CÁC yếu tố TIÊN LƯỢNG và kết QUẢ điều TRỊ vị PHẪU vỡ PHÌNH ĐỘNG MẠCH não - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
*****************

NGUYỄN HOÀNG SƠN

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ
ĐIỀU TRỊ VỊ PHẪU VỠ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
*****************

NGUYỄN HOÀNG SƠN

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ
ĐIỀU TRỊ VỊ PHẪU VỠ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO
Chuyên ngành: Ngoại khoa
Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ

MPR
Tái tạo đa mặt phẳng
PĐMN
Phình động mạch não
RSN
(Rate of sac and neck) : tỉ lệ túi/cổ
TOF
(Time of flight): Hiệu ứng thời gian bay
VRT
Tái tạo 3D (Volume rendering technics)
VXKL
Vòng xoắn kim loại (coils)
WFNS
Word Federation of Neuro-Surgery
Hội phẫu thuật thần kinh thế giới


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................3
1.1. Lịch sử nghiên cứu..................................................................................3
1.1.1. Trên thế giới.....................................................................................3
1.1.2. Tại Việt Nam....................................................................................4
1.2. Giải phẫu mạch cấp máu cho não...........................................................6
1.2.1. Hệ động mạch cảnh trong.................................................................6
1.2.2. Hệ động mạch đốt sống thân nền.....................................................8
1.3. Phân loại và đặc điểm của phình động mạch não...................................8
1.3.1. Phình động mạch não dạng hình túi.................................................8
1.3.2. Phình động mạch não dạng hình thoi.............................................10

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................40
3.1. Các yếu tố tiên lượng phình động mạch não vỡ...................................40
3.2. Kết quả điều trị phẫu thuật phình động mạch.......................................41
CHƯƠNG 4....................................................................................................42
DỰ KIẾN BÀN LUẬN..................................................................................42
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..................................................................................43
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1:

Phân loại theo Hunt-Hess và WFNS...........................................12

Bảng 1.2:

Thang phân loại CMDN trên CLVT theo Fisher........................17

Bảng 1.3:

Phân độ XHDMN theo thang phân độ Fisher.............................28

Bảng 2.1:

Phân độ kết quả theo thang điểm GOS.......................................34

Bảng 3.1.

Tỷ lệ hút thuốc lá.........................................................................40


Hình 1.3:

Hình tràn dịch não thất và co thắt mạch......................................14

Hình 1.4:

Nhồi máu não do co thắt mạch....................................................15

Hình 1.5:

Hình vôi hóa PĐMN và phù não.................................................18

Hình 1.6:

Hình PĐMN trên ảnh MDCTA 64 và DSA.................................19

Hình 1.7:

Hình chảy máu dưới nhện và phình động mạch não trên CHT.. .21

Hình 1.8:

Theo dõi PĐMN sau nút mạch trên CHT và DSA.....................23

Hình 1.9:

Ảnh phình động mạch não trên chụp mạch DSA........................25

Hình 1.10: Siêu âm Doppler xuyên sọ trên bệnh nhân chảy máu dưới nhện có

quanh. Phình động mạch não vỡ rất nguy hiểm vì có khoảng 15% các trường
hợp chảy máu dưới nhện tử vong trước khi đến bệnh viện, và khoảng 20%
trường hợp có chảy máu tái phát trong vòng hai tuần đầu. Hậu quả của chảy
máu dưới nhện để lại di chứng tử vong và tàn tật cao chiếm 43%.
Gần đây, với tiến bộ của phương pháp chẩn đoán hình ảnh thì chụp
mạch hóa xóa nền (DSA) tái tạo ba chiều vẫn là phương pháp chuẩn để chẩn
đoán và định hướng điều trị, tuy nhiên chụp mạch cắt lớp vi tính đa dãy và
chụp mạch cộng hưởng từ với từ lực cao là phương pháp không xâm phạm,
thực hiện nhanh cũng giúp cho thực hiện chính xác vị trí , kích thước và hình
dạng của PĐMN. Tuy nhiên, việc chẩn đoán xác định PĐMN bằng phương
pháp chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) hiện nay chỉ thực hiện được ở bệnh
viện tuyến trung ương và các bệnh nhân được chuyển đến tuyến này trong
trạng thái muộn khi có biến chứng.
Để tránh chảy máu tái phát đối với phình động mạch não đã vỡ, điều trị
loại bỏ phình động mạch não khỏi vòng tuần hoàn sớm trong 24 – 72 giờ
được đề cập nhằm làm giảm nguy cơ tử vong và tàn tật. Điều trị do vậy cũng
được đề cập tới với phình động mạch não chưa vỡ nhưng nguy cơ cao.


2

Năm 1937, Walter Danny công bố trường hợp phẫu thuật thành công
đầu tiên PĐMN bằng kẹp cổ túi phình. Kỹ thuật vi phẫu cũng phát triển
không ngừng từ đó với nhiều đường tiếp cận và nhiều loại kẹp kim loại để có
thể sửa chữa hầu hết các PĐMN. Nhưng đối với PĐMN ở vị trí khó ( như
thuộc vòng tuần hoàn phía sau, cạnh mỏm yên), với các phình động mạch não
nhỏ có cổ rất rộng, với các PĐMN khổng lồ hoặc với phình động mạch não có
biến chứng chảy máu dưới nhện trong hai tuần đầu thì phẫu thuật có nhiều
khó khăn. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “
Các yếu tố tiên lượng và kết quả điều trị vi phẫu phình động mạch não vỡ”

phép chụp chọn lọc tất cả các mạch máu ngoại vi và trung tâm của cơ thể
[12]. Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều chuyên khoa
Tim-mạch, Thần kinh, Hô hấp, tiêu hóa...


4

Năm 1971, hounsfield và Ambrose cho ra đời chiếc máy chụp cắt lớp vi
tính đầu tiên, đã tạo ra bước ngoặt lớn trong nền y học, có giá trị trong chẩn
đoán bệnh tai biến mạch não nói chung và chảy máu dưới nhện nói riêng [13].
Năm 1983, trong lĩnh vực chụp mạch máu có tiến bộ mới là chụp mạch
máu số hóa xóa nền cho phép nhìn rõ cấu trúc mạch máu với lượng thuốc cản
quang rất ít. Chụp cộng hưởng từ não - mạch não có thể phát hiện được các dị
dạng mạch máu và các phình mạch lớn ở các động mạch chính của não, đặc
biệt là đa giác Willis [13].
Gần đây chụp cắt lớp vi tính sọ não 64 dãy cho phép xác định được sớm
các dị dạng mạch. Đây là phương pháp chụp mạch não không can thiệp nên
chụp được ở tất cả bệnh nhân có tăng huyết áp và rối loạn đông máu.
1.1.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam nghiên cứu về vỡ phình ĐMN đã được tiến hành từ năm
1960, có thể điểm lại một số công trình như sau:
Năm 1962, Nguyễn Thường Xuân, Nguyễn Văn Đăng và Nguyễn Văn
Diễn đã nêu một số nhận xét về lâm sàng, tiên lượng và điều trị phẫu thuật
phồng động mạch não [18].
Năm 1985, Nguyễn Văn Đăng đã áp dụng kỹ thuật chụp động mạch nền
theo phương pháp Seldinger để phát hiện các dị dạng mạch máu não. Trên thế
giới, phương pháp này đã được áp dụng từ năm 1953, dựa vào kỹ thuật mới,
Nguyễn Văn Đăng và cộng sự đi sâu vào nghiên cứu các dị dạng mạch máu
não và những biến chứng của nó. Năm 1982 đã thông báo 25 trường hợp dị
dạng mạch máu não với những biến chứng chảy máu và thiếu máu cục bộ [19].

do vỡ túi phình hệ ĐM cảnh trong. Kết quả tốt về mặt lâm sàng 84,7%, trung
bình 5,6% và xấu (tử vong, sống thực vật) 9,7%. Năm 2009, Nguyễn Thế Hào
[9] hồi cứu 318 trường hợp túi phình ĐM não vỡ, điều trị tại bệnh viện Việt
Đức từ 1/1998-12/2008 thấy hai phương pháp điều trị chính là kẹp cổ túi
phình (96,2%) và bọc túi phình (3,8%). Biến chứng trong mổ là vỡ túi phình


6

21,4%. Có 6,6% BN phải đặt dẫn lưu não thất ổ bụng do giãn não thất mạn
tính; 1,6% BN có chảy máu tái phát; 9,1% BN có thiếu máu não. Kết quả tốt
ở thời điểm xa sau mổ là 82,1% BN.
Năm 2010, Nguyễn Sơn báo cáo điều trị vi phẫu thuật 143 nhân túi
phình ĐMN tầng trên lều đã vỡ tại bệnh viện Chợ Rẫy: tốt 84,7%, kết quả
trung bình 7,5%, kết quả xấu 5,1%.
1.2. Giải phẫu mạch cấp máu cho não
Hai bán cầu đại não và vùng hố sau được cấp máu chủ yếu từ hệ động
mạch (ĐM) cảnh trong và hệ ĐM đốt sống thân nền. Hai hệ này nối với nhau
bởi các nhánh ở vùng nền sọ tạo nên đa giác Willis [3], [67]. (Hình 1.1 A)
1.2.1. Hệ động mạch cảnh trong
Hệ ĐM cảnh trong gồm ĐM cảnh trong phải và trái
- ĐM cảnh trong tách từ ĐM cảnh gốc ở ngang mức đốt sống cổ C4. Từ
nguyên ủy, ĐM cảnh trong đi vào trong sọ qua vòng màng cứng của trần xoang
hang ở ngay dưới mỏm yên trước, rồi tận hết bằng cách chia 2 nhánh tận là ĐM
não trước và ĐM não giữa. Nó gồm 4 đoạn liên quan: đoạn cổ, đoạn xương đá,
đoạn xoang hang và đoạn trong sọ.
+ ĐM não trước: chạy ra trước và vào trong tới khe liên bán cầu (đoạn
A1), đi ở phía trên dây thị giác, rồi chạy cong lên trên (đoạn A2) và ra sau quanh
thể chai. Hai ĐM não trước nối với nhau qua nhánh thông trước tạo nên các
thành trước của đa giác Willis, đây là một trong các vị trí hay gặp PĐMN. ĐM

+ Nếu các PĐMN của ĐM cảnh trong mà nằm ở đoạn dưới vòng màng
cứng (thường phía dưới chỗ tách ra ĐM mắt) có biến chứng vỡ thì nó thường
gây chảy máu ngoài hoặc dưới màng cứng, hoặc gây thông ĐM cảnh - xoang
hang, hoặc vỡ vào xoang bướm gây chảy máu mũi. Ngược lại, các PĐMN
nằm trong nội sọ (sau khi ĐM cảnh đã chui qua vòng màng cứng) khi vỡ thì
thường gây chảy máu vào khoang dưới nhện [90]. (Hình 1.1 B)
1.2.2. Hệ động mạch đốt sống thân nền


8

ĐM đốt sống thường xuất phát từ ĐM dưới đòn, từ vùng nền cổ ĐM
đốt sống đi lên chui vào lỗ mỏm ngang đốt sống cổ từ C6 tới ngang mức đốt
sống trục thì vòng quanh khối bên của đốt C1 và vào trong sọ qua lỗ chẩm rồi
hợp với ĐM đốt sống bên đối diện tạo nên ĐM thân nền. ĐM thân nền chạy
dọc phía trước thân não rồi tận hết bởi hai nhánh là ĐM não sau. ĐM đốt sống
thân nền cấp máu cho toàn bộ nhu mô não vùng hố sau, thùy chẩm và phần
sau ngoài thùy thái dương.
- Các nhánh tận và nhánh bên chính của ĐM đốt sống thân nền
+ ĐM tiểu não sau dưới: tách từ đoạn V4 ĐM đốt sống. Gốc xuất phát
của nó thường hay gặp PĐMN, chiếm khoảng 5% các PĐMN.
+ ĐM não sau: có 2 đoạn P1 và P2 chạy vòng qua cuống đại não rồi tận
hết ở vùng chẩm. Nó nối với ĐM cảnh trong qua nhánh ĐM thông sau. ĐM
não sau cấp máu cho đồi thị, thể gối, dưới đồi sau, mặt trong thùy chẩm, một
phần thể chai, thể gối ngoài, và hồi thái dương 3,4 và 5.
Tại vị trí đỉnh ĐM thân nền, đây là nơi hay gặp PĐMN vùng hố sau,
chiếm khoảng 5% các PĐMN[67].
1.3. Phân loại và đặc điểm của phình động mạch não
PĐMN về cơ bản có ba loại chính gồm PĐMN dạng hình túi, dạng hình
thoi và dạng phình tách, ngoài ra có PĐMN sau chấn thương, sau xạ trị và do

xứng hai bên hoặc ở các vị trí mạch khác nhau, hiếm khi có nhiều hơn một túi
PĐMN trên cùng một ĐM.
- Kích thước túi PĐMN thay đổi từ vài mm đến vài cm. Túi PĐMN
kích thước trên 25 mm được gọi là phình khổng lồ.

- Trên giải phẫu bệnh, PĐMN thực sự bao gồm [33, 50]:(Hình 1.2 b)


10

+ Lớp nội mạc lót bên trong mất hoặc giảm độ chun giãn.
+ Lớp áo bên ngoài thường bị thâm nhiễm bởi Lympho bào và đại thực bào.
+ Lớp áo giữa thường mất ngay từ cổ túi PĐMN.
Bên trong túi PĐMN có thể có cặn huyết khối.
- Nguyên nhân của PĐMN cho đến nay cũng chưa xác định rõ. Một số
giả thuyết và yếu tố liên quan như: do bẩm sinh, thiếu sót trong quá trình phát
triển thành mạch[33], do tổn thương thoái hóa thành mạch (xơ vữa...), do tác
động cơ học của dòng máu đặc biệt chỗ phân nhánh, vai trò tăng huyết áp, di
truyền (có tính chất gia đình)[79, 84], nhiễm trùng, PĐMN do nấm và sau
chấn thương(trích dẫn từ [94]).
1.3.2. Phình động mạch não dạng hình thoi
PĐMN dạng hình thoi là giãn khu trú một đoạn mạch, có một đầu vào
và một đầu ra là mạch mang, và không có cổ túi. Khi PĐMN dạng hình thoi
có kích thước lớn sẽ gây chèn ép tổ chức não lân cận hoặc gây liệt thần kinh
sọ. Cục máu đông trong lòng mạch thường có và ảnh hưởng tới nhánh sinh ra
từ đoạn mạch đó gây nhồi máu não.
Vị trí hay gặp PĐMN hình thoi thuộc hệ thống ĐM đốt sống thân nền,
nhất là đoạn V4.
1.3.3. Phình động mạch não dạng bóc tách
Trong động mạch bị bóc tách, máu tụ lại trong thành mạch qua điểm

Đôi khi hoàn cảnh phát hiện giống chấn thương sọ não do bị bất tỉnh và ngã.
+ Rối loạn thị lực, loạn cảm, chóng mặt và co giật.
- Chẩn đoán phân biệt được đặt ra với tất cả bệnh lý đau đầu cấp tính và
bất thường ví dụ như bệnh lý não tăng huyết áp, nguyên nhân tâm lý...
- Phân loại lâm sàng bệnh nhân chảy máu dưới nhện ở thời điểm cấp tính
qua đó giúp tiên lượng. Hai thang phân loại hay được sử dụng để tiên lượng là
phân loại theo Hunt-Hess và theo Liên Hội Phẫu thuật Thần kinh Thế giới
(WFNS- World Federation of Neuro-Surgery) (trích dẫn từ [36]). (Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Phân loại theo Hunt-Hess và WFNS (trích dẫn từ [36])


12

Độ

Hunt-Hess

WFNS

0

Phình động mạch chưa vỡ

Phình động mạch chưa vỡ

I

Có triệu chứng hoặc đau đầu nhẹ

Glasgow (G) 15 đ

chức năng tốt hơn và chủ yếu đánh giá hồi phục [94].
Theo thang phân độ Hunt-Hess, độ I đến độ III có tiên lượng sống tốt,
tuy nhiên sự khác biệt tiên lượng giữa độ III và IV không có ý nghĩa, đó là
điểm yếu của thang phân loại này.
1.4.1.2. Lâm sàng phình động mạch não chưa vỡ
PĐMN chưa vỡ có thể không biểu hiện lâm sàng, phát hiện được tình
cờ qua thăm khám hình ảnh. Với các PĐMN lớn và khổng lồ có thể có triệu
chứng chèn ép thần kinh sọ gây giảm thị lực hoặc sụp mi, dấu hiệu thần kinh
khu trú, đôi khi có huyết khối bên trong có thể gây tắc mạch thiếu máu thoáng
qua hoặc nhũn não do di chuyển cục huyết khối, tuy nhiên cũng có thể gặp
trong các PĐMN nhỏ [94]. Theo Qureschi và cs (2000) qua nghiên cứu 269
bệnh nhân có PĐMN chưa vỡ cho thấy tỉ lệ nhồi máu hoặc thiếu máu não
thóang qua đối với các PĐMN chưa vỡ vào khoảng 3,3% [77].
1.4.1.3. Biến chứng sau vỡ phình động mạch não và biểu hiện lâm sàng.


13

Tràn dịch não thất, chảy máu tái phát và co thắt mạch kèm nhồi máu là
ba biến chứng chính sau chảy máu dưới nhện.
 Tràn dịch não thất
Sau CMDN có thể gây tràn dịch não thất cấp và mạn tính [105, 108].
- Tràn dịch não thất cấp tính xuất hiện trong vòng 24h đầu sau CMDN,
do máu trong các bể não và trong hệ thống não thất gây tắc nghẽn lưu thông
dịch não tủy. Trên lâm sàng thấy phản xạ đồng tử chậm với ánh sáng hoặc lác
mắt là đặc trưng của tràn dịch não thất cấp. Chẩn đoán xác định dựa vào phim
chụp CLVT. (Hình 1.3 a)
- Tràn dịch não thất mạn tính có thể hình thành sau vài ngày hoặc vài
tuần sau CMDN. Thể điển hình biểu hiện dáng đi mất thăng bằng, ảnh hưởng
tới chức năng nhận thức, tiến triển sang trạng thái thờ ơ. Khi đó có chỉ định

cách đo tốc độ dòng máu chảy được lựa chọn để thăm khám vì có thể thực hiện
được nhiều lần, đơn giản và không nhiễm xạ [104]. (Hình 1..3 b)

a

b

Hình 1.3: Hình tràn dịch não thất và co thắt mạch
Bệnh nhân Tran Dinh H- mã I60/105, CMDN khe liên bán cầu trước kèm
tràn dịch não thất cấp trên ảnh CLVT (a). (b) Bệnh nhân Hoang Xuan Mmã I61/267: Co thắt mạch mức độ trung bình trên ảnh chụp mạch do vỡ
PĐMN thông trước (mũi tên).
 Nhồi máu và nhũn não: tỉ lệ khá thường gặp sau CMDN, theo Roos và cs

2000, chiếm khoảng 28% các trường hợp. Trên lâm sàng, bệnh nhân có biểu
hiện dấu hiệu thần kinh khu trú hoặc rối loạn chức năng thân não tiến triển,
khi đó khả năng hồi phục thường kém. Nhồi máu có thể xuất hiện sớm ngay


15

sau khi vỡ PĐMN gây co thắt toàn bộ. Nhồi máu muộn thường xuất hiện đầu
ngày thứ 3 sau chảy máu dưới nhện, đỉnh ở thời điểm ngày thứ 4 và ngày thứ
12, và có thể tồn tại dài 3 tuần sau CMDN, gặp trong 1/3 các trường hợp. Cơ
chế bệnh sinh vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ, các giả thuyết như giải phóng các
yếu tố không xác định vào trong khoang dịch não tủy gây kích thích co thắt
mạch và hậu quả là nhồi máu [80]. (Hình 1.4 a,b). Theo Hijdra và cs (1987),
nhồi máu não muộn sau CMDN gây tỉ lệ tử vong và tàn tật khoảng 15% các
trường hợp [47].

b

+ Chảy máu trong não thất: Nếu lượng máu ít, thấy đọng máu ở phần
thấp của sừng chẩm tạo mức ngang ngăn cách giữa máu và DNT ở trên. Nếu
chảy máu nhiều, lượng máu chiếm toàn bộ trong các não thất IV, III và não
thất bên gây tràn dịch não thất.
Độ nhạy của chụp CLVT phát hiện CMDN phụ thuộc thể tích máu
thoát ra, độ cô đặc máu và khoảng thời gian từ khi vỡ tới khi chụp CLVT do
liên quan hòa loãng máu với DNT, do đó cần phải đọc cẩn thận [22, 47]. Sử
dụng máy chụp CLVT hiện đại và chụp trong vòng 24h sau khi xuất hiện bệnh
cảnh đột quỵ não, thì CLVT phát hiện máu trong khoang dưới nhện tới 95%
các trường hợp. Theo Adams và cs 1983, độ nhạy của CLVT giảm xuống còn
80% ở ngày thứ 3, 70% ở ngày thứ 5, 50% sau 1 tuần và 30% sau 2 tuần [22].
Vì vậy, khi CLVT thực sự bình thường mà trên lâm sàng có xác định tiền sử
đau đầu đột ngột “sét đánh” thì cũng chưa loại trừ được PĐMN vỡ. Khi đó xét
nghiệm dịch não tủy là cần thiết để loại trừ CMDN, nếu như không có chống
chỉ định về rối loạn chảy máu hoặc tổn thương choán chỗ trong sọ [92].
- Xác định các yếu tố nguy cơ dự đoán hồi phục hoặc các biến chứng là
rất cần thiết trước các trường hợp CMDN.
+ Chảy máu trong não thất sau vỡ PĐMN có ảnh hưởng tới hồi phục.


17

Theo Mayfrank và cs 2001[59], tỉ lệ tử vong trong 14 ngày với nhóm có chảy
máu não thất nặng và trung bình lần lượt là 41,7% và 14,1% so với nhóm
không có chảy máu não thất là 7,3%. Tỉ lệ hồi phục kém ở các nhóm này lần
lượt là 66,7%; 30,5% và 19,8%.
+ Nguy cơ co thắt mạch sau CMDN có thể ước lượng dựa vị trí, độ dày
và tỷ trọng máu trên CLVT.
Mặc dù phân loại CMDN theo Fisher dựa trên CLVT như là dự đoán
hữu hiệu khả năng xuất hiện co thắt mạch và nhồi máu thứ phát được khẳng

+ Huyết khối tắc xoang tĩnh mạch: có dấu hiệu nhồi máu tĩnh mạch
kèm chảy máu và dấu hiệu tắc xoang tĩnh mạch.
+ Hình giả chảy máu khoang dưới nhện do phù não và viêm màng não.


18

a

b
Hình 1.5: Hình vôi hóa PĐMN và phù não

a- Vôi hóa trên thành túi PĐMN (mũi tên). b- Thiếu ô xy nặng gây phù não,
dễ chẩn đoán nhầm với chảy máu dưới nhện [108]
1.4.2.2. Chụp mạch não cắt lớp vi tính
Đây là một phương pháp chụp mạch não không xâm nhập
- Nguyên lý chung: Bóng phát tia X quay và liên tục phát tia X, trong
khi cột thuốc cản quang được bơm qua đường tĩnh mạch để làm tăng tỷ trọng
trong lòng động mạch đạt tối đa. Sau đó sử dụng các thuật toán tái tạo mạch
não với cường độ tối đa (MIP), tái tạo trên nhiều mặt phẳng (MPR) và tái tạo
thể tích ba chiều (VRT) [94, 103].
- Chụp mạch não CLVT trên máy đơn dãy: do thời gian thăm khám được
toàn bộ mạch não lâu khoảng 2 đến 3 phút và độ phân giải kém, nên kỹ thuật này
sẽ gặp hạn chế phát hiện với các PĐMN nhỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status