NGHIÊN cứu TÍNH AN TOÀN và KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG của tấm tái SINH KHÔNG KHÍ b 64 VN TRONG BUỒNG kín TRÊN ĐỘNG vật THỰC NGHIỆM - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN ĐỨC TÂM

NGHIÊN CỨU TÍNH AN TOÀN VÀ KHẢ NĂNG
HOẠT ĐỘNG CỦA TẤM TÁI SINH KHÔNG KHÍ
B-64.VN TRONG BUỒNG KÍN TRÊN ĐỘNG VẬT
THỰC NGHIỆM

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN ĐỨC TÂM

NGHIÊN CỨU TÍNH AN TOÀN VÀ KHẢ NĂNG
HOẠT ĐỘNG CỦA TẤM TÁI SINH KHÔNG KHÍ
B-64.VN TRONG BUỒNG KÍN TRÊN ĐỘNG VẬT
THỰC NGHIỆM


thử nghiệm so sánh với tấm tái sinh không khí B-64 Nga ........................18
3.2. Nội dung thực hiện đề giải quyết Mục tiêu 2 ...........................................19
3.2.1. Ảnh hưởng của B-64.VN lên tình trạng chung và sự thay đổi thể trọng 19
3.2.2. Ảnh hưởng của B-64.VN đối với một số chỉ tiêu huyết học của chuột.. 20
3.2.3. Đánh giá mức độ hủy hoại tế bào gan khi dùng B-64.VN dài ngày ......20
3.2.4. Đánh giá ảnh hưởng lên chức năng gan khi dùng B-64.VN dài ngày ....20
3.2.5. Đánh giá ảnh hưởng lên chức năng thận khi dùng B-64.VN dài ngày... 21


3.2.6. Mô bệnh học tạng của chuột thí nghiệm ...............................................21
3.3. Các kết quả đã đạt được ...........................................................................21
Phần 4. KẾ HOẠCH VÀ KIẾN NGHỊ ...........................................................21
4.1. Kế hoạch triển khai ...................................................................................22
4.2. Kinh phí ....................................................................................................22
4.3. Người hướng dẫn ......................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................23


ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, đáp ứng nhu cầu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, đặc biệt là
vùng biển, Quân đội đã được đầu tư trang bị nhiều vũ khí, phương tiện hiện đại
trong đó có các tàu ngầm. Một số tàu ngầm hiện nay quân đội sử dụng do Nga
sản xuất, mới được trang bị cho Quân đội. Trong điều kiện, đặc thù tác chiến
phức tạp của tàu ngầm, việc nổi lên mặt nước lấy O 2 không phải khi nào cũng
thực hiện được. Do vậy, các sản phẩm có tác dụng tuần hoàn, tái sinh không khí
có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tác chiến của các tàu ngầm.
Các tàu ngầm của Hải quân nhân dân Việt Nam đang sử dụng các tấm tái
sinh không khí do Nga sản xuất (tấm B-64). Sản phẩm tấm B-64 có đặc thù quân
sự, giá không được công bố rộng rãi, theo tham khảo từ đối tác Nga thì giá 1 hộp
B-64 khoảng 200.000 Rub (khoảng 70 triệu đồng), chưa tính các loại thuế, phí,

Phần 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về tình trạng thiếu oxy
Thiếu oxy là một quá trình bệnh lý phức tạp do các cơ quan không đảm
bảo cung cấp được oxy đầy đủ cho nhu cầu chuyển hóa bình thường của tế bào
hoặc do tế bào tổ chức vì một lý do nào đó không sử dụng được oxy.
Có rất nhiều cơ chế tham gia vào quá trình cung cấp oxy cho tổ chức như:
sự thông khí, khả năng khuếch tán của phổi, sự tuần hoàn vận chuyển oxy bởi
máu, sự khuếch tán qua màng tế bào vào tổ chức và quá trình hô hấp tế bào…
cho nên khi rối loạn một trong các cơ chế trên đều có thể dẫn tới thiếu oxy.
* Nguyên nhân và bệnh sinh của thiếu oxy
Theo nguyên nhân và bệnh sinh có thể phân thành 3 loại
Thiếu oxy do nguyên nhân hô hấp gồm:
Thiếu oxy do tác dụng trực tiếp của áp lực khí quyển với các hiện tượng
giảm áp lực khí quyển gây giảm phân áp O2 trong không khí thở (khi bay lên
cao, leo núi hoặc sống trên núi cao, tàu vũ trụ…), giảm áp lực đột ngột khi tháo
hơi thùng lặn, hoặc tăng cao áp lực khí quyển khi lặn sâu dưới biển, trong thùng
lặn, tàu ngầm…
Thiếu oxy trong các bệnh lý về hô hấp do rối loạn thông khí, khuếch tán
hoặc rối loạn đông máu trong các mao mạch phổi, cân bằng hô hấp, tuần hoàn
trong các mao mạch phổi.
Thiếu oxy do giảm áp
Nguyên nhân của loại thiếu oxy này là do khi lên cao trên mức của mặt
biển, áp lực khí quyển giảm do đó áp lực O2 trong không khí cũng giảm gây
giảm phân áp O2 trong phế bào và trong máu động mao mạch và thiếu oxy. Có
thể tính theo công thức sau:
pO2 kk = nồng độ O2 trong kk (Pkq - 47)
- pO2 kk là áp lực O2 trong khí thở (mmHg).

3


4


4000m dấu hiệu rõ rệt hơn, nhức đầu, buồn nôn, mệt mỏi thất thường, kém trí
nhớ, khó thở, tím tái, hô hấp chu kỳ… Độ cao 6000m là giới hạn cuối cùng
mà con người có thể chịu đựng được mà không cần có thêm oxy. Chết trong
bệnh độ cao và núi cao là do tê liệt trung tâm hô hấp và ức chế hệ TKTƯ và
các trung khu thần kinh. Ở bệnh leo núi còn có tình trạng nhiễm toan chuyển
hóa do các cơ phải làm việc trong hoàn cảnh thiếu oxy sản sinh nhiều acid
lactic và các acid khác.
Với những dân tộc sống trên núi cao thì tình trạng thiếu oxy mãn được các
cơ chế thích nghi bù đắp giải quyết, ổn định cân bằng nội môi: hồng cầu có thể
tăng tới 7-8 triệu/mm3 máu, nhiễm kiềm hơi được bù đắp tăng thải trừ khí
bicarbonat của thận, do đó cung cấp và sử dụng oxy, oxy của tế bào được đảm
bảo và những người này có thể sống và lao động sản xuất như bình thường.
Thiếu oxy do nguyên nhân tim mạch và máu
+ Do rối loạn tuần hoàn tại chỗ hoặc toàn thân: tất cả các trường hợp
giảm huyết áp động mạch, giảm cung lượng máu tới tổ chức đều dẫn tới thiếu
oxy: suy tim, sốc, mất máu nhiều…
+ Do “shunt” tĩnh mạch-động mạch: khi một phần máu tĩnh mạch không
được trao đổi khí đổ thẳng vào máu động mạch, làm giảm độ bão hòa oxy máu
động mạch, gọi là “shunt”. Các “shunt” bệnh lý thường gặp: các vùng phổi
không được lưu thông khí (xẹp phổi, viêm phổi…), các chỗ thông phồng động
mạch, máu u mạch máu, các bệnh tim bẩm sinh: thông liên nhĩ, liên thất…
+ Do bệnh lý của huyết cầu tố:
- Thiếu máu có giảm số lượng hồng cầu và lượng huyết cầu tố ảnh hưởng
đến vận chuyển oxy tổ chức.
- Bệnh huyết cầu tố là những bệnh di truyền do rối loạn tổng hợp huyết
cầu tố bình thường (HbA) gây xuất hiện các huyết cầu tố bệnh lý (HbS hoặc
HgF) làm thay đổi chức năng vận chuyển oxy của hồng cầu và hình thể hồng

6


Thiếu oxy do nguyên nhân tổ chức
Tổ chức không sử dụng được oxy khi có rối loạn hô hấp tế bào. Hô hấp tế
bào là một quá trình oxy hóa- khử phức tạp, tiến hành nhờ hệ thống men hô hấp
được phân thành những phản ứng dây chuyền liên quan chặt chẽ với nhau:
+ Phản ứng tách H được thực hiện nhờ các men tách H (dehydrase hay
dehydrogenase), men này dễ bị hỏng ở nhiệt độ trên 550C và bị ức chế bởi các
loại thuốc ngủ barbiturat, trong thành phần có sinh tố.
+ Phản ứng chuyển H tiếp sau đó nhờ các men coenzym I và II (DPN=
diphosphoric nucleotid và TPN triphosphoric nucleotid) và thành phần có sinh tố
PP, rồi chuyển tiếp nhờ men flavopretoin thành phần có sinh tố B 1 đều dễ bị các
chất fluorua, cyanua ức chế.
+ Phản ứng chuyển điện tử nhờ các men oxydafa, hệ cytocrom và
cytocrom oxydase. Các men này dễ bị các chất cyanua, As, H2S ức chế.
Như vậy dù chỉ một khâu trong chuỗi phản ứng này bị rối loạn, quá trình
hô hấp tế bào cũng không thực hiện được, do đó tuy oxy được cung cấp đầy đủ,
tổ chức cũng không sử dụng được oxy.
Nguyên nhân của hô hấp tế bào có thể là:
- Thiếu cơ chất (thiếu ăn, đái tháo đường, suy nhược…) gây thiếu sinh tố
và thiếu men hô hấp tế bào.
- Nhiễm độc các chất ức chế hô hấp tế bào, các thuốc ngủ, CO, H 2S, As,
fluorua, cyanua, các chất độc tạo ra trong quá trình nhiễm khuẩn, u độc…
Trong loại thiếu oxy này, pO2 vẫn bình thường và vì O2 không được sử
dụng nên pO2 trong máu tĩnh mạch tăng lên một cách bất thường.
Như vậy nguyên nhân và bệnh sinh rất phức tạp, trong thực tế các loại
thiếu oxy thường kết hợp với nhau, phải khám xét lâm sàng và theo dõi các dấu
hiệu sinh vật đầy đủ để phát hiện và cung cấp oxy là một biện pháp tốt nhưng


có thể tăng tới 0,85 và máu tĩnh mạch ít oxy trở thành màu tím sẫm.

8


- Chuyển hóa vật chất giai đoạn đầu tăng nhưng sau đó giảm rõ rệt, thân
nhiệt cũng giảm có tác dụng giảm bớt nhu cầu oxy của cơ thể, tạo điều kiện
phục hồi các chức phận và tăng cường sức đề kháng của cơ thể với thiếu oxy.
Thích ứng của hệ thần kinh và nội tiết:
- Khi thiếu oxy, lúc đầu hệ thần kinh hưng phấn sau đó phát sinh ức chế
bảo vệ ở vỏ não và toàn bộ hệ TKTƯ, đồng thời với giảm chuyển hóa, giảm thân
nhiệt và giảm hoạt động các chức phận khác của cơ thể. Nhưng nếu nguyên
nhân gây thiếu oxy vẫn tiếp tục, hệ thần kinh bị ức chế sâu sắc sẽ gâu nhiều biến
loạn nguy hiểm.
- Nghiên cứu về sinh hóa học thấy trong thiếu máu não có rối loạn tổng
hợp và giảm lượng ATP và PC ở tổ chức não rất nhanh. ATP và PC là những hợp
chất lân cao năng cần thiết cho sự chuyển giao năng lượng nhận được trong quá
trình oxy hóa và được sử dụng cho hoạt động của tế bào. Như vậy, ATP và PC
giảm nhanh trong giai đoạn hưng phấn và lại lên có xu hướng hồi phục trong
giai đoạn ức chế bảo vệ; lượng ARN cũng giảm trong giai đoạn hưng phấn và
tăng trong giai đọan ức chế bảo vệ. Nhưng nếu thiếu oxy nặng và kéo dài, sự
giảm các hợp chất lân cao năng và ARN nghiêm trọng sẽ dẫn tới hiện tượng
thiếu năng lượng cho tế bào thần kinh và thường là nguyên nhân của chết.
Những kết quả nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ phần nào nguyên nhân của sự
mẫn cảm cao của hệ TKTƯ đối với thiếu oxy và phát hiện được bản chất hóa
học của ức chế bảo vệ cũng như vai trò phòng ngự của nó trong thiếu oxy. Như
vậy để thích ứng với thiếu oxy, vai trò quyết định là tăng khả năng tái tổng hợp
các chất lân cao năng và tăng hoạt tính tổng hợp acid nhân, chủ yếu trong tổ
chức thần kinh. Dùng Altinomixin ức chế sự tổng hợp ARN dẫn tới làm tổn
thương các phản ứng thích ứng và dẫn tới tử vong ở đa số động vật thí nghiệm.

Hậu quả của thiếu oxy còn chịu ảnh hưởng của tuổi tác (trẻ sơ sinh chịu
đựng tốt nhưng người già và trẻ em lại chịu đựng rất kém đối với thiếu oxy),
trạng thái chức phận hệ TKTƯ (thần kinh ở trạng thái hưng phấn dễ chết và ở
trạng thái ức chế lâu chết hơn so với ở trạng thái bình thường), và ảnh hưởng

10


của bệnh tật (thiếu máu, bệnh phổi), nghiện rượu, gây mê sâu… đều làm cơ thể
chịu đựng kém với thiếu oxy.
Diễn biến của thiếu oxy
Thiếu oxy cấp thường diễn biến qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn hưng phấn phát sinh khi thiếu oxy còn nhẹ: thần kinh ở trạng
thái hưng phấn, sảng khoái, dễ chịu hay cười nói, chuyển hóa tăng mạnh và hô
hấp cũng tăng cường có tác dụng bù đắp.
- Giai đoạn ức chế phát sinh khi thiếu oxy vẫn tiếp tục, hệ TKTƯ bị ức
chế lúc đầu có tính chất bảo vệ phòng ngự, biểu hiện mệt mỏi, buồn ngủ, nhức
đầu, trí nhớ giảm, các phản xạ giảm, các chức năng cơ thể đều giảm hoạt động,
chuyển hóa vật chất cũng giảm…
- Giai đoạn kiệt quệ do ức chế nghiêm trọng hệ TKTƯ gây rối loạn toàn
bộ cơ thể khi thiếu oxy nặng và kéo dài, có thể dẫn tới những rối loạn không hồi
phục ở các cơ quan quan trọng (não, tim, gan, thận) và chết khi phân áp O2 máu
giảm tới 40-20 mmHg.
1.2. Tổng quan về tấm tái sinh không khí B-64.VN
Tấm tái sinh không khí B-64 do Nga sản xuất, là vật tư đi kèm theo
khi nhập khẩu tàu ngầm Kilo. Một hộp B-64 chứa 25 tấm, có khả năng đảm
bảo tái sinh không khí cho một người trong 64 giờ tàu lặn. Mục đích sử
dụng các tấm tái sinh không khí là để duy trì nồng độ oxy từ 19%- 25% và
nồng độ CO 2 không quá 1,3% trong tàu ngầm nhằm đảm bảo tác chiến của
tàu ngầm trong điều kiện không thể có thông gió với môi trường bên ngoài

sinh với không khí. Điều kiện tối ưu cho vận hành là:
Nhiệt độ: Từ 100C đến 300C.
Độ ẩm tuyệt đối của không khí: 8-25 mg/l.
Áp suất tuyệt đối nhỏ hơn 1,5 kgf/cm2.
+ Sử dụng các tấm tái sinh không khí khi nồng độ CO 2 trong khoang đạt
tới 1% hoặc nồng độ O2 giảm còn 19% khi mà tàu không thể thông gió với môi
trường bên ngoài.
1.3. Các nghiên cứu về tình trạng thiếu oxy

12


Phần 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, nguyên vật liệu nghiên cứu
2.1.1. Chế phẩm nghiên cứu

Tấm tái sinh không khí B-64.VN, do Phòng Vật liệu, Viện Độ bền Nhiệt
đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga cung cấp, đạt tiêu chuẩn chất lượng sản
phẩm. Số lượng 666 tấm.
Tấm tái sinh B-64 Nga, do Phòng Vật liệu, Viện Độ bền Nhiệt đới , Trung
tâm Nhiệt đới Việt Nga cung cấp, dùng làm chế phẩm đối chứng. Số lượng
19-37 tấm.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu

Chuột nhắt trắng, chủng Swiss, cả hai giống, cân nặng 25 ± 1 g, số lượng
230 con.
Động vật thí nghiệm do Ban chăn nuôi động vật thí nghiệm - Học viện
Quân y cung cấp, nuôi dưỡng trong phòng nuôi động vật thí nghiệm ít nhất
một tuần trước khi tiến hành thí nghiệm. Động vật ăn thức ăn theo tiêu chuẩn
thức ăn cho động vật nghiên cứu, nước sạch đun sôi để nguội uống tự do.

Chuột nhắt trắng đủ tiêu chuẩn thí nghiệm, cân nặng 25g/con, số lượng 70
con, chia ngẫu nhiên thành 7 lô, mỗi lô 10 con.
- Lô 1 (lô nghiên cứu 1): nhốt trong buồng kín với tấm B-64.VN 6g/con.
- Lô 2 (lô nghiên cứu 2): nhốt trong buồng kín với tấm B-64.VN 12g/con.
- Lô 3 (lô nghiên cứu 3): nhốt trong buồng kín với tấm B-64.VN 18g/con.
- Lô 4 (lô tham chiếu 1): nhốt trong buồng kín với tấm B-64 Nga 6g/con.
- Lô 5 (lô tham chiếu 2): nhốt trong buồng kín với tấm B-64 Nga 12g/con.
- Lô 6 (lô tham chiếu 3): nhốt trong buồng kín với tấm B-64 Nga 18g/ con.
- Lô 7 (lô chứng): nhốt trong buồng kín, không có tấm tái sinh không khí.
Xác định sự biến đổi về tần số thở, nồng độ CO 2, O2 trong buồng kín và
thời gian sống của chuột... từ đó đánh giá được khả năng hoạt động của tấm tái
sinh không khí B-64.VN và mức độ duy trì hoạt động sống trong thử nghiệm với
chuột trong buồng kín so với tấm B-64 Nga.
2.2.2. Đánh giá tính an toàn của tấm tái sinh không khí B-64.VN

14


Thời gian nghiên cứu, cách phân lô động vật nghiên cứu và các chỉ tiêu để
đánh giá tính an toàn của tấm tái sinh không khí trên động vật thực nghiệm được
xây dựng theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam, khuyến cáo của tổ chức y tế thế
giới và OECD về đánh giá tính an toàn trên động vật thực nghiệm. Việc thiết kế
buồng nghiên cứu và điều kiện thử nghiệm dựa phương pháp của Jordan B.
Holquist và cộng sự (2014) có sửa đổi cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Theo Jordan B. Holquist và cộng sự (2014), dựa trên lượng O 2 cần tiêu thụ,
một thiết bị cung cấp O2 cho 40 chuột (1,2 kg) trong 10 ngày tương đương với
việc cung cấp O2 cho một người (70 kg) trong 2- 3 ngày.
Lượng O2 tiêu thụ có thể quy đổi giữa chuột và người theo công thức quy
đổi liều giữa chuột nhắt trắng và người. Theo công thức quy đổi, nếu ta xem
lượng O2 tiêu thụ ở người cho 1 kg trọng lượng trong 1 ngày là 1 đơn vị, thì

nhiên thành 4 lô, mỗi lô 40 con.
- Lô 1 (lô nghiên cứu 1): Cho 40 chuột vào buồng nghiên cứu, đóng kín với
tấm B-64.VN trong 10 ngày. Khối lượng tấm B-64.VN là 40 chuột x 20g x 10
ngày = 8.000g (8kg).
- Lô 2 (lô nghiên cứu 2): Cho 40 chuột vào buồng nghiên cứu, đóng kín với
tấm B-64.VN trong 20 ngày. Khối lượng tấm B-64.VN là 40 chuột x 20g x 20
ngày = 16.000g (16kg).
- Lô 3 (lô nghiên cứu 3): Cho 40 chuột vào buồng nghiên cứu, đóng kín với
tấm B-64.VN trong 30 ngày. Khối lượng tấm B-64.VN là 40 chuột x 20g x 30
ngày = 24.000g (24kg).
- Lô 4 (lô chứng sinh lý): Cho 40 chuột vào buồng nghiên cứu, mở buồng
cho thở không khí tự nhiên.
Các lô từ lô 1 đến lô 3, sau khi kết thúc thời gian nuôi chuột trong buồng
kín, đều được chia ra làm 2 nhóm, mỗi nhóm 20 con. Một nhóm được giết và
xác định các chỉ tiêu nghiên cứu ngay khi ra khỏi buồng kín (gọi là nhóm a);
một nhóm được tiếp tục nuôi ở điều kiện bình thường trong thời gian 10 ngày
(đánh giá tác dụng hồi phục tổn thương nếu có) sau đó được giết và xác định các

16


chỉ tiêu nghiên cứu (gọi là nhóm b). Như vậy ta sẽ có các nhóm 1a, 1b, 2a, 2b,
3a, 3b.
Riêng lô 4 (lô chứng sinh lý) sẽ được lấy ra ngẫu nhiên mỗi lần 10 chuột tại
các thời điểm sau 10, 20, 30 và 40 ngày để xác định các chỉ tiêu nghiên cứu,
hình thành các nhóm 4-1, 4-2, 4-3 và 4-4.
Các chỉ tiêu nghiên cứu:
+ Hoạt động của chuột (các biểu hiện ủ rũ, chậm chạp hay kích thích thần
kinh...), tình trạng lông, ăn uống, phân: trước và sau thí nghiệm của mỗi lô.
+ Cân nặng: trước và sau thí nghiệm của mỗi lô.


Lô 2 (nghiên cứu 2) (2)

Tấm B-64.VN 12g/con.

Lô 3 (nghiên cứu 3) (3)

Tấm B-64.VN 18g/con.

Lô 4 (nghiên cứu 4) (4)

Tấm B-64.Nga 6g/con.

Lô 5 (nghiên cứu 5) (5)

Tấm B-64 Nga 12g/con.

Lô 6 (nghiên cứu 6) (6)

Tấm B-64 Nga 18g/con.

Lô 7 (chứng sinh lý) (7)

Không có tấm tái sinh không khí.

Thời gian sống (giờ)

- Dự kiến kết quả đạt được: chuột ở lô 7 (chứng sinh lý) sẽ có thời gian
sống ngắn, chuột ở lô có khối lượng tấm tái sinh lớn hơn sẽ có thời gian sống dài
hơn. Cụ thể là thời gian sống của chuột ở lô 3, 6 > lô 2, 5 > lô 1, 4.

(buồng kín +B-64.VN 10 ngày; buồng hở 10 ngày)
Nhóm 2a (5)
(buồng kín +B-64.VN 20 ngày)
Thời điểm ngày thứ 30
Nhóm 4-3 (chứng) (6)
(buồng hở 30 ngày)
Nhóm 2b
(7)
(buồng kín +B-64.VN 20 ngày; buồng hở 10 ngày)
Nhóm 3a (8)
(buồng kín +B-64.VN 30 ngày)
Thời điểm ngày thứ 40
Nhóm 4-4 (chứng) (9)
(buồng hở 40 ngày)
Nhóm 3b (10)
(buồng kín +B-64.VN 30 ngày; buồng hở 10 ngày)
- Dự kiến kết quả đạt được:
3.2.2. Ảnh hưởng của B-64.VN đối với một số chỉ tiêu huyết học của chuột

19


- Chỉ số đánh giá: Số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, hematocrit,
thể tích trung bình hồng cầu, số lượng bạch cầu, tiểu cầu. So sánh chuột ở lô
chứng và các lô dùng B-64.VN.
Số lượng hồng cầu
Nhóm chuột nghiên cứu
Thời điểm ngày thứ 10
Nhóm 4-1 (chứng) (1)
Nhóm 1a (2)

- Dự kiến kết quả đạt được:
3.2.6. Mô bệnh học tạng của chuột thí nghiệm
- Chỉ số đánh giá:
Quan sát hình ảnh đại thể bằng mắt (dưới kính lúp) hình thái, màu sắc: gan,
lách, thận, phổi, não ở nhóm chuột trong buồng kín với thời gian 10, 20, 30 ngày
lô dùng tấm tái sinh không khí B-64.VN so sánh với chuột ở lô chứng.
Quan sát hình ảnh vi thể dưới kính hiển vi (mô bệnh học): gan, lách, thận,
phổi, não chuột sử dụng tấm tái sinh không khí B-64.VN trong buồng kín thời
gian 30 ngày so sánh với chuột ở lô chứng.
- Dự kiến kết quả đạt được:
3.3. Các kết quả đã đạt được
Đánh giá được khả năng hoạt động của tấm tái sinh không khí B-64.VN
trong thử nghiệm với chuột trong buồng kín.
+ Thời gian sống của chuột trong thử nghiệm so sánh tấm tái sinh không
khí B-64.VN với B-64 Nga.
+ Sự biến đổi nồng độ O2, nồng độ CO2 và tần số thở trong buồng kín trong
thử nghiệm so sánh với tấm tái sinh không khí B-64 Nga.
Đánh giá được ảnh hưởng của việc hít thở khí tái sinh bởi tấm B-64.VN
trong buồng kín lên tình trạng chung và sự thay đổi thể trạng của chuột thực
nghiệm.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status