BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
DƯƠNG HÀ LIÊN
§¸NH GI¸ KÕT QU¶
PHÉU THUËT T¹O H×NH BIÕN D¹NG M¤I
SAU PHÉU THUËT KHE Hë M¤I MéT B£N
BÈM SINH
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
DƯƠNG HÀ LIÊN
§¸NH GI¸ KÕT QU¶
PHÉU THUËT T¹O H×NH BIÕN D¹NG M¤I
SAU PHÉU THUËT KHE Hë M¤I MéT B£N
BÈM SINH
Chuyên ngành: Phẫu thuật tạo hình
Mã số: 60720123
PT
: Phẫu thuật
PTTH
: Phẫu thuật tạo hình
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khe hở môi (KHM) và khe hở vòm miệng (KHVM) là những loại dị tật
bẩm sinh phổ biến vùng hàm mặt. Những dị tật này thường xảy ra nhiều hơn
so với các dị tật khác trên cơ thể do vùng hàm mặt là một trong những vùng
có nhiều biến đổi phức tạp về bào thai. Theo các tài liệu thống kê trên thế giới
cũng như của Việt Nam tỉ lệ này thay đổi trong khoảng 1/500 - 1/2500, tùy
theo vùng địa lý và dân tộc [1]. Theo thống kê của Bộ Y tế, tình hình trẻ em bị
KHM và KHVM chiếm tỉ lệ 0,1- 0,2 % trẻ sơ sinh ở Việt Nam. Như vậy ước
tính ở Việt Nam với tỉ lệ sinh những năm 1997-2002 là 2% dân số thì mỗi
chữa biến dạng mũi môi đòi hỏi cần được nghiên cứu tỉ mỉ và chính xác hơn,
để đưa ra những phương pháp phẫu thuật phù hợp, trả lại vẻ đẹp tự nhiên nhất
của môi để giúp những trẻ có dị tật tự tin hơn trong cuộc sống. Đây cũng là
vấn đề có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình biến dạng môi sau phẫu thuật
khe hở môi một bên bẩm sinh” với 2 mục tiêu sau:
1
Mô tả đặc điểm lâm sàng của biến dạng môi sau phẫu thuật KHM
một bên bẩm sinh.
2
Đánh giá kết quả sau phẫu thuật sửa chữa các biến dạng môi.
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm giải phẫu của môi bình thường [3], [5], [6], [7]
1.1.1. Hình thể ngoài của môi
- Vùng môi nằm ở giữa tầng mặt dưới gồm có môi trên và môi dưới tách rời
nhau bởi khe môi. Giới hạn các phía của môi: trên là nền mũi, hai bên là rãnh
mũi má, giới hạn phía dưới là rãnh cằm.
- Nhìn bề ngoài môi trên được chia làm 2 phần: gồm da môi (môi trắng) và
niêm mạc môi (môi đỏ). Ranh giới giữa môi đỏ và môi trắng là đường viền
môi.
Hình 1.1: Giải phẫu môi bình thường
tương quan mang tính thẩm mỹ và cũng nằm trong mối tương quan của hàm
trên và hàm dưới. Ở người bình thường khi nhìn nghiêng, môi trên hơi nhô ra
trước so với môi dưới, nhất là mấu lồi môi.
1.1.2. Cấu tạo bên trong của môi
Vùng môi gồm 2 nhóm cơ hoạt động đối ngược nhau, là nhóm cơ đóng
miệng và nhóm cơ mở miệng.
Trong đó hệ thống cơ của môi trên gồm ba cơ chính:
+ Cơ vòng môi (orbicularis oris),
+ Cơ nâng môi trên (levator labii superioris),
+ Cơ hạ vách mũi (depressor septi).
11
Hình 1.2: Giải phẫu cơ môi trên
Trong đó cơ vòng môi là cơ chủ yếu, cơ khu trú khoanh tròn toàn bộ
khe miệng và tiếp xúc riêng biệt phía trước với da và phía sau với niêm
mạc miệng. Cơ gồm hai phần là lớp nông và lớp sâu: Lớp cơ nông đưa hai
môi chạm nhau và khi các cơ co độc lập thì biểu hiện nét mặt. Lớp cơ sâu
bao vòng quanh miệng và chỉ thực hiện chức năng co miệng. Các sợi cơ
sắp xếp bắt chéo ở đường giữa để cài vào gờ nhân trung bên đối diện và
hình thành nên phần gờ nhân chung. Hõm nhân trung có phần da không
bám ở giữa.
Theo Fasra M (1990) thì phần dưới của cơ vòng môi cài vào gần tới
viền môi đỏ và lộn xuống phía dưới tới nhân trung tạo ra mấu lồi môi.
Cơ nâng môi trên: đi trên bề mặt của cơ vòng môi và cùng vơi nó tạo
thành phần dưới cuả nhân trung, các cơ này bắt chéo và bám vào da ở phần
dưới của nhân trung cũng như đường viền môi và đỉnh cung cupidon.
khe hở môi.
+ Trong khe hở môi toàn bộ: cơ vòng môi bị gián đoạn hoàn toàn, các
đầu cơ bám vào 2 bờ của khe hở. Ở bờ trong các bó cơ vòng môi bám ngược
lên vào chân trụ mũi và gai mũi trước. Ở bờ ngoài các bó cơ vòng lên bám
vào chân cánh mũi.
- Cơ ngang mũi: chạy từ lưng mũi xuống, vắt qua chân cánh mũi bên khe
hở bám lạc chỗ vào chân cánh mũi.
Hình 1.5: Hình ảnh thay đổi giải phẫu cơ trong KHM một bên
Như vậy khe hở dẫn đến sự bám tận không bình thường của cơ vòng môi
lần lượt vào gai mũi trước và chân cánh mũi. Sự bám lạc chỗ của cơ vòng môi
14
và cơ ngang mũi, dần dần theo thời gian phát triển kéo các bờ khe hở vồng lên
như mặt kính đồng hồ.
1.2.2. Phân loại khe hở môi một bên [3], [10], [11], [14]
KHM một bên thường thấy ở vị trí môi tương ứng với khe giữa răng
cửa và răng nanh. Tổn thương chạy theo hướng thẳng đứng, vuông góc với
làn môi đỏ và cung răng. Có nhiều cách phân loại khe hở môi một bên, nhưng
trên lâm sàng, theo mức độ, thường chia làm 3 loại:
- Khe hở môi màng: thể hiện bằng một rãnh hay một đường sẹo nằm trên
môi và chạy song song với gờ nhân trung tới môi đỏ. Đôi khi chỉ là một rãnh
khuyết nằm ở vùng môi đỏ. Toàn bộ môi hai bên vẫn dính với nhau qua một
cầu mô (dải Simonat) có kèm theo nền lỗ mũi giãn rộng nhẹ
Hình 1.6: KHM màng
- Khe hở môi không toàn bộ: có nhiều mức độ khác nhau từ bé đến lớn,
nhưng khe hở không lan đến nền lỗ mũi. Một số trường hợp khe hở không
Hình 1.9: Phương pháp tạo hình KHM của Embroiser Pare (1584)
- Thế kỷ XIX và XX Rose (1891) và Thompson (1912): Phẫu thuật tạo
hình KHM bằng các đường rạch thẳng và bắt đầu có những cải tiến là tăng
chiều cao môi bằng các đường rạch gấp khúc.
Hình 1.10: Tạo hình KHM bằng đường rạch thẳng hay gấp khúc
- Cũng thế kỷ XIX Giraldes (1866): PT KHM bằng sử dụng tạo hình
chữ Z. Với kỹ thuật tạo hình chữ Z vừa tăng được chiều cao môi, vừa chỉnh
được trục của trụ mũi
17
Hình 1.11: Tạo hình KHM bằng tạo hình chữ Z
- Đến Thế kỷ XX Blair (1930), Brown (1945): các tác giả bắt đầu muốn
tạo ra đường sẹo tự nhiên hơn. Sử dụng các đường rạch cong hay vạt tam giác
phía dưới để tăng chiều cao môi. Như vậy tăng chiều cao không chỉ ở phần da
mà cả phần môi đỏ. Nhưng sẹo vẫn là đường thẳng
Hình 1.12: Tạo hình KHM bằng tạo hình chữ Z cả môi đỏ
- 1949 Le Mesurier đã sử dụng phương pháp tạo hình KHM bằng vạt tứ giác
18
Hình 1.13: Tạo hình KHM bằng vạt tứ giác
Phương pháp này giúp tăng chiều cao nhiều nhất, nhưng có nhược điểm
là sẹo nằm ở giữa nhân trung, đường sẹo không tự nhiên.
- Năm 1962 Nguyễn Khác Giảng và Nguyễn Văn Thụ đã cải tiến đường
rạch và tạo khe chêm cho phương pháp Le Mesurier
- Năm 1981, Mai Đình Hưng áp dụng các phương pháp Trauner,
Asenssion có cải biên để mổ cho những trường hợp KHM một bên rộng.
- Năm 1994 tác gải Nguyễn Viết Sơn áp dụng phương pháp Millard
trong phẫu thuật KHM một bên toàn bộ.
- Năm 1995 tác gải Phạm Như Hoa ứng dụng phương pháp Millard cải
tiến trong phẫu thuật KHM một bên.
- Năm 2009 tác giả Nguyễn Văn Minh ứng dụng tạo hình chữ Z ở trên
đường viền da - môi đỏ trong phương pháp Millard mổ KHM 1 bên toàn bộ.
20
- Năm 2013, tác giả Trần Phương Bình ứng dụng phương pháp Millard
cải tiến trong KHM một bên toàn bộ.
- Năm 2015, Khoa Tạo hình sọ mặt bệnh viện Nhi trung ương Sử dụng
các kỹ thuật Millard, Onizuka và Tenisson và kỹ thuật Zplasty, ghép sụn trong
phẫu thuật tạo hình khe hở môi và biến dạng mũi.
Cho đến nay phương pháp thông dụng nhất là Millard và Tennision.
1.3.2. Các phương pháp tạo hình KHM một bên hay sử dụng hiện nay [3],
[9], [10], [11], [14]
+ Mục tiêu của phẫu thuật tạo hình KHM, Theo Millard [3], [10], [21]:
- Kết nối hai bên khe hở mà không mất các mốc tự nhiên bao gồm phần
còn lại của cung Cupid hoặc hõm nhân trung. Loại bỏ ít tổ chức nhất có thể.
- Tạo sự liên tục và cân đối của cung Cupid.
- Sẹo nằm ở đường tự nhiên.
- Các cơ được nối với nhau toàn bộ chiều dày
- Tạo hình môi đỏ với chiều dầy đồng đều.
- Cánh mũi cân đối và trụ mũi cân bằng hai bên.
Mesurier)
Hình 1.17: Kỹ thuật tạo hình KHM bằng vạt tứ giác.
22
Le Mesurie năm 1949 đã sử dụng vạt da và niêm mạc hình tứ giác ở bên
khe hở chèn vào bên lành.
- Phương pháp này hiện nay không còn sử dụng do có hai nhược điểm là
đường sẹo không tự nhiên ngay giữa nhân trung và cắt đi nhiều tổ chức phần
ngoài môi dễ gây lệch và thiếu chiều dài môi.
Tạo hình KHM một bên bằng phương pháp vạt chèn tam giác (Kỹ
thuật Tennision- Randall)
Hình 1.18: Kỹ thuật Tennision - Randall
Tennision sử dụng một vạt tam giác nhỏ ở bờ ngoài khe hở sát viền
cung cupidon dịch chuyển và chèn vào khuyết tam giác ở bờ trong khe hở
cũng sát cung cupidon. Năm 1959 Randall trên cơ sở của phương pháp này
đã đưa toán học vào để tính toán các vạt khi phẫu thuật nên người ta gọi
phương pháp này là Tennision - Randall.
+ Ưu điểm: phương pháp này cần đo đạc chĩnh xác trước phẫu thuật do
đó phẫu thuật khá thuận lợi theo thiết kế đã có sẵn, kéo dài chiều cao môi từ
cung cupidon đến nền mũi khá hiệu quả. Tạo hình chữ Z tạo được viền trên
môi đỏ khá tự nhiên.
+ Nhược điểm: Tạo ra một vết sẹo khá ngoằn ngoèo ở phần dễ nhận thấy
nhất của môi, sẹo đi qua phần dưới của nhân trung và làm dẹt 1/3 dưới của
nhân trung. Đôi khi tăng quá mức chiều cao bên khe hở nếu tính toán không
+ Ưu điểm của phương pháp: trả lại mô về vị trí giải phẫu bình thường,
tạo nên đường viền môi trên cân đối, tạo sẹo dọc theo trục nhân trung, giữ
được hõm nhân trung. Đường rạch da có thể được điều chỉnh trong khi phẫu
thuật, vì vậy chiều cao môi có thể được thay đổi.
+ Nhược điểm: Kỹ thuật này khó, để lại sẹo ở gốc mũi. Có thể bị sẹo
thẳng gây co kéo với vết lõm hình chữ V trên môi đỏ. Lỗ mũi có thể bị thu
nhỏ quá mức do co kéo sẹo ngang qua lỗ mũi bên khe hở. Nếu không kết hợp
tạo hình cơ thì sẽ để lại những di chứng khó khắc phục như xẹp cánh mũi,
lõm nền mũi.
* Tạo hình cho cơ:
- Dù kỹ thuật tạo hình da được áp dụng theo phương pháp nào thì về
nguyên tắc phục hồi lại vị trí giải phẫu của cơ ở môi là yếu tố quyết định đến
kết quả xa của phẫu thuật. Bước này đặc biệt quan trọng trong tạo hình KHM
toàn bộ.
+ Phục hồi lại đầu bám tận của cơ ngang mũi: Do cơ ngang mũi bên KH
bám lạc chỗ vào chân cánh mũi nên cần giải phóng đầu cơ, khâu đầu cơ này
vào gai mũi trước trên của xương hàm trên.
+ Phục hồi sự liên tục của cơ vòng môi: Do cơ vòng môi gồm hai bó
chéo và bó ngang nên khi phục hồi cơ này cần tính đến vị trí giải phẫu của
từng bó. Sau khi tách khỏi nơi bám tận lạc chỗ ở chân cánh mũi, bó cơ chéo
phải được khâu đính vào gai mũi trước, bó ngang cần đươc khâu vào đầu bó
ngang ở bên đối diện.
25
* Kỹ thuật tạo hình cho niêm mạc:
+ Để giảm sự co kéo của môi đỏ, có thể tạo ra một vạt chèn tam giác từ
phía khe hở sang bên lành hoặc tạo hình chữ Z trên niêm mạc môi khô.
+ Trong trường hợp KH rộng, có thể dùng vạt đẩy tại vùng ngách tiền