VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LỆ THANH
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LỆ THANH
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. DƯƠNG ĐÌNH GIÁM
HÀ NỘI, năm 2019
3.2. Giải pháp quản lý chi NSNN tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.................62
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KBNN
: Kho bạc nhà nước
KTXH
: Kinh tế - xã hội
NSNN
: Ngân sách nhà nước
TCNN
: Tài chính nhà nước
TCKH
: Tài chính - Kế hoạch
Tình hình chi thường xuyên huyện Phú Ninh,giai đoạn
2014-2017
40
Bảng 2.4
Tình hình phân bổ dự toán chi NSNN huyện Phú Ninh
giai đoạn 2014-2017
49
Bảng 2.5
Tình hình chi ngân sách huyện Phú Ninh giai đoạn 20142017
51
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Tên sơ đồ
Trang
Sơ đồ 2.1
Phú Ninh là huyện của tỉnh Quảng Nam, được thành lập từ ngày 10 tháng 01
năm 2005. Là huyện đồng bằng, nằm ở phía đông của tỉnh Quảng Nam, nguồn thu
ngân sách của huyện chủ yếu dựa vào các hoạt động thương mại, kinh doanh trên địa
bàn. Hiện tại, huyện có những hạn chế yếu kém về quản lý thu ngân sách nhà nước
như: Công tác kế hoạch hóa nguồn thu chưa được coi trọng đúng mức; công tác xây
dựng dự toán thu ngân sách chưa có cơ sở vững chắc, đôi khi còn mang yếu tốchủ
quan, cảm tính; Tốc độ áp dụng các thành tựu công nghệ thông tin trong quản lý thuế
còn chậm; Tình trạng thất thu thuế, sót hộ, nợ đọng thuế, dây dưa, gian lận thương
mại còn phổ biến; Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp giữa
các ban ngành với ngành thuế trong quá trình quản lý thu thuế còn hạn chế; Công tác
1
cải cách hành chính trong kê khai nộp thuế, hoàn thuế, sử dụng hoá đơn tuy có một số
tiến bộ bước đầu, nhưng vẫn còn hạn chế, chưa đồng bộ, chưa tạo điều kiện thuận lợi
cho SXKD phát triển; Phương pháp quản lý thu hiệu quả còn thấp;
Trong khi đó, nhu cầu chi tiêu hoạt động của bộ máy chính quyền phải đáp
ứng kịp thời, chi tiêu hiệu quả. Do đó, việc quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
các khoản chi NSNN, đảm bảo đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu chi tiêu của các
cấp chính quyền địa phương, tăng cường chi đầu tư phát triển và các khoản chi đột
xuất, khắc phục và giảm thiểu tối đa các hạn chế trong quản lý chi NSNN là yêu cầu
và đòi hỏi tất yếu đối với cơ quan quản lý và sử dụng NSNN trên địa bàn huyện Phú
Ninh. Đó là lý do tôi chọn nội dung “Quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại huyện
Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân
sách cấp huyện trên địa huyện Phú Ninh trong thời gian đến.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
quy định về quản lý thu chi Ngân sách của các Bộ...;
- Các quy định quản lý thu chi NSNN của huyện và các báo cáo, đánh giá về
tình hình thu chi ngân sách nhà nước tại huyện Phú Ninh trong thời gian vừa qua.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn. Tuy
nhiên, nó được sử dụng chủ yếu trong chương 1 và đặc biệt trong chương 2 để có
những đánh giá sát thực nhất về thực trạng quản lý chi NSNN tại huyện Phú Ninh.
5.2.2. Phương pháp lịch sử và logic
Hai phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu (Chương 2) để phân
tích các nội dung quản lý điều hành cụ thể của Huyện, một huyện mới được thành
lập, còn rất nhiều khó khăn, trong tình hình đội ngũ công chức, viên chức chung của
tình và của Huyện, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Phương pháp này cũng được sử dụng trong chương 3 khi đề xuất các giải
pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách trên địa bàn phù hợp với những
nhận định đánh giá trong Chương 2.
3
5.2.3. Phương pháp thống kê mô tả, so sánh
Phương pháp thống kê mô tả, so sánh sử dụng phổ biến trong Chương 2 để
mô tả sự thay đổi về tình hình chi ngân sách trên địa bàn; đồng thời rà soát hệ
thống, cơ chế, chính sách, quy định (của cả trung ương và địa phương) tác động đến
việc quản lý chi ngân sách trên địa bàn cấp huyện.
Phương pháp đối chiếu,so sánh dùng để đánh giá thực trạng khó khăn, thuận
lợi; từ đó đưa ra các giải pháp quản lý chi ngân sách nhà nước tại huyện Phú Ninh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
xuyên NSNN.
Đối với chi XDCB, giáo trình đưa các nguyên tắc, điều kiện quản lý cấp phát
vốn đầu tư XDCB và công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB hằng năm.
Trong nội dung về công tác quản lý chi khác của NSNN, giáo trình đề cập
đến các khoản chi khác như chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới; chi bổ sung quỹ
dự trữ tài chính; chi viện trợ và cho vay.
Bên cạnh đó, giáo trình cũng đưa ra các yêu cầu, nguyên tắc, trình tự kiểm
soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư và các khoản chi khác qua
hệ thống KBNN.NSNN, các vấn đề cấp phát thanh toán chi NSNN của KBNN.
- Vũ Văn Hóa, Lê Văn Hưng (2009), “Giáo trình tài chính công”, Trường
Đại học Kinh doanh và Công nghệ, Hà Nội.
Giáo trình trình bày những vấn đề lý luận về sự hình thành và phát triển,
chức năng và vai trò của tài chính công. Những vấn đề cơ bản về NSNN, hệ thống
NSNN, phân cấp NSNN; thu, chi NSNN; cân đối NSNN; quản lý quỹ NSNN qua
KBNN. Đưa ra các nghiệp vụ tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp; các
nội dung thu, chi và quyết toán thu - chi tài chính đối với các đơn vị hành chính sự
nghiệp; quản lý quỹ lương và tài sản trong đơn vị hành chính sự nghiệp. Các nội
dung về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí quản lý hành
chính của cơ quan nhà nước; vai trò, trách nhiệm của chủ tài khoản và kế toán
trưởng trong cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập. Giới thiệu những
vấn đề chung về các quỹ tài chính công ngoài NSNN: Quỹ dự trữ quốc gia, Quỹ
BHXH, Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam... Vai trò, nội dung hoạt động của tín
dụng nhà nước; quản lý nợ vay trong nước và nợ vay nước ngoài của quốc gia.
- Phạm Văn Khoan, Nguyễn Trọng Thản (2010), “Giáo trình quản lý tài
chính các cơ quan quản lý và đơn vị sự nghiệp công”. Học viện Tài chính, Hà Hội.
5
Giáo trình nêu lên những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính tại các cơ
6
sách mới 2011-2015 là phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi phải phù hợp với phân
cấp KT-XH ở địa phương. Ngân sách cấp trên phải giữ vai trò chủ đạo, chi phối,
điều hòa ngân sách cấp dưới phát huy được tính chủ động, sáng tạo. Bên cạnh đó,
tác giả còn đưa ra một số giải pháp hỗ trợ, như: Tập trung tháo gỡ cho sản phẩm
kinh doanh; Huy động tối đa nguồn lực cho đầu tư phát triển; Tăng cường hơn nữa
công tác quản lý điều hành và sử dụng nguồn vốn NSNN, đẩy mạnh công tác cải
cách hành chính và nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước.
- Tạ Xuân Quang (2011), “Hoàn thiên công tác quản lý ngân sách tỉnh
Quảng Nam”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng.
Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu trên cơ sở phân tích tình hình quản lý
ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2007-2010. Qua đó đề xuất các giải
pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Quảng Nam trong thời
gian đến. Qua đánh giá thực trạng quản lý ngân sách tỉnh Quảng Nam, bên cạnh
những kết quả đạt được còn bộc lộ những hạn chế, như: phân định nguồn thu,
nhiệm vụ chi chưa rõ ràng, cụ thể; bộ máy quản lý tài chính ngân sách xã còn thiếu
và yếu; quản lý điều hành ngân sách xã chưa theo một quy định thống nhất; chưa có
công cụ đo lường, đánh giá hoạt động của đơn vị, ảnh hưởng của chất lượng đầu ra.
Từ những khó khăn, tồn tại, tác giả đã đưa ra một loạt các giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác quản lý ngân sách tại tỉnh Quảng Nam, như tập trung vào hoàn thiện
công tác lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán, công tác thanh tra, kiểm tra,
hoàn thiện cơ chế quản lý, điều hành ngân sách.
- Đặng Văn Thanh (2015), “Phân cấp quản lý tài chínhnhà nước và NSNN thực trạng và giải pháp hoàn thiện”. Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán.
Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả đạt được về phân cấp tài chính - ngân sách.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó thì đến nay, quá trình đổi mới phân cấp tài
chính - ngân sách vẫn còn nhiều hạn chế, bất hợp lý, cụ thể: (1) Phân cấp nhưng
chưa đảm bảo quản lý thống nhất, còn biểu hiện phân tán. (2) Chưa phân định rõ
ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền trách nhiệm của mỗi cấp trong ban hành chế độ
cấp chính quyền địa phương còn chưa tương xứng. (4) Bổ sung cân đối và phân bổ
có mục tiêu chưa thu hẹp được bất bình đẳng giữa các địa phương. (5) Bất cập trong
phân cấp vay nợ đối với chính quyền địa phương.
Từ những tồn tại, hạn chế nêu trên, bài viết đã đưa ra một số gợi ý chính sách
đối với phân cấp nhiệm vụ chi, phân cấp nguồn thu, về chuyển giao ngân sách giữa
trung ương và địa phương, về vay nợ của chính quyền địa phương.
8
- Thị Thúy (2015), “Quản lý chi thường xuyên ngân sách tại quân Nam Từ
Liêm, thành phố Hà Nội”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Luận văn nêu lên những vấn đề cơ bản về quản lý chi thường xuyên ngân
sách quận, huyện; sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện công tác quản lý chi
thường xuyên ngân sách quận, huyện; thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên
tại quận Nam Từ Liêm: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chi
thường xuyên, bộ máy quản lý chi thường xuyên; thực trạng thu, chi, lập dự toán,
chấp hành dự toán, kiểm toán, quyết toán, thanh tra, kiểm tra công tác quản lý chi
thường xuyên tại quận Nam Từ Liêm. Từ thực trạng trên, tác giả đưa ra phương
hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách
cho quận Nam Từ Liêm trong thời đến.
- Lê Xuân Tuấn (2015), “Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước
qua kho bạc nhà nước trên địa bàn tỉnh Đăk Nông”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại
học Đà Nẵng.
Tác giả đã đề cập đến các nội dung về tổng quan công công tác kiểm soát chi
NSNN: tổng quan về KBNN, KBNN với công tác kiểm soát chi thường xuyên
NSNN, các nội dung của công tác quản lý chi thường xuyên NSNN qua KBNN, các
tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi thường
Chương 2: Thực trạng quản lý chi NSNN tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng
Nam giai đoạn 2014-2017.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN tại huyện Phú Ninh trong
thời gian tới.
10
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1. Những vấn đề cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ngân sách nhà nước
a. Khái niệm ngân sách nhà nước
Theo Luật NSNN năm 2002: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi Nhà nước
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước”.
Thực chất NSNN dùng để phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền
với quá trình lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước khi Nhà nước tham
gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà
nước trên cơ sở luật định. NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có
HĐND và UBND.
b. Đặc điểm của ngân sách Nhà nước
NSNN vừa là nguồn lực nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vừa là công cụ hữu
ích để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội,
NSNN có những đặc điểm chính sau:
Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính
trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.NSNN
là một bộ luật tài chính đặc biệt. Trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa
Xét trên góc độ hẹp hơn thì chi tiêu công là các khoản chi tiêu của Chính phủ
nhằm đạt nhiều mục đích khác nhau về các mặt: kinh tế, xã hội và cả mục đích
chính trị. Đối với các nhà quản lý ngân sách, chi tiêu công có thể coi là các chi tiêu
được trang trải từ ngân sách các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương.
Tóm lại, trên quan điểm của các nhà quản lý ngân sách, có thể hiểu, chi
NSNN (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu do Chính phủ hoặc các pháp
nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục đích công ích, như: thực hiện các
chính sách an sinh xã hội, bảo vệ an ninh và trật tự, trợ giúp kinh tế… hay nói cách
khác: “chi ngân sách là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên
tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”.
Chi NSNN có các đặc điểm chủ yếu sau:
12
- Chi NSNN gắn chặt với quyền lực nhà nước
- Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định
nội dung, cơ cấu, quy mô và mức độ các khoản chi NSNN. Vì vậy, các khoản chi
NSNN thường mang tính pháp lý cao.
- Các khoản chi NSNN không mang tính bồi hoàn trực tiếp. Nhờ đặc điểm
này giúp chúng ta phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng, các hoạt
động kinh doanh.
- Chi NSNN liên quan rất nhiều các chủ thể kinh tế, diễn ra liên tục trên toàn
quốc gia và chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố. Do đó, quản lý chi NSNN là công
việc khá phức tạp.
1.1.3. Chức năng của chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN có những chức năng chủ yếu sau:
a. Chức năng phân bổ nguồn lực: Nhờ vào chức năng này mà nguồn lực
NSNN thuộc quyền chi phối của Nhà nước được sắp sếp, tổ chức, phân phối một
cách có tính toán, cân nhắc theo tỉ lệ hợp lý nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế xã hội của việc sử dụng các nguồn lực đó và bảo đảm cho nền kinh tế phát triển
kinh tế quốc dân mà còn nhằm đảm bảo ổn định về chính trị, một trong những nhân
tố có vai trò quyết định đến sự thành bại của công cuộc cải cách kinh tế.
HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định nhiệm vụ chi giữa
các cấp ngân sách phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào thì do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc
ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có các
giải pháp nhằm đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân
sách từng cấp.
Việc thực hiện phân chia theo tỉ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân
chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp
dưới để đảm bảo sự công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng; địa phương. Tỷ lệ
phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên
cho ngân sách cấp dưới phải được ổn định từ 3 đến 5 năm. Số bổ sung từ ngân sách
cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới.
Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được phép sử dụng nguồn
tăng thu hằng năm mà ngân sách các địa phương được hưởng để bổ sung cho các
nhiệm vụ nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Sau mỗi thời kỳ ổn định,
14
ngân sách địa phương phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách, thực hiện
giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỉ lệ điều tiết số thu nộp về
ngân sách cấp trên.
Theo Nghị định số 60/2003/NĐ-CP vai trò và nhiệm vụ của ngân sách cấp
quận là nhằm duy trì và phát triển bộ máy nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương, chăm sóc y tế cho người dân ngày càng tốt hơn, nâng cao trình độ học
vấn, đào tạo nghề để phát triển nguồn lực chất lượng cao và xây dựng cơ sở hạ tầng
để thu hút đầu tư từ bên, ngoài giảm bớt khoảng cách giàu nghèo do nền kinh tế thị
nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý chi NSNN. Nội dung chủ yếu của nguyên
tắc này là: mọi khoản chi phải được ghi chép đầy đủ vào kế hoạch NSNN, tất cả các
khoản chi phải được vào sổ và quyết toán chính xác. Khi có kế hoạch ngân sách thì
sẽ phản ánh đúng mục đích của chính sách và đảm bảo tính minh bạch, công khai
của các khoản thu, chi.
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng
hàng đầu trong quản lý kinh tế, tài chính, bởi vì nguồn lực thì luôn có giới hạn
nhưng nhu cầu thì vô hạn. Do đó, trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực
khan hiếm đó, chúng ta luôn phải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng đạt
được kết quả cao nhất.
Bên cạnh đó, do đặc thù hoạt động chi NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa
dạng và phức tạp. Nhu cầu chi từ NSNN gia tăng với tốc độ nhanh trong khi đó khả
năng huy động nguồn thu thì có hạn, vì vậy càng cần phải tôn trọng nguyên tắc tiết
kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN.
Với nguyên tắc quản lý này, tuyệt đối nghiêm cấm các cấp chính quyền địa
phương, các tổ chức nhà nước lập và sử dụng quỹ đen. Điều này có nghĩa rằng, mọi
khoản thu chi của NSNN đều phải đưa vào kế hoạch ngân sách hàng năm để Quốc
hội phê chuẩn, nếu không thì việc phê chuẩn ngân sách của Quốc hội sẽ không có
căn cứ đầy đủ, không có giá trị.
d. Nguyên tắc hợp pháp, công khai, minh bạch: Về mặt chính sách, thu chi
NSNN là một chương trình hoạt động của Chính phủ được cụ thể hóa bằng số liệu.
NSNN phải được quản lý công khai minh bạch để mọi người dân có thể biết.
Nguyên tắc công khai của NSNN được thể hiện trong suốt chu trình NSNN và phải
được áp dụng cho tất cả các cơ quan, đơn vị tham gia vào chu trình NSNN.
e. Nguyên tắc đảm bảo cân đối ngân sách: Nguyên tắc này đòi hỏi các
16
khoản chi NSNN chỉ được phép thực hiện khi có đầy đủ các nguồn thu bù đắp.
17
mỗi cơ quan được quy định cụ thể như sau:
a. UBND huyện có nhiệm vụ
Hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc huyện và chính quyền
cấp xã lập dự toán chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý.
Tổng hợp và lập dự toán chi ngân sách cấp huyện, thông qua Thường trực
HĐND huyện xem xét trước khi báo cáo UBND tỉnh.
Căn cứ nhiệm vụ thu, chi ngân sách được UBND tỉnh giao, UBND huyện
trình HĐND huyện quyết định dự toán của ngân sách địa phương và phương án
phân bổ ngân sách cấp huyện, đồng thời báo cáo UBND tỉnh, Sở Tài chính tỉnh, Sở
Kế hoạch - Đầu tư tỉnh về dự toán ngân sách huyện và kết quả phân bổ dự toán
NSNN cấp huyện đã được HĐND huyện quyết định.
Tổ chức giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng đơn vị trực thuộc huyện;
nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung ngân sách huyện cho cấp xã trên cơ sở phương án
phân bổ ngân sách cấp huyện đã được Nghị quyết của HĐND huyện thông qua;
Lập phương án điều chỉnh dự toán NSNN cấp huyện và phương án phân bổ
dự toán thu, chi NSNN cấp huyện trình HĐND huyện quyết định theo yêu cầu của
cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trong trường hợp Nghị quyết của HĐND
huyện không phù hợp với nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao;
b. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có nhiệm vụ
Tổ chức làm việc với các đơn vị sử dụng ngân sách cấp huyện, UBND các
phương án về dự toán chi ngân sách hàng năm.
Đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng TC-KH huyện tổ
chức làm việc để thống nhất với các cơ quan, đơn vị cùng cấp về dự toán chi ngân
sách; yêu cầu bố trí lại những khoản chi trong dự toán chưa đúng tiêu chuẩn, chế
độ,cho hợp lý, tiết kiệm, phù hợp với khả năng ngân sách và định hướng phát triển
KT-XH trên địa bàn huyện. Đối với những năm tiếp theo của thời kỳ ổn định ngân
sách, Phòng TC-KH huyện chỉ tổ chức làm việc, thống nhất với đơn vị khi các đơn