VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
A VÔ TÔ PHƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU
SỐ HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
A VÔ TÔ PHƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU
SỐ HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
KTXH ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN NAM GIANG,
TỈNH QUẢNG NAM ..............................................................................................24
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, KTXH huyện Nam Giang có liên quan đến việc
thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS. ....................................24
2.2. Tình hình tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS
tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam....................................................................29
2.3. Đánh giá chung những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong việc thực hiện chính
sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam
...................................................................................................................................53
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KTXH ĐỐI VỚI VÙNG DTTS
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NAM GIANG TỈNH QUẢNG NAM .......................60
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng
DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam .........................................60
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối
với vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam ..........................61
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với
vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam ................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
S
T
B
C
C
C
C
H
16
N
T
17
S
X
18
T
T
19
U
B
Ngu
nghĩa
B
an
C
ải
C
ụ
C
ôn
C
ơ
Đ
ặc
D
ả
1T
.ổ
1G
. iá
1T
.ổ
1T
.ổ
K
1 ết
.q
5 uả
T
r
a
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển KTXH vùng dân tộc là một trong những vấn đề luôn được Đảng,
Nhà nước quan tâm, chú trọng. Điều này không chỉ nhằm chăm lo, cải thiện cuộc
sống cho đồng bào tốt hơn, mà còn hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh và hạnh phúc. Để thực hiện mục tiêu to lớn trên, trong những năm
qua, bên cạnh những chính sách phát triển chung, Đảng và Nhà nước đã có nhiều
quyết sách, chủ trương lớn về phát triển KTXH, bảo đảm an ninh - quốc phòng
vùng miền núi và đồng bào dân tộc. Cụ thể như: Chương trình phát triển KTXH các
xã ĐBKK, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc; Chính sách hỗ trợ đất sản
xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, cùng với nhiều
phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, góp
phần thực hiện chương trình MTQG về xóa đói giảm nghèo bền vững và xây dựng
NTM đạt hiệu quả. Đối với huyện Nam Giang, tỉnh quảng Nam, các số liệu so sánh
từ năm 2013 đến 2018 cho thấy: giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 62,67% xuống 44,34%; thu
nhập bình quân đầu người từ 7,14 triệu lên 9,5 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ xã có
điện từ 90,3% lên 99,7%; thôn văn hóa từ 45,6% lên 75%. Đây là cố gắng lớn của
cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã, thôn, sự đồng lòng, hưởng ứng, vào cuộc của
người dân miền núi nói chung, đồng bào DTTS nói riêng.
Tuy vậy, nhìn cách tổng quát trong toàn tỉnh và so sánh giữa vùng đồng
bằng, thành thị với miền núi thì vùng DTTS và miền núi vẫn còn rất nhiều khó
khăn; nhất là CSHT chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển chung, đời sống của
người dân còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp, tỷ lệ hộ
nghèo, cận nghèo còn quá cao…Trong đó, có nhiều nguyên nhân như điều kiện tự
nhiên khó khăn, khắc nghiệt; ý thức và trình độ phát triển của các dân tộc thấp dẫn
đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đầu tư, hỗ trợ chưa được
phát huy có hiệu quả thật sự, người dân chưa hiểu sâu, nắm kỹ để hưởng thụ một
cách có hiệu quả, còn tư tưởng ỷ lại, nền sản xuất còn lạc hậu, chất lượng lao động
thấp, đại bộ phận người dân còn sản xuất nương rẫy và trình độ dân trí thấp khó
chuyển giao và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, năng lực chỉ đạo, tổ chức
thực hiện và tri thức của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ xã, thôn chưa ngang
tầm, bên cạnh đó kết quả triển khai thực hiện cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà
nước kém hiệu quả.
Đây là những vấn đề đang đặt ra cần được nghiên cứu một cách khoa học, ở
góc độ lý luận và thực tiễn và cũng là yêu cầu khách quan đặt ra trong quá trình
2
thực hiện Quyết định số 2085/QĐ-TTg về việc phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ
phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, Nghị quyết 05NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy về phát triển KTXH miền núi gắn với định
tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc; các quan điểm cơ bản của vấn đề dân tộc
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta. Đồng thời tác
giả trình bày một cách hệ thống chính sách dân tộc của các nhà nước phong kiến,
thực dân đế quốc, tư bản và một số nước khác trên thế giới. Qua đó tác giả so sánh
để thấy được tính sáng tạo, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết
vấn đề dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và yếu kém trong việc thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước, tác giả đề ra định hướng chính sách dân tộc, đặc
biệt là chính sách trên lĩnh vực văn hóa trong thời gian tới.
Trong cuốn Thực trạng phát triển các dân tộc ở Trung bộ và một số vấn đề
đặt ra (2012) của Bùi Minh Đạo, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa. Tác giả trên cơ
sở khảo sát thực địa từ năm 2007 - 2010 tại các tỉnh Trung Bộ làm sáng tỏ thực
trạng phát triển các dân tộc của vùng, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần phát
triển bền vũng các dân tộc Trung bộ.
Ngoài ra dưới góc độ là các công trình nghiên cứu cụ thể về thực hiện chính
sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số có thể kể đến các công trình như:
- Luận văn “Thực hiện chính sách dân tộc ở vùng núi phía Bắc nước ta trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2003) - Luận văn tốt nghiệp
lớp cao cấp lý luận chính trị của Bế Thu Hương.
- Luận án “Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2006) - Luận án Tiến sĩ Triết học của
Nguyễn Thị Phương Thủy.
- Luận án “Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt
Nam” (2014) - Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Lâm Thành.
Phần lớn các công trình tập trung phân tích thực trạng của việc ban hành và
thực hiện chính sách dân tộc, các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường cụ thể ở vùng
dân tộc. Từ đó đề ra giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện
chính sách dân tộc trong thời gian tới. Có thể nhận định rằng, các nghiên cứu này
luật của Nhà nước đối với phát triển KTXH miền núi, vùng DTTS. Qua đó xác định
mục tiêu, định hướng và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác thực
hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh
Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách phát
triển KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, bao gồm các chương
5
trình mục tiêu của Chính phủ về phát triển KTXH miền núi; Quyết định số
2085/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng
DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020; Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 17/8/2016 của
Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển KTXH miền núi gắn với định hướng thực hiện
một số dự án lớn vùng tây giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025; Nghị
quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/04/2017 về phát triển KTXH miền núi tỉnh
Quảng Nam giai đoạn 2017-2020
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, chú trọng các vấn đề liên quan đến công tác thực hiện chính
sách phát triển KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam; bao gồm
các nội dung cơ bản:
- Thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
- Thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS
- Thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM
- Thực hiện chính sách về sắp xếp, bố trí dân cư gắn với xây dựng NTM
- Thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ nghèo, hộ đồng bào
DTTS
Về thời gian: Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách phát triển KTXH
tỉnh Quảng Nam nói chung; qua đó đánh giá thực tiễn việc thực hiện chính sách
phát triển KTXH tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.
Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết thực
hiện chính sách công là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá
trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước thành hiện thực. Tổ chức thực hiện chính sách
phát triển KTXH là trung tâm kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một
hệ thống. Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng
thực hiện đúng chính sách đóng vai trò quyết định, từ đó góp phần hoàn thiện việc
thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS tại huyện Nam Giang, tỉnh
Quảng Nam
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nhiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong nhiên cứu, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện công tác phát triển
KTXH tại huyện Nam Giang nói riêng và các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam
nói chung.
Kết quả nghiên cứu đưa ra các giải pháp thực hiện phù hợp hơn, việc thực
hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS đem lại hiệu quả thiết thực, giúp các
cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện và UBND các xã, thị trấn thực hiện tốt chức năng
hành pháp của mình để các chính sách của Nhà nước đã ban hành được thực hiện
hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp phát triển KTXH ở địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, danh mục tài liệu tham
khảo; bố cục luận văn theo 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với
vùng DTTS .
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng
DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất.
- Xây dựng và nhân rộng mô hình tạo việc làm công thông qua thực hiện đầu
tư các công trình hạ tầng quy mô nhỏ ở thôn, bản để tăng thu nhập cho người dân;
mô hình sản xuất nông, lâm kết hợp, tạo việc làm cho người nghèo gắn với trồng và
bảo vệ rừng; mô hình giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hoá, y
tế… nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các
điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào;
- Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn
chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc.
Trên quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách phát triển
KTXH của Nhà nước. Có thể nói mục tiêu trọng tâm phát triển KTXH vùng DTTS
trong giai đoạn hiện nay là:
- Tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS và miền
núi, tạo việc làm, phát triển sản xuất tăng thu nhập. Bảo đảm những điều kiện sống
cơ bản về lương thực, nhà ở, nước sinh hoạt, học hành và chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân
- Đảm bảo an sinh xã hội; nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực,
xây dựng vùng DTTS và miền núi có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hoàn thiện, đáp ứng
yêu cầu phát triển KTXH, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý, tổ chức các
hình thức sản xuất phù hợp, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
đẩy mạnh việc dạy nghề và giải quyết việc làm, định canh, định cư
- Sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai và lao động, tập trung nguồn lực đầu
tư cho hạ tầng kỹ thuật, khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên gắn với bảo vệ
môi trường sinh thái
- Quản lý phát triển rừng, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; Tích cực
giao đất, giao rừng cho hộ đồng bào DTTS nghèo thiếu đất ở, đất sản xuất; thu hẹp
dần khoảng cách với các vùng đồng bằng, góp phần giảm nghèo bền vững, hạn chế
dân tộc Mường, dân tộc HMông, dân tộc Dao, dân tộc Ê đê, dân tộc Khmer, dân tộc
Cơ Tu, dân tộc Tà Riềng, dân tộc Ve…Với nghĩa hẹp, dân tộc - tộc người sẽ là một
bộ phận của dân tộc - quốc gia.
Như vậy nội hàm khái niệm về dân tộc cần được hiểu theo hai nghĩa, dân tộc
là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cư dân của một quốc gia.
Thực chất hai vấn đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết hữu cơ với
nhau. Khi nói đến dân tộc Việt Nam không thể không nói đến 54 dân tộc đang sinh
sống ở nước ta hoặc ngược lại, khi nói đến các dân tộc ở Việt Nam, không thể
không nói đến cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong phạm vi nhiên cứu của luận văn,
khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là tộc người hay còn gọi là DTTS.
Thứ hai, Khái niệm về Dân tộc thiểu số và Vùng Dân tộc thiểu số.
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 về Công
tác Dân tộc, đã xác định khái niệm về DTTS, vùng DTTS như sau:
“Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên
phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Dân tộc đa số là
dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số
quốc gia”.
Như vậy, Khái niệm Dân tộc thiểu số là thể hiện trong mối tương quan về số
lượng dân số giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia. Nếu như dân tộc đa số là
dân tộc chiếm số lượng đông nhất, trên 50% dân số trong một quốc gia thì ngược
lại, DTTS là các dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc đông nhất, tức là các
dân tộc còn lại. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc anh em.
Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 86% dân số, được gọi là dân tộc đa số. 53 dân tộc
còn lại chiếm 14% dân số, được gọi là các DTTS, cư trú chủ yếu tập trung ở những
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
Khái niệm vùng dân tộc thiểu số. “Vùng Dân tộc thiểu số là địa bàn có đông
các Dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đồng thời, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP
giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng
mục tiêu tổng thể của xã hội.
Thứ năm, Khái niệm chính sách phát triển KTXH vùng DTTS .
Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu nội hàm của chính sách phát triển
KTXH vùng DTTS là một trong hệ thống các chính sách của Nhà nước ta, nhằm
phát triển KTXH, bảo đảm an ninh quốc phòng, giải quyết những vấn đề phát triển
của vùng DTTS , giải quyết vấn đề đặt ra đối với các cư dân sinh sống ở đó, bao
gồm cả người Dân tộc và người Kinh, vừa giải quyết vấn đề dân tộc, nhất là quan hệ
dân tộc thông qua công tác dân tộc và CSDT, là những vấn đề mà chính sách chung
quốc gia chưa tiếp cận giải quyết được.
Như vậy, xét trên khía cạnh mục tiêu chính sách. Chính sách phát triển
KTXH vùng DTTS là chính sách công do Nhà nước ban hành, bao gồm thực hiện
tổng hợp những chính sách hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện cả về kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội cho khu vực mang tính đặc thù là vùng có đông đồng bào
DTTS sinh sống cùng dân tộc đa số, thường gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội khó khăn và ĐBKK.
Trên cơ sở lý luận về các khái niệm, mục tiêu liên quan đến việc thực hiện
chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS. Có thể rút ra đặc điểm của việc
thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS, như sau:
Một là, Thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS ở nước
ta là quá trình đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc chính
quyền địa phương các cấp ban hành các văn bản, chương trình, kế hoạch, Nghị
quyết thực hiện chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu
chính sách của Nhà nước đã ban hành.
Hai là, Thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS ở nước ta
là một trong những giai đoạn quan trọng của chu trình chính sách công. Chất lượng,
hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực quản lý
điều hành của chính quyền địa phương các cấp, đội ngũ cán bộ công chức, viên
thông qua quá trình thực hiện, bởi thực hiện chính sách bao gồm các hoạt động có
tổ chức được chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan liên quan và các đối tác
xã hội hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích đã xác định trong chính sách.
Trong quá trình thực thi, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thiết lập các văn
bản, hoặc chương trình, kế hoạch, xây dựng dự án để hiện thực hóa các mục tiêu và
mục đích chính sách và tiến hành các hoạt động để thực hiện các văn bản, chương
trình, dự án đó.
Thứ hai, Thực hiện chính sách giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện
hơn. Thông qua thực hiện chính sách, chính quyền địa phương các cấp thực hiện
đưa ra những đề xuất điều chỉnh kế hoạch, phương pháp thực hiện chính sách cho
phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội đối với từng vùng DTTS và rút ra những bài
học kinh nghiệm và đề xuất cấp có thẩm quyền xây dựng, ban hành chính sách tốt
hơn trong tương lai.
Thứ ba, Chính sách phát triển KTXH vùng DTTS định hướng cho phát triển,
dẫn dắt hoạt động của các chủ thể trong vùng DTTS theo mục tiêu đã định. Vai trò
này của chính sách cực kỳ quan trọng, nó giúp cho sự phát triển kinh tế - chính trị xã hội của vùng DTTS bảo đảm tính thống nhất, xuyên suốt trong nội bộ vùng và
trong sự cân đối, thống nhất với sự phát triển của quốc gia. Thể hiện trong các nội
dung:
- Chính sách vừa là công cụ, vừa là đòn bẩy, kích thích và tạo động lực mạnh
mẽ cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng DTTS. Đặc biệt là những chính
sách gắn liền với lợi ích kinh tế, chính trị, nguyện vọng xã hội, nguyện vọng của
người dân, của vùng và cả nước.
- Vai trò điều tiết của chính sách hỗ trợ cho định hướng và kích thích của
chính sách, tức là khuyến khích những vấn đề mà Chính phủ ưu tiên, hạn chế những
nội dung không ưu tiên và điều tiết lợi ích giữa các nhóm, khu vực trong vùng và
trong toàn xã hội. Vai trò điều tiết của chính sách, đặc biệt trong phân phối lợi ích
thể hiện rõ bản chất của thể chế chính trị nhà nước, quan điểm ưu tiên phát triển đối
với vùng DTTS.
yêu cầu quản lý của nhà nước. Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có
trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách công nhận thức được đầy đủ tính chất,
trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm
các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực
hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách đã ban hành.
1.3.2. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
Sau khi chính sách được Nhà nước ban hành, chính quyền địa phương các
cấp phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện. Kế hoạch triển khai thực hiện
chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Kế hoạch về tổ chức, điều hành;
- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực, ngân sách;
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện;
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách;
- Xây dựng nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; phân công trách nhiệm,
nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia: tổ
chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể
trong tổ chức thực hiện chính sách
1.3.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách.
Muốn tổ chức thực hiện chính sách công có hiệu quả phải tiến hành phân
công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương,
các yếu tố tham gia thực hiện chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện
mục tiêu chính sách.
Hoạt động phân công, phối hợp cần được thực hiện theo lộ trình, có kế hoạch
cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách phát
triển KTXH ở địa phương.
1.3.4. Duy trì chính sách.
Đây là những hoạt động nhằm bảo đảm cho chính sách tồn tại được và phát
huy tác dụng trong môi trường thực tế. Muốn vậy phải có sự đồng tâm, hợp lực của
chính quyền địa phương các cấp và các cơ quan liên quan.
Nếu việc thực hiện chính sách gặp phải những khó khăn, vướng mắc thì các