ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ của điện CHÂM kết hợp KHÍ CÔNG DƯỠNG SINH TRONG điều TRỊ THIỂU NĂNG TUẦN HOÀN não mãn TÍNH - Pdf 55

B GIO DC V O TO

B Y T

HC VIN Y DC HC C TRUYN VIT NAM

V C HI

ĐáNH GIá HIệU QUả CủA ĐIệN CHÂM
KếT HợP KHí CÔNG DƯỡNG SINH
TRONG ĐIềU TRị
THIểU NĂNG TUầN HOàN NãO MãN
TíNH

CNG LUN VN THC S Y HC


H NI - 2018
B GIO DC V O TO

B Y T

HC VIN Y DC HC C TRUYN VIT NAM

V C HI

ĐáNH GIá HIệU QUả CủA ĐIệN CHÂM
KếT HợP KHí CÔNG DƯỡNG SINH
TRONG ĐIềU TRị
THIểU NĂNG TUầN HOàN NãO MãN
TíNH

Tai biến mạch máu não

TĐT

Trước điều trị

THCSC

Toái hóa cột sông cổ

TNTHNMT

Thiểu năng tuần hoàn não mạn tính

YHCT

Y Học cổ truyền

YHHĐ

Y Học hiện đại


MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG


nguyên nhân dẫn đến các bệnh lý mạch máu não (nhồi máu não, sa sút trí tuệ
…) .do vậy điều trị thiểu năng tuần hòan não mạn tính đang được quan tâm
của nhiêu chuyên nghành như: thần kinh, phục hồi chức năng, dược học, y
học cổ truyền [1], [24], [53].


8

Theo y học hiện đại việc điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính chủ
yếu là điều trị nội khoa, kết hợp với các biện pháp dự phòng, hiện nay thuốc
điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính rất phong phú, tác dụng theo nhiều
cơ chế khác nhau nhưng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và kết quả điều trị
được lâu dài [59], [62].
Theo Y học cổ truyền thiểu năng tuần hoàn não mạn tính với các triệu
chứng chủ yếu là nhức đầu, chóng mặt, mất ngủ … được mô tả trong các
chứng “đàu thống”, “huyễn vựng“, ”thất miên“ … từ xa xưa y học cổ truyền
đã điều trị chứng bệnh này bằng các vị thuốc, bài thuốc và các phương pháp
không dùng thuốc như châm cứu, bấm huyệt, dưỡng sinh … trong các sách
kinh điển về châm cứu như Giáp ất kinh, Châm cứ đai thành châm cứu tiệp
hiệu diễn ca … đều giới thiệu những kinh nghiệm chữa bệnh bằng châm cứu
điều trị chứng bệnh này [57].
Kế thừa và phát huy những kinh nghiệm quí báu của y học cổ truyền kết
hợp với y học hiện đại, nghành châm cứu đã ngày càng phát triển với nhiều
phương pháp tân châm trong đó có điện châm [71]. Điện châm là là sự kết
hợp có khoa học của y học hiện đại vào châm cứu. Từ nhiều thập kỷ nay điện
châm đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị ở Việt Nam cũng như nhiều
nước trên thế giới đem lại những kết quả khả quan. Dù đã có nhiều công trình
nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính đã
được công bố và ứng dụng nhưng nghiên cứu ứng dụng điều trị bằng điện
châm mới chỉ dừng lại ở một nguyên nhân do vậy chúng tôi tiến hành đề tài

mạch dưới đòn qua lỗ của mỏm ngang 6 đốt sống cổ trên, ra phía sau khối bên
của đốt đội, qua lỗ lớn của xương chẩm vào hộp sọ hợp với động mạch đốt
sống bên đối diện tạo thành động mạch nền. Động mạch nền tận kết bằng
cách chia 2 nhánh tận: hai động mạch não sau đối với hệ động mạch cảnh
trong qua động mạch thông sau ở đa giác Willis.
Động mạch đốt sống trước khi vào não phải đi qua một vùng rất bất lợi
giữa các cơ thang và ống động mạch chật hẹp, ngay cả một số động tác vận
động cổ quá mức cũng có thể gây chèn ép động mạch tạm thời, làm hạn chế
dòng máu lên não. Nếu có thêm các bệnh lý về đốt sống cổ hoặc có bất cứ
nguyên nhân gì gây co cứng cơ thang thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới động
mạch đốt sống làm giảm lưu lượng máu lên não, quá trình này kéo dài sẽ gây
thiếu máu mạn tính ở não [27], [99], [111].
Giữa các khu vực trung tâm và ngoại vi của nhu mô não có rất ít (hoặc
không có) những mạch nối có tầm quan trọng về lâm sàng, nhưng giữa ngoài


10

sọ và trong sọ mạng nối các mạch lại rất phát triển, có thể đảm bảo cho não
được cung cấp đủ máu ngay cả khi có một sự tắc rnạch.
Các mạch máu não có sự nối tiếp phong phú, đảm bảo cho sự tưới máu
được an toàn. Mạng nối thông của hệ thống tuần hoàn não có thể chia làm 3
mức khác nhau.
Mức 1: sự nối thông giữa động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài
Mức 2: sự nối thông giữa động mạch cảnh trong và động mạch thân
nền qua đa giác Willis.
Mức 3: sự nối thông giữa động mạch tận thuộc hệ động mạch cảnh
trong và động mạch thân nền vùng vỏ não. Mạng nối này được coi là nguồn
tưới máu bù quan trọng giữa khu vực động mạch não trước và não giữa, động
mạch não giữa và động mạch não sau, động mạch não trước và não sau.

Động mạch cảnh trong đi vào hộp sọ, lướt ngang xương đá để vào xoang
hang, đi tiếp vào khoang dưới nhện và cho một nhánh đi vào hốc mắt,có tên là
động mạch mắt và tiếp đó chia thành bốn nhánh: động mạch não trước,động
mạch não giữa(động mạch sylvien); động mạch mạch mạc trước và động
mạch thông sau.
1.1.2.1. Động mạch não trước
Động mạch não trước đi bên trong hành khứu, tại đây hai động mạch não
trước nối với nhau bằng động mạch thông trước, đi tiếp lên và nằm trên thể
chai, tưới máu cho vùng vỏ - dưới vỏ gồm:
- Phần bề mặt vỏ - dưới vỏ não:
+ Phần trong của thùy chán và thùy đỉnh;
+ Bờ trên và khoảng 1/3 diện tích trên của bán cầu đại não
+ Phần trong của mặt dưới thùy chán ;
- Phần sâu: hay động mạch Heubner:
+ Đầu của nhân đuôi;
+ Phần trước của nhân đậu
+ Nửa trước của cánh tay trước bao trong
+ Phần trước của đồi thị


12

1.1.2.2. Động mạch não giữa
Đi ra phía ngoài qua rãnh thùy trán và thùy thái dương,đi tiếp hết rãnh
Sylvius,cung cấp máu cho:
-

Phần vỏ - dưới vỏ
Bao gồm:
+Phần lớn của mặt ngoài của bán cầu thùy trán ,đỉnh,ba hồi thùy


Một số nhánh đi vào đám rối mạch mạc.

1.1.2.4. Động mạch thông sau
Động mạch này rất ngắn,nối thông động mạch não giữa với động mạch
não sau.
Cung cấp cho:
-

Đồi thị

-

Hạ khâu não ; ( vùng củ não – cuống phễu )

-

Cánh tay sau của bao trong;

-

Vùng thể Luys và chân cuống não.


13

1.1.3. Hệ thống động mạch đốt sống - thân nền [34]
Có hai động mạch đốt sống, chúng đi vào lỗ mỏm ngang của đốt sống cổ,
chúng đi quanh đốt đội đi tiếp vào lỗ chẩm, tại đây chúng cung cấp máu cho
nhánh động mạch tiểu não sau dưới (PICA), các nhánh động mạch cho mặt

14

1.1.4.1. Vòng Willis
-

Động mạch thông trước nối thông hai động mạch não trước \

-

Động mạch thông sau nối hai hệ thống mạch cảnh trong và động mạch đốt
sống - thân nền
1.1.4.2. Nối động mạch cảnh ngoài với động mạch cảnh trong qua động mạch
mắt và động mạch hàm trong
1.1.4.3. Những đường nối trên của vỏ não bán cầu
Trên các vùng khác nhau của não được nối thông bằng tận – tận,hoặc
bằng chia nhánh giữa các động mạch khác nhau đan lại.
Nhờ các con đường nối thông này, khi một động mạch nào đó bị tắc,
nghẽn, hệ thống khác có thể dẫn máu tới bổ sung.
1.1.5. Một số đặc điểm sinh lý tuần hoàn não
* Sự điều hòa lưu lượng máu não
- Cơ chế tự điều hoà (Hiệu ứng Bayliss): Nếu tim đưa máu lên não
nhiều thì các mạch máu co lại, làm máu lên não ít hơn; nếu tim đưa máu lên
não ít thì các mạch máu giãn ra, làm máu lên não nhiều hơn. Đây là phản xạ
thần kinh điều hoà vận mạch não mà bộ phận nhận cảm là các cảm thụ quan
về áp suất nằm ở xoang động mạch cảnh, nơi xuất phát của động mạch cảnh
trong. Khi huyết áp động mạch trung bình dưới 70 mmHg hoặc trên 140
mmHg thì lưu lượng máu não sẽ bị rối loạn do mất hiệu ứng Bayliss.
- Sự điều hòa về chuyển hóa: Dựa trên áp lực một phần của CO2 và
PaO2 nếu PaO2 tăng trong máu sẽ làm giãn mạch và nếu giảm thì gây co
mạch và cũng chỉ tác động ở các mạch nhỏ. Nếu PaO2 tăng sẽ làm giảm lưu

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh TNTHNMT có rất nhiều và phức tạp.
Theo Phạm Khuê [47] TNTHNMT chủ yếu do vữa xơ động mạch. Vữa xơ
động mạch thường tiến triển thầm lặng trong thời gian dài không có triệu
chứng, mảng xơ vữa làm động mạch mất dần tính đàn hồi, hẹp lòng mạch dẫn
đến giảm lưu thông máu gây thiếu máu mạn tính [25] , [45] , [47] .
- Biến đổi thoái hóa xương khớp, đĩa đệm cột sống cổ làm đè ép vào
động mạch đốt sống gây thiểu năng tuần hoàn hệ động mạch đốt sống - nền.
Kết quả nghiên cứu của Strek.p và cộng sự cho thấy có 79,1% số bệnh nhân
có thoái hoá cột sống cổ có biến đổi lưu huyết não [67], [109]. Trong thoái
hoá cột sống cổ khi làm các động tác quay cổ đột ngột, động mạch đốt sống
có thể bị kẹt cũng gây thiếu máu tạm thời cho não [27] , [95].
- Dị dạng bẩm sinh hay u sùi làm hẹp lòng mạch cũng dẫn tới TNTHNMT.
- Các bệnh toàn thân: huyểt áp thấp, thiếu máu... [95] , [103] , [110] . Đào
Phong Tần và các cộng sự khi nghiên cứu về lưu huyêt não trên các bệnh nhân
huyết áp thấp thấy rằng độ đàn hồi thường giảm nên dẫn tới TNTHNMT [59].
1.2.2. Lâm sàng của thiểu năng tuần hoàn não mạn tính
Triệu chứng lâm sàng của TNTHNMT rất phong phú và thường xuất
hiện sớm. Các triệu chứng này giữ hàng đầu trong các căn cứ để chẩn đoán
thiểu năng tuần hoàn não [27] , [45] , [100] .


17

* Biểu hiện chung:

- Đau đầu: Là triệu chứng hay gặp nhất đồng thời cũng là triệu chứng
xuất hiện sớm nhất, chiếm trên 91% các trường hợp. Đau đầu vùng chẩm và
lan tỏa khắp đầu, có cảm giác căng nặng trong đầu, đau tăng khi căng thẳng
thần kinh hay vận động thể lực.
- Chóng mặt: gặp trên 87%, bệnh nhân luôn có cảm giác bồng bềnh, có


tính của Khadjev (1979).
Khadjev và cộng sự đã khám và điều tra cho 25000 người (1979), từ đó
đưa ra bảng tiêu chuẩn chẩn đoán TNTHNMT. Bảng tiêu chuẩn chẩn đoán
lâm sàng TNTHNMT của Khadjev gồm 20 tiêu chuẩn chính và điểm để đánh
giá từng tiêu chuẩn theo mức độ có, không. Nhiều nhà y học lâm sàng nghiên
cứu áp dụng đã khẳng định vị trí hàng đầu của các triệu chứng lâm sàng có
giá trị trong chẩn đoán TNTHNMT [97].
Tuy nhiên phương pháp khám này bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan của
người bệnh, đôi khi cả thầy thuốc. Do đó cần kết hợp các phương pháp cận
lâm sàng để chẩn đoán xác định TNTHNMT [45] , [47].
* Các phương pháp cận lâm sàng:

- X-quang: cột sống cổ các tư thế thẳng, nghiêng, chếch 3/4 phải trái để
đánh giá tình trạng thoái hóa đốt sống cổ: mất đường cong sinh lý, hẹp khe
gian đốt, biến dạng ở thân đốt, có các gai xương.
- Chụp cộng hưởng từ cột sống cổ cho biết chính xác vị trí và hình dạng
của các biến đổi bệnh lý do quá trình thoái hóa cột sống cổ gây ra [13], [51].
- Lưu huyết não (REG):
Lưu huyết não đồ là đường ghi sự biến thiên điện trở của não, khi có một
dòng điện xoay chiều, cường độ yếu, tần số cao (40-150kHz) chạy qua [54].
Lưu huyết não đồ cho phép đánh giá một cách khách quan tình trạng
của thành động mạch, trương lực mạch ở não, thể tích tưới máu và gián tiêp
đánh giá mức độ tổn thương vữa xơ động mạch não [6], [21].
Phương pháp ghi lưu huyết não để nghiên cứu hệ thống mạch máu não
được K.Polzer và F.Schuhfried sử dụng đầu tiên vào năm 1950 Iarullin Kh


19



đổi trên điện não đồ thường mang tính chất lan tỏa trong dạng giảm số nhịp
Alpha, giảm biên độ tất cả các sóng, xuất hiện sóng chậm Theta không đều
đặn [63], biên độ và chỉ số sóng Alpha trên điện não đồ nền giảm. Biên độ và
chỉ số sóng Theta tăng [45].
Theo Đào Phong Tần và các cộng sự [67] ghi đồng thời ĐNĐ và lưu
huyết não đồ là phương pháp không gây nguy hiểm, ít tốn kém, trong nhiều
trường hợp rất có giá trị để chẩn đoán sớm hội chứng TNTHNMT.
1.2.4. Điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính
Hiện nay ở nước ta cũng như trên thế giới điều trị TNTHNMT chủ yểu
bằng phương pháp nội khoa. Điều trị ngoại khoa chỉ đề cập đến khi bệnh nhân
có tai biến mạch máu não tạm thời hay thực thụ [25], [45], [100].
Thuốc điều trị TNTHNMT có nhiều loại khác nhau, công dụng và kết quả
cũng khác nhau. Các thuốc này tạm chia thành bốn nhóm [14] , [45] , [111]
Nhóm 1: Nhóm các chất tổng hợp hữu cơ
Nhóm 2: Nhóm các chất giống chất sinh học.
Nhóm 3: Nhóm các chất có nguồn gốc thực vật.
Nhóm 4: Nhóm gồm các thuốc có nguồn gốc khác.
Các thuốc này có thể tác động theo những cơ chế khác nhau để khắc
phục tình trạng và hậu quả của TNTHNMT. Thuốc có thể có tác dụng giãn
mạch, làm mở các mạng nổi tuần hoàn bàng hệ, làm trao đổi chất qua hàng
rào máu não dễ dàng hơn, làm cho tổ chức não nhận được nhiều oxy hơn,
cũng như giúp não chịu được tình trạng thiếu oxy tốt hơn [97], [104] .
Ngoài ra, còn có thể sử dụng biện pháp không dùng thuốc để điều trị
TNTHNMT. Phương pháp này vừa mang tính điều trị vừa mang tính dự
phòng, an toàn và có hiệu quả. Các phương pháp chủ yếu là chế độ ăn uống,
chế độ luyện tập... được nhiều nhà y học quan tâm nghiên cứu và đánh giá
cao [33].




22

* Triệu chứng lâm sàng của thiểu năng tuần hoàn não hệ sống - nền rất

đa dạng và phong phú [63] , thường gặp là tam chứng: nhức đầu vùng
chẩm gáy, chóng mặt và mệt mỏi toàn thân. Nhức đầu thường kèm theo
đau dây thần kinh chẩm hoặc có triệu chứng cổ- vai- cánh tay do tổn
thương đám rối thần kinh [100]. Rối loạn tiền đình cũng thường gặp và
là triệu chứng quan trọng, cơn “sụp quỵ” (drop attacks) có giá trị lớn
trong tốn thương hệ sống - nên do thoái hoá cột sống cổ [45]. Bên cạnh
triệu chứng đau đầu, chóng mặt còn kèm theo các triệu chứng ù tai,
giảm thính lực tạm thời, rối loạn thăng bằng, giảm thị lực... Các triệu
chứng của thiểu năng tuần hoàn não hệ sống nền thường xuất hiện
trong những điều kiện đặc biệt như gắng sức, thay đổi tư thế từ nằm
sang ngồi [12] , [25] , [27] .
1.4 TNTHNMT Do xơ vữa động mạch
Năm 1957, Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa “bệnh xơ vữa động mạch
(VXĐM) là sự phối hợp những biến đổi của lớp nội mạc động mạch bao gồm
sự tích tụ tại chỗ của các lipid,phức hợp glucid,máu và các sản phẩm từ máu,
tổ chức xơ và calci kèm theo những biến đổi của lớp trung mạc. ”Bệnh
VXĐM là một bệnh rất phổ biến ở người lớn tuổi ở các nước có đời sống vật
chất cao, có nhịp độ làm việc và sinh hoạt căng thẳng, được coi là loại “bệnh
của nền văn minh” [34].
-

Tổn thương vữa xơ động mạch chủ gặp ở 23% số người thuộc lứa tuổi 18- 24
dưới dạng mạch lipid,tăng lên 58% ở lứa tuổi 25-29 và 100% ở lứa tuổi trên
30 tuổi ,mức độ nặng của mảng vữa xơ tăng dần theo tuổi [34].


thường xuyên. Ở giai đoạn thứ hai (giai đoạn huyết khối hoại tử) đã có rối
loạn cấp tính như đột quị, cuối cùng não teo thu và xơ hóa, các rối loạn sẽ
không hồi phục [48].
- Những biểu hiện chính của vữa xơ động mạch não: thường gặp các rối
loạn tâm thần, biểu hiện ở quá trình giảm sút ức chế, những tính cách cá nhân
phát triển quá mức, bệnh nhân trở nên dễ kích động hay bực mình hay cáu
gắt, hay có rối loạn giấc ngủ. Mất ngủ là một dấu hiệu sớm của bệnh, ngoài ra


24

giảm khả năng tư duy, tập trung tư tưởng chậm hiểu và hay quên, nhất là đối
với những việc mới xảy ra, về phương diện thân kinh hay nhức đầu, nhất là
khi làm việc trí óc, ù tai chóng mặt, biểu hiện của rối loạn tiền đình [48].
1.4.3. Thiếu máu não do vữa xơ động mạch cảnh
Mù nhất thời một bên mắt đột nhiên không nhin được một bên mắt, biểu
hiện chính là có cảm giác có một mành mành di động theo hướng dọc, ít khi
theo hướng ngang, thời gian dưới 5 phút, ít khi quá 10 phút, có các cơn mù một
bên do thiếu máu võng mạc, biểu hiện rối loạn tưới máu của động mạch cảnh
trong, liệt nhẹ một bên, rối loạn cam giác một bên, rối loạn ngôn ngữ [48].
* Điều trị TNTHNMT

- Kết hợp điều trị bệnh lý cột sống cổ với các thuốc tác động lên mạch
máu não thông qua các cơ chế như giãn mạch, giảm độ nhớt của máu, tăng
cường phân áp oxy, glucozen, chống gốc oxy hóa.
- Các biện pháp không dùng thuốc: châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, và
tập vận động cột sổng cổ nhẹ nhàng.
- Các phương pháp đặc biệt: kéo giãn cột sống cổ, đeo đai cổ.
- Điều trị phẫu thuật khi các dấu hiệu thần kinh tiến triển nặng hoặc
điều trị bảo tồn không hiệu quả [14].

Hải Thượng Lãn' Ông viết: “Âm huyết của hậu thiên hư thì hoả động lên,
chân thuỷ của tiên thiên suy thì hoả bốc lên mà gây chứng huyễn vựng”. Theo
ông, phần lớn đau đầu thuộc chứng hư (dương hư, huyết hư, nặng hơn là hoả hư,
thuỷ suy nên trong điều trị, nhẹ thì bổ khí huyết, nặng thì bổ thuỷ hoả [80].
Sách Linh khu viết: “Để nuôi dưỡng cơ thể không có gì quan trọng
bằng huyết”. Nếu vì một nguyên nhân nào đó làm cho huyết vận hành không
thông, ứ đọng lại thì sinh ra mọi thứ bệnh [36].
Trong khi đó não là bể của tuỷ, là cơ quan quan trọng của cơ thể, quan
hệ rất lớn đến đời sống, không được để hao tổn. Não tuỷ có công dụng là chủ
việc thông sáng của tai mắt, sự linh hoạt của chân tay mình mẩy, và mọi hoạt
động tinh thần. Tâm chủ thần minh tức là chủ về hoạt động tinh thần, ý thức,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status