuật trong phòng ngừa tội phạm.
- Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể phòng ngừa
Phòng ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về tham nhũng nói riêng là
hoạt động cần được tiến hành một cách có hệ thống, đồng bộ từ trung ương đến địa
phương. Để đạt được điều này,nguyên tắc đặt ra đòi hỏi phải có sự phối, kết hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức và công dân, không để xảy ra tình
trạng đùn đẩy, chồng chéo trách nhiệm. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền cần
nêu cao tinh thần giáo dục quần chúng nhân dân ý thức nâng cao cảnh giác trong
phòng ngừa tội phạm cũng như trong phát hiện, tố giác tội phạm.
1.2. Chủ thể, nội dung, biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm về tham
nhũng
1.2.1. Chủ thể tiến hành phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng
1.2.1.1. Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc [Điều lệ
Đảng]. Với vai trò to lớn ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn rất coi trọng công tác
PCTN. Với diễn biến tình hình hiện nay, Đảng ta thường xuyên tăng cường công
tác lãnh đạo, xây dựng và đề ra các chủ trương, đường lối được phổ biến sâu rộng

13


và quán triệt thực hiện trong từng tổ chức cơ sở đảng nhằm PCTN có hiệu quả như:
Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với


trong công tác quản lý, những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí để đưa ra
biện pháp ngăn chặn và khắc phục kịp thời.
1.2.1.4. Các cơ quan tư pháp
Điều 4 Luật Công an nhân dân năm 2014 nêu rõ cơ quan Công an là lực lượng
nòng cốt, xung kích trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Trong đó,
hoạt động điều tra xử lý tội phạm về tham nhũng và hoạt động phòng ngừa tội phạm
về tham nhũng là hai bộ phận luôn luôn gắn liền, có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Trên cơ sở quy định tại Điều 2, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014,
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm soát các hoạt
động tư pháp, có vai trò trực tiếp trong việc kiểm soát hoạt động điều tra, thực hiện
quyền công tố trong các phiên tòa xét xử về các tội về tham nhũng. Ngoài ra, vai trò
trong việc phối hợp với các chủ thể khác xây dựng, triển khai các chương trình
phòng ngừa tội phạm, thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phát hiện
nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, thống kê và đưa ra kiến nghị về các biện pháp
phòng ngừa tội phạm về tham nhũng.
Tòa án nhân dân các cấp, với chức năng xét xử được quy định tại Điều 2 Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, có vai trò phòng ngừa các tội về tham nhũng thông
qua hoạt động xét xử, làm sáng tỏ vụ án, tính chất, mức độ sai phạm của người
phạm tội, mức độ tham gia của những người khác mà quyết định hình phạt đúng
người, đúng tội, đảm bảo công bằng, nghiêm minh, góp phần phòng ngừa riêng và
phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Ngoài ra, Tòa án nhân dân các cấp còn có vai
trò tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn, phối
hợp với các chủ thể khác xây dựng và triển khai các kế hoạch phòng chống tội
phạm, trong đó có các tội về tham nhũng.
1.2.1.5. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội
Điều 8 của Luật PCTN năm 2005 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên có trách nhiệm vận động nhân dân tham gia tích cực vào việc
PCTN; phát hiện, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có
hành vi tham nhũng; giám sát việc thực hiện pháp luật về PCTN. Điều 85 Luật

và đem lại hiệu quả cao, có khả năng xóa bỏ tận gốc tội phạm, do đó cần được ưu tiên
nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn.

16


1.2.2.2. Phát hiện, xử lý tội phạm
Trọng tâm của hoạt động này là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử người phạm
tội về tham nhũng. Tác dụng phòng ngừa tội phạm phát huy khi áp dụng các biện
pháp ngăn chặn, tiến hành đúng các thủ tục tố tụng và đặc biệt là hiệu quả răn đe
phòng ngừa riêng, phòng ngừa chung từ việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình
sự. Sự tổn thất mà người phạm tội phải chịu đựng từ một hình phạt nghiêm khắc hơn
so với những gì có được từ việc phạm tội có thể đạt được sự kiểm soát tội phạm.
Hình phạt ở mức hợp lý có vai trò quan trọng nhất đối với phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt không phải là biện pháp xử lý duy nhất đối với tội phạm, hơn nữa hiệu quả
của nó còn phụ thuộc vào quá trình cải tạo người phạm tội.
1.2.3. Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng
1.2.3.1. Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị
Luật PCTN năm 2005 quy định công khai minh, bạch trở thành một nguyên
tắc chung cho hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị. Điều 11, Luật này quy
định: Công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng, dân chủ là yêu cầu bắt buộc khi
thực hiện các chính sách, pháp luật. Trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những
nội dung khác của Chính phủ, các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt
động của mình.
Các hình thức công khai bao gồm: thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ
chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ
quan, tổ chức, đơn vị; công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; phát hành
ấn phẩm; cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thông báo
trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa lên trang thông tin điện tử.
Để bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện, Luật PCTN

Nhằm bảo đảm cho việc ban hành, chấp hành đúng pháp luật, Luật PCTN năm
2005 đã đưa ra các quy định từ việc xây dựng, thực hiện cũng như chế độ, trách
nhiệm trong trường hợp để xảy ra vi phạm.
Việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn dựa
trên những nguyên tắc được quy định tại Điều 34, Luật PCTN 2005, trong đó xác
định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước
trong việc xây dựng và ban hành các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ

18


quan, tổ chức, đơn vị mình.
Trách nhiệm kiểm tra và việc xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức,
tiêu chuẩn, nhất là việc xác định trách nhiệm của những người có liên quan đến việc
để xảy ra các sai phạm về chế độ, định mức, tiêu chuẩn:
- Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành và xử lý
kịp thời hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.
- Người có hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bị
xử lý theo quy định của pháp luật.
- Người cho phép sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bồi thường
phần giá trị mà mình cho phép sử dụng vượt quá; người sử dụng vượt chế độ, định
mức, tiêu chuẩn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được sử dụng vượt
quá.
- Người cho phép thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn - kỹ
thuật thấp hơn mức quy định phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử
dụng thấp hơn; người hưởng lợi từ việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn
chuyên môn - kỹ thuật thấp hơn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị
được hưởng lợi. (Điều 35, Luật PCTN 2005)
Về nội dung xây dựng và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn, Chiến lược


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status