BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM DINH
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC LỤC VỊ KỶ CÚC
TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN THẦN KINH THỰC VẬT
TRÊN BỆNH NHÂN TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM DINH
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC LỤC VỊ KỶ CÚC
TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN THẦN KINH THỰC VẬT
TRÊN BỆNH NHÂN TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH
Chuyên ngành: Y học cổ truyền
Mã số: 60720201
TMK
Tiền mãn kinh
YHCT
Y học cổ truyền
YHHĐ
Y học hiện đại
MỤC LỤC
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn thần kinh thực vật (thần kinh tự chủ) không phải là một căn
bệnh cụ thể, nó là một rối loạn có ảnh hưởng đến chức năng tự động cơ thể
bao gồm nhịp tim, huyết áp, mồ hôi, tiêu hóa…Đây là bệnh ngày càng phổ
biến tuy không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng tác động rất lớn tới sinh hoạt
của người bệnh.
Rối loạn thần kinh thực vật là sự mất cân bằng của hai hệ thống giao
cảm và phó giao cảm. Hai hệ thống này về cơ bản gần như trái ngược nhau
Với phương châm kết hợp YHHĐ và YHCT để tận dụng tối đa ưu điểm
của từng phương pháp, tăng hiệu quả điều trị hạn chế tối thiểu nhược điểm
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng của bài thuốc
Lục vị kỷ cúc trong điều trị rối loạn thần kinh thực vật ở phụ nữ tiền
mãn kinh, mãn kinh ” với 2 mục tiêu:
1.
Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Lục vị kỷ cúc” trong điều trị rối
loạn thần kinh thực vật ở phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh.
2.
Đánh giá tác dụng của bài thuốc đối với hội chứng tiền mãn kinh,
mãn kinh.
8
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. QUAN NIỆM CỦA YHHĐ VỀ RỐI LOẠN THẦN KINH THỰC
VẬT VÀ HỘI CHỨNG TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH
1.1.1. Rối loạn thần kinh thực vật
1.1.1.1. Đặc điểm giải phẫu, chức năng của hệ thần kinh thực vật
Hệ thần kinh thực vật còn được gọi là hệ thần kinh tự chủ gồm các sợi
thần kinh đi từ hệ thần kinh trung ương đến các cơ trơn (của các tuyến, các
tạng, các mạch máu) và cơ tim.
Hệ thần kinh tự chủ được chia làm hai phần là phần giao cảm và phần
đối giao cảm, hoạt động theo nguyên tắc đối nghịch nhau. Hệ thần kinh tự chủ
hạch thắt lưng, 4 đến 5 hạch cùng.
• Ở vùng cùng cụt hai thân giao cảm tiến lại gần nhau và hoà lẫn
thành một hạch cụt.
+ Hạch trước sống: có hạch tạng, hạch mạc treo tràng trên, hạch mạc
treo tràng dưới, hạch chủ thận và hạch hoành.
10
+ Sợi sau hạch: từ các hạch cạnh sống hoặc các hạch trước sống, các
sợi thần kinh giao cảm đi qua nhánh thông xám, rồi vào các thần kinh gai
sống để đến cơ quan mà chúng chi phối.
* Hệ đối giao cảm
- Trung ương gồm hai phần:
+ Ở não bộ là nhân các thần kinh sọ: III, VII, IX, X.
+ Ở tuỷ gai là cột nhân trung gian bên đoạn cùng 2 đến 4 (S2-4).
- Ngoại biên
Sợi trước hạch: tùy theo nguồn gốc khác nhau.
Từ trung ương phần não bộ: theo các thần kinh sọ III, VII, IX, X để đến
các hạch tận cùng (hạch mi, hạch chân bướm khẩu cái, hạch dưới hàm).
Từ trung ương phần tuỷ gai: theo rễ trước các thần kinh gai sống đến
các hạch tận cùng ở vùng chậu hông.
Hạch tận cùng: nằm gần hoặc ngay trong thành của các cơ quan mà
chúng chi phối.
Sợi sau hạch: rất ngắn, từ hạch tận cùng đi vào cơ quan.
* Tác dụng của hệ thần kinh tự chủ
Cơ quan
Giao cảm
Tăng nhịp, tăng co bóp
Giảm nhịp
Ức chế
Kích thích
Cơ vòng dạ dày, ruột
Co thắt
Giãn
Cơ quan sinh dục
Co rút ống dẫn tinh,
túitinh, tiền liệt tuyến Giãn mạch
và cơ tử cung, co mạch
Bàng quang
Ít hoặc không tác dụng
Co thành bàng quang
Tuỷ thượng thận
Kích thích tiết
hoạt động thể lực, nhịp tim thay đổi một cách chậm chạp hoặc không thay đổi
để đáp ứng kịp thời với hoạt động thể lực hoặc tập thể dục.
* Với hệ tiêu hóa: Rối loạn tiêu hóa, do rối loạn chức năng co bóp của dạ dày,
ruột. Gây ra cảm giác nhanh no sau khi ăn, ăn không ngon, tiêu chảy, táo bón,
đầy hơi, buồn nôn, nôn, khó nuốt và ợ hơi. Kích thích đại tiện khi căng thẳng.
* Với hệ tiết niệu: Rối loạn tiết niệu, bao gồm tiểu khó, tiểu không tự chủ,
kích thích tiểu tiện khi căng thẳng và tiểu không hết nước tiểu, có thể dẫn đến
nhiễm trùng đường tiết niệu.
* Với hệ bài tiết: Rối loạn tiết mồ hôi, giảm tiết hoặc tăng tiết quá mức, ảnh
hưởng tới khả năng điều tiết nhiệt độ cơ thể, nóng lạnh bất thường.
* Với hệ hô hấp: co thắt cơ trơn phế quản gây khó thở, tăng khi thay đổi thời
tiết hoặc căng thẳng. Hụt hơi khó thở, tức ngực. Ngạt mũi do giãn cuốn mũi.
* Với hệ cơ xương khớp: máy cơ, buồn bực chân tay, đau nhức xương khớp
khi trở trời.
* Với hệ sinh dục: Rối loạn tình dục, bao gồm cả vấn đề đạt được hoặc
duy trì sự cương cứng (rối loạn chức năng cương dương) hoặc các vấn đề
xuất tinh ở nam giới và khô âm đạo, khó đạt cực khoái ở phụ nữ. Rối loạn
kinh nguyệt.
* Với hệ lông tóc móng: có thể gây rụng tóc, da khô, hư móng, co giãn mạch
ngoài da ...
* Các triệu chứng khác : Mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, đau đầu, ớn lạnh, đau
mỏi vai gáy, đau mỏi cột sống, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn lo âu, có người
cảm giác không sống nổi, như sắp chết. Phản ứng sinh học chậm chạp với ánh
sáng và gây ra những khó khăn khi lái xe vào ban đêm
1.1.2. Tiền mãn kinh
1.1.2.1. Khái niệm
Tiền mãn kinh là giai đoạn có rối loạn kinh nguyệt trước khi xảy ra mãn
15
nữ bắt đầu bị mất xương xốp ở tuổi 35 và mất xương đặc ở tuổi 40. Nhưng
mất xương được xem như một hiện tượng sinh lý bình thường. Từ tuổi 50
lượng xương mất đi ở 2 giới đều tăng lên nhưng tốc độ mất xương ở nữ giới
cao hơn. Đến tuổi mãn kinh người phụ nữ mất 6 – 12% xương/năm, vì mất
lượng canxi trong xương và đồng thời lượng canxi hấp thu kém đi [4], [8].
- Những thay đổi ở hệ thống tim mạch.
Theo thống kê của WHO thì bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong
hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới. Nguy cơ tim mạch ở nữ giới thấp hơn
nam, nhưng khi tuổi cao thì nguy cơ tăng với cả 2 giới [29].
Mạch bị xơ vữa làm giảm tính đàn hồi của thành mạch, tăng sức cản
ngoại vi, làm tim phải hoạt động mạnh để chống lại sức cản của ngoại vi nên
huyết áp có xu hướng tăng lên
- Các biến đổi về hình thể và đinh dưỡng: phụ nữ thời kỳ TMK có một
số biến đổi về tầm vóc và hình thái như giảm chiều cao do sự hẹp lại của các
đĩa đệm vì tình trạng loãng xương do giảm estrogen, kèm theo sự phân bố lại
lớp mỡ dưới da, chủ yếu tích mỡ ở trung tâm, đặc biệt là lớp mỡ bụng [3].
1.1.2.3. Điều trị
Các phương pháp điều trị nhằm giải quyết nguyên nhân chính của các rối
loạn do sự thiếu hụt estrogen gây ra [30], [31], [33].
- Dùng liệu pháp hormone thay thế:
+ Liều estrogen và progestogen cố gắng càng thấp càng tốt
+ Khi sử dụng liệu pháp nội tiết thay thế kéo dài phải khám bệnh định kỳ
Đối với phụ nữ bình thường nên dùng them progestogen để bảo vệ nội
mạc tử cung với các chế phẩm:
Thuốc Utrogestan là loại chế phẩm progestogen tự nhiên bao gồm thuốc
tiêm và thuốc uống
Thuốc Progestogen tổng hợp: Dydrogesteron, Crinon…
- Theo Lê Thị Thanh Vân khi nghiên cứu 503 bệnh nhân rong kinh trong
17
thời kỳ TMK có 38% rong kinh rong huyết cơ năng, bệnh nhân trước khi rong
kinh thường có rối loạn vòng kinh, chủ yếu là vòng kinh dài hơn [23].
- Nghiên cứu của Đặng Quang Vinh (1998) có 8,2% số phụ nữ TMK có
nguy cơ suy động mạch vành [18].
1.2. QUAN NIỆM CỦA YHCT VỀ HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH VÀ TIỀN
MÃN KINH
1.2.1. Hội chứng tiền đình
1.2.1.1. Đại cương
Theo YHCT hội chứng tiền đình thuộc phạm vi chứng huyễn vựng.
Huyễn là hoa mắt, vựng là có cảm giác chòng chành như ngồi trên thuyền,
quay chuyển không yên, gọi chung là chóng mặt. Nhẹ thì hết ngay khi nhắm
mắt lại, nặng thì kèm thêm buồn nôn, nôn, ra mồ hôi, có thể ngã … [7]
1.2.1.2. Triệu chứng và điều trị
* Can dương thượng cang:[7]
+ Triệu chứng: ù tai, đầu căng đau, tăng khi suy nghĩ, căng thẳng. Mặt
đỏ, phiền táo dễ cáu, ngủ ít hay mơ, miệng khô táo. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng,
mạch huyền.
+ Pháp điều trị: Bình can tiềm dương, thanh hỏa tức phong.
+ Phương dược: Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm
- Gia giảm:
. Can hỏa thiên thịnh: mặt đỏ, mắt đỏ họng đau rõ: gia Long đởm thảo,
Đan bì để thanh can tiết nhiệt hoặc dùng Long đởm tả can thang gia Thạch
quyết minh, Câu đằng… để thanh can tả hỏa.
. Nếu kèm phủ nhiệt táo bón: gia Đại hoàng, Mang tiêu để thông phủ
tiết nhiệt.
Lục quân tử thang gia Hoàng kỳ, Trúc nhự, Đởm nam tinh, Bạch giới tử…
Nếu hàn ẩm nội đình có thể dùng Linh quế truật cam thang gia Can khương,
Phụ tử, Bạch giới tử… để ôn hóa hàn ẩm. Nếu đàm uất hóa hỏa nên dùng Ôn
19
đởm thang gia Hoàng liên, Hoàng cầm, Thiên trúc hoàng… để hóa đàm tiết
nhiệt hoặc phốithạch đàm hoàn để giáng hỏa trừ đàm. Nếu phẫn nộ uất ức,
đàm hỏa can phong cùng đốt dùng Nhị trần thang hợp Đương qui long cối
hoàn đồng thời tùy chứng mà gia các vị tức phong như: Thiên ma, Câu đằng,
Thạch quyết minh…
* Khí huyết hư nhược: [7]
+ Triệu chứng: Đầu choáng mắt hoa, nặng lên khi gắng sức, đoản khí,
nói nhỏ, tinh thần mệt mỏi, ngại nói, sắc mặt trắng nhợt, môi và móng tay
móng chân không nhuận, tâm quí, ngủ ít, ăn uống kém. Chất lưỡi nhợt bệu, có
hằn răng, ít rêu hoặc rêu trắng mỏng, mạch tế nhược.
+ Pháp điều trị: Bổ ích khí huyết, kiện vận tỳ vị
+ Phương dược: Thập toàn đại bổ thang gia giảm
- Gia giảm:
. Tỳ dương hư nhược, trung tiêu vận hóa không tốt biểu hiệnsợ lạnh,
chân lạnh, môi và móng tay móng chân nhợt: bỏ Địa hoàng, Kỷ tử, Ngưu tất;
gia Can khương, Thục phụ phiến… để ôn vận trung dương.
. Chứng này dùng pháp kiện tỳ ích khí sinh huyết làm chính. Vì tỳ vị là
gốc hậu thiên, nguồn sinh hóa khí huyết nên nếu tâm tỳ lưỡng hư biểu hiện
tâm quí ngủ ít, hay quên rõ có thể chọn dùng Qui tỳ thang để bổ huyết dưỡng
tâm an thần.
. Khí huyết hư nhược mà huyết hư là chính thường có tiền sử mất máu:
có thể dùng Đương qui bổ huyết thang gia vị để trên cơ sở đại bổ nguyên khí
khiến huyết được sinh ra. Cũng có thể dùng phương này gia Hoàng tinh, Sơn
như: triều nhiệt, các cơn bốc hỏa, mặt nóng đỏ ra mồ hôi, tinh thần mệt mỏi,
hay hoa mắt chóng mặt, phiền táo, dễ cáu giận, ù tai, mất ngủ, hay hồi hộp
đánh trống ngực, vai lưng đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng và thường
kèm theo rối loạn kinh nguyệt…. tất cả đều liên quan tới vấn đề hết kinh và
gọi là “kinh đoạn tiền hậu chứng”, hay là “tuyệt kinh tiền hậu chứng”. Những
triệu chứng này xuất hiện có thể nhiều hoặc ít, số lần và thời gian xuất hiện
21
không theo quy luật, quá trình bị bệnh có thể dài ngắn khác nhau (từ vài tháng
đến vài năm) [13].
Các y văn cổ không có bệnh danh này nhưng từng biểu hiện riêng lẻ
của bệnh đều được nhắc đến cả về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện
lâm sàng cho tới thuốc điều trị. Dựa vào các biểu hiện khác nhau trên lâm
sàng mà phân thành các bệnh danh khác nhau như: chứng tạng táo, bách hợp
bệnh trong Kim quĩ yếu lược; chứng lão niên huyết băng trong Phó Thanh
Chủ nữ khoa…
1.2.2.2. Triệu chứng và điều trị
Trên lâm sàng được phân ra 2 thể bệnh chính thời kỳ TMK [11], đó là:
- Thể thận âm hư: gồm thể Âm hư nội nhiệt, Âm hư can vượng và Tâm
thận bất giao.
- Thể thận dương hư: gồm thể Thận dương bất túc,Tỳ Thận dương hư.
* Âm hư nội nhiệt:
+ Triệu chứng: Phụ nữ trước sau mãn kinh lưng gối đau mỏi, đầu choáng
tai ù, bốc hỏa vã mồ hôi, triều nhiệt, gò má đỏ hoặc lòng bàn tay bàn chân
nóng hoặc tiểu ít, đại tiện táo, rối loạn kinh nguyệt, kinh trước kỳ lượng ít
hoặc nhiều, hoặc băng hoặc lậu. Chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
+ Pháp điều trị: Tư âm, giáng hỏa
+ Bài thuốc: Tri bá địa hoàng thang [11]
mặt, táo dễ cáu, bốc hỏa vã mồ hôi, hai mắt khô sáp. Chất lưỡi đỏ, rêu ít,
22
mạch huyền tế sác.
+ Pháp điều trị: Tư bổ can thận, tiềm dương.
+ Bài thuốc: Kỷ cúc địa hoàng thang gia giảm [11]
Thục địa
16g
Phục linh
6g
Kỷ tử
6g
Cúc hoa
4,5g
Sơn thù
8g
Trạch tả
4g
Sơn thù
8g
Trạch tả
6g
Hoàng cầm 12g
Hoài sơn
8g
Đan bì
6g
A giao
Bạch thược 12g
12g
Kê tử hoàng 2 quả
Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần
- Gia giảm:
Đương quy 12g
Thỏ ty tử 8g
Lộc giác giao 8g
Hoài sơn 8g
- Gia giảm:
. Nếu kinh nguyệt lượng nhiều hoặc băng lậu: gia Xích thạch chi 15g, Bổ
cốt chi 15g để ôn thận cố xung chỉ huyết.
. Nếu đại tiện nát lỏng: gia Bạch truật sao 25g, Phục linh 15g, Bổ cốt chỉ
15g để ôn thận kiện tỳ, táo thấp chỉ tả.
* Tỳ thận dương hư:
+ Triệu chứng: lưng đau, tay chân lạnh, sợ lạnh, người mệt mỏi, đại tiện
phân nát lỏng, xuất hiện chứng “ngũ canh tả”, người có thể phù nề, lượng
kinh nguyệt có lúc nhiều, lúc ít đôi khi xuất hiện băng lậu. Chất lưỡi nhợt, rêu
lưỡi trắng nhuận, mạch trầm trì.
+ Pháp điều trị: Ôn bổ Tỳ Thận
+ Bài thuốc: Hữu quy thang phối hợp với Lý trung thang [11]
Kỷ tử
8g
Nhục quế
4-8g
Sơn thù
Hoài sơn
8g
24
Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.
1.2.3. Các nghiên cứu trong nước và nước ngoài cuả YHCT về hội chứng
tiền đình và tiền mãn kinh
* Các nghiên cứu nước ngoài:
- Nghiên cứu của Nguyễn Đạo Dũng và cộng sự (1991) [32].
Sử dụng 2 bài thuốc: “Bài thuốc 1” gồm các vị:
Sinh địa
12g
Hắc táo nhân 12g
Câu đằng
10g
Phục linh
12g
Liên tâm
1g
12g
10g
Hắc táo nhân 10g
Tục đoạn 10g
Đẳng sâm 12g
Cả 2 bài thuốc đều sử dụng: sắc uống ngày 1 thang,chia 2 lần, liệu trình
điều trị 30 ngày.
Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng:
Bài 1: Điều trị hội chứng MK thể âm hư trên 50 BN, kết quả tốt là
87,3%.
Bài 2: Điều trị hội chứng MK thể âm dương hư trên 50 BN, kết quả tốt
là 77,8%.
- Nghiên cứu của Trương Lệ Dung và cộng sự (1995) [11] dùng bài
“Canh niên an” điều trị cho 382 bệnh nhân hội chứng TMK thể âm hư can
vượng đạt kết quả tốt là 98,2%.
Bài thuốc “ Canh niên an” gồm các vị:
Sinh địa
12g
Thục địa
12g
Phục linh
- Nghiên cứu của Đỗ Xuân Bách [1] sử dụng viên “Tiêu dao đan chi”
trên 37 bệnh nhân mãn kinh đạt kết quả tốt và khá là 75,6%.
- Nghiên cứu của Trần Thu Trang [20] sử dụng Nhĩ châm các điểm Thần
môn, Giao cảm, Nội tiết, trong 30 ngày liên tục và được thay hạt dán trong 4
lần trong liệu trình điều trị trên 30 BN với kết quả đạt loại tốt là 36,7%, loại
khá là 60% và chỉ có 3,3% không đạt kết quả. Kết quả như nhau hai thể Can
Thận âm hư và âm hư hỏa vượng.
1.3. HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH VÀ GIAI ĐOẠN TIỀN MÃN KINH
Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ bước vào giai đoạn tiền mãn
kinh có tỷ lệ rối loạn tiền đình cao hơn những phụ nữ trẻ tuổi. Nguyên nhân là
do trong giai đoạn này có sự sụt giảm nội tiết tố sinh dục dẫn đến một loạt các
vấn đề như: rối loạn vận mạch,rối loạn thần kinh thưc vật, xơ vỡ mạch, thay
đổi về tâm sinh lý. Tất cả các vấn đề trên đều làm cho phụ nữ TMK dễ mắc
phải hội chứng tiền đình mà đặc biệt là hội chứng tiền đình trung ương
Theo y lý YHCT phụ nữ khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh có sự suy
giảm công năng của các tạng phủ. Bắt đầu từ thận hư và sự mất cân bằng của
thận thủy và thận hỏa đẫn đến ảnh hưởng chức năng của các tạng phủ mà đặc
biệt là tạng can. Nguyên lý ở phụ nữ theo YHCT là âm thường bất túc dương
thường hữu dư. Đây chính là điểm cốt yếu trong cơ chế bệnh sinh trong hội
chứng đoạn kinh, tuyệt kinh. Như vậy biện chứng luận trị về cơ bản gốc của
bệnh của hội chứng tiền mãn kinh vẫn là thận âm hư và can âm hư [22]. Đây
cũng chính là một trong những căn nguyên gây nên chứng huyễn vựng. Đó
cũng chính là lý do để chúng tôi lựa chọn thể bệnh can thận âm hư để tiến