BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HOÀNG ĐỨC NHÃ
MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TỔNG SẢN
LƢỢNG ĐẦU RA TRONG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC
NHÂN TỐ VĨ MÔ: TỶ GIÁ, LẠM PHÁT, ĐẦU TƢ VÀ CHI
PHÍ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 1996 -2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HOÀNG ĐỨC NHÃ
MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TỔNG SẢN
LƢỢNG ĐẦU RA TRONG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC
NHÂN TỐ VĨ MÔ: TỶ GIÁ, LẠM PHÁT, ĐẦU TƢ VÀ CHI
PHÍ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 1996 -2016
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.2
Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................1
1.3
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................2
1.4
Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................2
1.5
Câu hỏi nghiên cứu ......................................................................................2
1.6
Kết cấu bài nghiên cứu ................................................................................3
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ......................................................................................................................4
2.1 Một số học thuyết liên quan ............................................................................4
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ..........................................................................7
2.2.1 Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lƣợng đầu ra (GDP) .............7
2.2.2 Tác động của RD lên mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lƣợng
đầu ra .................................................................................................................12
2.2.3 Bảng tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây ..............................15
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................20
4.7.2 Mô hình hồi quy REM ............................................................................38
4.7.3 Kiểm định Hausman ...............................................................................38
4.7.4 Kiểm định phƣơng sai thay đổi ..............................................................38
4.7.5 Mô hình phù hợp .....................................................................................39
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................43
5.1 Kết Luận .........................................................................................................43
5.2 Gợi ý chính sách .............................................................................................44
5.3 Hạn chế của luận văn ....................................................................................46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................47
PHỤ LỤC .................................................................................................................50
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Diễn giải
R&D hoặc RD
Nghiên cứu phát triển
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
RGDP
Tổng sản phẩm quốc nội thực
FEM
GLS
Ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số thứ tự
Nội dung
Bảng 4.1
Thống kê mô tả của các biến tại các nước đang phát triển
Bảng 4.2
Thống kê mô tả của các biến tại các nước phát triển
Sự tác động của biến EXP và các biến còn lại lên biến RGDP
Bảng 4.3
Ma trận hệ số tương quan tại các nước đang phát triển
Bảng 4.4
Ma trận hệ số tương quan tại các nước phát triển theo biến RGDP
Bảng 4.5
Bảng 4.12
Kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai VIF ở
các nước phát triển
Bảng 4.13
Kết quả nghiên cứu tại các nước đang phát triển theo biến EXP
Bảng 4.14
Kết quả nghiên cứu tại các nước phát triển theo biến EXP
TÓM TẮT
Mức độ gia tăng tổng sản lượng và tăng trưởng với tốc độ cao và bền vững luôn là
mục tiêu phấn đấu của các quốc gia trên toàn thế giới. Trong đó, xuất khẩu và chi
phí nghiên cứu phát triển luôn là những nhân tố động lực cho sự phát triển.Vì vậy,
luận văn này nghiên cứu về đề tài “Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản
lƣợng đầu ra trong sự tác động của các nhân tố vĩ mô: tỷ giá, lạm phát, đầu tƣ
và chi phí nghiên cứu phát triển giai đoạn 1996 - 2016” với mục đích phân tích
và tìm hiểu mối quan hệ giữa xuất khẩu với tổng sản lượng đầu ra và sự khác biệt
giữa hai nhóm quốc gia nếu như có sự tồn tại của chi phí nghiên cứu phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá và phân tích có sự tồn tại mối quan hệ
giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra ở các quốc gia đang phát triển giai đoạn
1996 – 2016 và có hay không sự ảnh hưởng của chi phí nghiên cứu phát triển tác
động đến tổng sản lượng xuất khẩu của hai nhóm các quốc gia 1996 – 2016.
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát
(GLS) để ước lượng cho dữ liệu bảng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra của một
positive impact on export and negatively affects the total output.
The developing countries that want to promote economic development try to
facilitate the attraction of highly valuable goods production for export to the outside
market and the need to adopt a supportive policy that creating conditions to help
businesses invest in research and development of products, technology, quality
human resources and human resources.
Key words: GDP, Export, RD expenditure, Growth
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
“Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra của một quốc gia thực sự là
gì, nó có tác động như thế nào đến kinh tế của một quốc gia?” Đây là câu hỏi nhận
được nhiều sự quan tâm nghiên cứu và đã có rất nhiều đáp án. Tổng sản lượng đầu
ra của một quốc gia còn được xem là đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của
một quốc gia (GDP), như vậy việc nghiên cứu, xem xét mối liên hệ giữa xuất khẩu
và tổng sản lượng đầu ra của một quốc gia chính là việc nghiên cứu, xem xét mối
quan hệ giữa xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của một quốc gia GDP. Đã có rất
nhiều nghiên cứu chứng minh được rằng giữa xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của
một quốc gia có tồn tại mối quan hệ nhân quả với nhau. Ngày nay với sự đổi mới
của khoa học (đặc biệt sự phát triển công nghệ 4.0, trí tuệ nhân tạo…), vậy những
tiến bộ đó có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không hay chỉ có tác dụng làm
tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng hiệu quả sản xuất,
tạo ra các sản phẩm mới với chất lượng tốt nhất… Và đã tồn tại nhiều nghiên cứu
được tiến hành để nghiên cứu các tác động cũng như các nhân tố ảnh hưởng lên sự
tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và đa phần dựa trên những số liệu thu thập
được trong quá khứ nhằm tìm ra câu trả lời chính xác cho vấn đề này. Vì vậy, đề tài
phí nghiên cứu phát triển trong giai đoạn 1996 - 2016.
1.4 Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với khoản thời gian là
21 năm và 27 quốc gia, tiến hành phân tích tác động của các nhân tố vĩ mô tới mối
quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra thông qua các cách tiếp cận FEM
(Fix Effect Model), REM (Random Effect Model) và hồi quy GLS để ước lượng mô
hình mối liên hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra.
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Có tồn tại mối quan hệ xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra ở các nước đang phát
triển và các nước phát triên hay không?
Các nhân tố vĩ mô (tỷ giá, lạm phát, tổng đầu tư) có tác động đến mối liên hệ
giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra ở hai nhóm quốc gia như thế nào?
3
Chi phí dành cho việc nghiên cứu phát triển có tác động như thế nào lên mối liên
hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra tại các quốc gia phát triển và các quốc
gia phát triển?
Liệu có sự khác biệt giữa tác động của chi phí nghiên cứu phát triển lên hai
nhóm quốc gia không?
1.6 Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước
đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích và Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách và hạn chế
mua rẻ bán đắt. Những quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương mang tính chất kinh
5
nghiệm được nêu ra dưới hình thức lời khuyên thực tiễn về chính sách thương mại.
Mặc dù còn hạn chế về lí luận nhưng những quan điểm ủng hộ ngoại thương,
khuyến khích trao đổi mua bán giữa các quốc gia cũng đánh dấu bước thay đổi tiến
bộ so với thời kỳ đóng cửa nền kinh tế. Các lập luận của Chủ nghĩa trọng thương
vẫn chứa đựng những luận điểm vẫn còn giá trị cho đến bây giờ. Đây được coi là
nền tảng sơ khai cho tư tưởng hội nhập kinh tế sau này.
Trƣờng phái cổ điển
Adam Smith (1723-1790) - Cha đẻ của kinh tế học đã giải thích thương mại quốc tế
bằng cách đưa ra lý thuyết lợi thế tuyệt đối cùng là tác giả cuốn sách “Wealth of
Nations” . Theo ông, mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối về một mặt hàng
nào đó nếu có khả năng sản xuất mặt hàng ấy với chi phí thấp hơn hay năng suất
cao hơn so với nước khác. Khi đó, quốc gia ấy nên tập trung chuyên môn hóa sản
xuất mặt hàng mình có lợi thế và tiến hành xuất khẩu mặt hàng đó sang nước khác.
Việc chuyên môn hóa như vậy góp phần không nhỏ đến tiết kiệm chi phí sản xuất,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, thông qua hoạt động trao đổi mà cả hai quốc
gia có quan hệ thương mại với nhau đều có lợi và trở nên sung túc hơn. Vì vậy,
Adam Smith khẳng định thương mại quốc tế không phải là một trò chơi có tổng
bằng không, mà là trò chơi làm lợi cho tất cả các bên tham gia. Tuy nhiên, thực tế
thương mại quốc tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, khi so sánh chi phí sản xuất
để tìm ra lợi thế tuyệt đối, một nước lại thấy mình có lợi thế về tất cả các mặt hàng
so với nước khác. Tuy nhiên lý thuyết của ông không thể lý giải được tại sao các
nước trong trường hợp này vẫn trao đổi với nhau và cùng có lợi.
Để giải quyết hạn chế trên một khái niệm khác đã ra đời và có tính khái quát hơn
chính là khải niệm của David Ricardo (1772-1823), đó là lợi thế so sánh. Một quốc
quan hệ nhân quả giữa hai biến xuất khẩu và tăng trưởng. Tuy nhiên, chỉ có vài bài
báo áp dụng phân tích dữ liệu bảng. Một số tài liệu cho rằng hiệu ứng tích cực được
ước tính bởi giả thuyết tăng trưởng do xuất khẩu không nhất thiết phải xảy ra ở các
nước đang phát triển.
7
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1 Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lƣợng đầu ra (GDP)
Theo Reppas và Christopoulos (2005) nghiên cứu cho giả thuyết mối quan hệ tăng
trưởng do xuất khẩu bằng việc sử dụng mẫu là 22 nước đang phát triển tại châu Á
và châu Phi. Các kết quả dựa trên các thử nghiệm hợp nhất của dữ liệu bảng cho
thấy rằng có sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng sản lượng và xuất
khẩu. Phân chia mẫu các nền kinh tế châu Á và châu Phi đã cho kết quả tương tự
như kiểm định 22 nước. Hơn nữa, ước tính cho thấy có mối quan hệ lâu dài tích cực
giữa tăng trưởng xuất khẩu và sản lượng. Hơn nữa kết quả nghiên cứu trong dữ liệu
bảng cũng cung cấp sự hỗ trợ một cách mạnh mẽ cho quan điểm rằng, tỷ lệ đầu tư
càng lớn, mức độ xuất khẩu càng cao.
Mukhtar Wakil Lawan (2017) xem xét mối quan hệ nhân quả giữa các thành phần
xuất khẩu dầu mỏ, phi dầu mỏ, nhập khẩu, hình thành tổng vốn, dân số, dự trữ nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế Nigeria sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng năm
trong giai đoạn 1981 đến 2015. Kỹ thuật hợp nhất Johansen được sử dụng để phân
tích mối quan hệ lâu dài và quan hệ nhân quả Granger để thiết lập các hướng nhân
quả. Các phát hiện cho thấy các chính sách kinh tế vĩ mô gần đây, đặc biệt là các
chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu trong lĩnh vực phi dầu mỏ sẽ có hiệu quả trong
việc tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua các mối liên kết nhân quả ngắn hạn,
và cải thiện tăng trưởng kinh tế được truyền lại để thúc đẩy hiệu quả trong xuất
khẩu dầu mỏ và lĩnh vực phi dầu mỏ thông qua các mối liên kết nhân quả dài hạn
khi đạt được trạng thái cân bằng. Kết quả cũng nêu bật tác động quan trọng của
quan hệ tuyến tính giữa xuất khẩu và tăng trưởng sản lượng. Tuy nhiên, tính hợp lệ
của giả định về mối quan hệ tuyến tính đã được một số tác giả đặt ra và bằng chứng
thực nghiệm gần đây ủng hộ sự tồn tại của phi tuyến tính trong các biến số kinh tế
vĩ mô, như tăng trưởng GDP và tỷ giá hối đoái (Kohli và Singh, 1989; Edwards,
1993 ; Granger và Teräsvirta, 1993; Taylor và cộng sự, 2001). Mục tiêu chính của
bài viết này là thu hẹp khoảng cách trong tài liệu bằng cách xem xét vai trò của phi
tuyến tính trong mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Cuối cùng, các
giả thuyết về tăng trưởng do xuất khẩu (ELG) và xuất khẩu tăng do tăng trưởng
(GLE) đã được kiểm tra cho năm nền kinh tế công nghiệp hóa (Canada, Ý, Nhật
Bản, Anh và Mỹ) bằng cách sử dụng mô hình chuyển đổi phi tuyến tính ( Đặc điểm
9
kỹ thuật mô hình STAR). Kết quả nghiên cứu này xác nhận rằng tồn tại mối quan
hệ phi tuyến giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Do đó, giả định về tuyến tính
trong các nghiên cứu trước đây có thể không có cơ sở và suy luận từ các mô hình đó
có thể không hợp lệ và có thể gây hiểu lầm. Cụ thể, sử dụng sáu biến (xuất khẩu
thực, tăng trưởng GDP thực tế, vốn, lao động, điều khoản thương mại và sản lượng
nước ngoài) mô hình vectơ, kết quả kiểm tra tuyến tính chỉ ra rằng giả thuyết không
tuyến tính có thể bị bác bỏ so với sự thay thế của mô hình STAR phi tuyến cho hầu
hết các quốc gia. Kết quả này xác nhận sự phù hợp của một đặc tả phi tuyến để mô
hình hóa mối quan hệ tăng trưởng sản lượng xuất khẩu. Hơn nữa, kết quả từ các thử
nghiệm quan hệ nhân quả Granger phi tuyến cung cấp hỗ trợ thực nghiệm cho tính
hợp lệ của các giả thuyết ELG cho Canada, Ý, Anh và Hoa Kỳ trong khi giả thuyết
GLE được hỗ trợ cho Ý và Nhật Bản. Thật thú vị, mặc dù các kết quả từ các thử
nghiệm quan hệ nhân quả phi tuyến dường như cung cấp kết quả rõ ràng hơn, đặc tả
tuyến tính tiêu chuẩn đã được tìm thấy để đưa ra kết luận tương tự để hỗ trợ các giả
thuyết GLE cho Nhật Bản. Kết quả phân tích này nhấn mạnh sự cần thiết phải mô
hình hóa các phi tuyến vốn có trong mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng sản
giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thông qua việc kiểm tra và chạy dữ liệu của
73 quốc gia đang phát triển (từ 1970 đến 2007). Dữ liệu tại 73 quốc gia được chi ra
thành 2 nhóm: nhóm các quốc gia phi dầu mỏ và các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ.
Mô hình được sử dụng để xem xét và đánh giá chiều hướng của quan hệ nhân quả là
mô hình 2 và 3 biến (xem xét mối quan hệ của GDP và xuất khẩu ở mô hình 2 biến;
đồng thời mối quan hệ giữa GDP, xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế được xem xét
ở mô hình 3 biến). Trong cả hai mô hình đều tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều
trong dài hạn giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế cho cả hai nhóm (dầu mỏ và phi
dầu mỏ). Ngoài ra, mô hình 2 biến còn cho thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều
trong ngắn hạn giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở nhóm quốc gia đang phát
triển phi dầu mỏ.
Richards (2001) đã sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và sử dụng các kiểm định nhân
quả Granger, mô hình hiệu chỉnh sai số và mô hình tự hồi quy vector để phân tích
giả thuyết xuất khẩu dẫn đến tăng trưởng (ELG) ở Paraguay. Quốc gia có tốc độ
tăng trưởng chậm trong những năm 1990, mặc dù đã có tốc độ tăng trưởng cao
11
trong giai đoạn 1970 – 1980. Richchards đã nhận ra rằng tốc độ gia tăng xuất khẩu
ở Paraguay không ổn định như tốc độ tăng trưởng kinh tế vì các lý do liên quan đến
chính trị và kinh tế. Kết quả thu được, tác giả nhận thấy ảnh hưởng của xuất khẩu
đến tăng trưởng của kinh tế ở Paraguay rất hạn chế.
Rubio và Roldan (2012) tiến hành phân tích mối quan hệ giữa thương mại và tăng
trưởng kinh tế theo giả thuyết ELG cho 8 thành viên EU trong giai đoạn 1996-2009.
Kiểm định nhân quả chỉ ra rằng chỉ có Cộng Hòa Séc là cho thấy những bằng chứng
ủng hộ cho lý thuyết ELG, trong khi đó lại không tìm thấy bất kỳ một mối quan hệ
nhân quả có ý nghĩa (bất kể theo hướng nào) ở các quốc gia còn lại.
Amirkhalkhali và Dar (1995) đã sử dụng mô hình hệ số ngẫu nhiên để xem xét vai
trò của việc mở rộng xuất khẩu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước
của chúng đối với xuất khẩu, có cả ý nghĩa về lợi ích cho khách hàng và tăng
trưởng. Ý nghĩa lợi ích cho khách hàng xuất phát từ nhu cầu của khách hàng được
cải thiện thông qua thương mại quốc tế và ý nghĩa tăng trưởng phát sinh từ những
tác động tích cực đối với việc làm của các công ty. Tuy nhiên, về mặt này, kết quả
chỉ ra rằng xuất khẩu thuần túy không ảnh hưởng đến tăng trưởng và dòng lao động,
trong khi tác động tiêu cực của xuất khẩu do RD gây ra đối với các doanh nghiệp
tăng trưởng rất nhỏ. Do đó, thách thức chính đối với các nhà hoạch định chính sách
là kích thích một môi trường sáng tạo để phát triển kinh doanh nơi các công ty phát
triển và thâm nhập thị trường nước ngoài như những nhà đổi mới thành công.
Những hàm ý chính sách này hóa ra có liên quan đặc biệt trong bối cảnh của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, nơi các quyết định đầu tư. Đồng thời, việc duy trì kiến
thức dường như rất cần thiết cho các công ty đổi mới, vì tỷ lệ phân tách thấp hơn so
với các công ty không đổi mới. Khi kết hợp lại, những hiệu ứng này cho phép các
công ty sáng tạo bảo vệ tài sản trí tuệ của họ hiệu quả hơn, đồng thời, cho phép
người lao động tận hưởng sự ổn định công việc lớn hơn. Như được chỉ ra bởi Buch
và cộng sự. (2009), các công ty hoạt động trên thị trường quốc tế có thể cân bằng
rủi ro nhu cầu hoặc, như Baumgarten (2015) lưu ý, lao động xuất cảnh các công ty
xuất khẩu có thể thấp hơn đến mức lương cao hơn ở các công ty này. Hơn nữa, các
13
doanh nghiệp vừa và nhỏ có kế hoạch tăng cường sự hiện diện của họ ở thị trường
nước ngoài nên chấp nhận thách thức để tăng nỗ lực RD của họ bằng cách tận dụng
các cơ hội tài trợ quốc gia và quốc tế.
Sandu và Ciocanel (2014) cho thấy cường độ chi tiêu RD công cộng có tác động
tích cực đến xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao và trung bình, với độ trễ 2 năm. Để
có hiệu quả ngắn hạn, họ phải được hướng tới hỗ trợ nghiên cứu tư nhân, mục tiêu
rõ ràng hơn là hướng tới lợi nhuận trước mắt. Sự gia tăng với + 1% chi phí RD của
Chính phủ (tính theo% GDP) có tác động tích cực đến xuất khẩu sản phẩm công
2.2.3 Bảng tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây
STT
1
Tác giả
Mẫu
Biến độc lập
Biến phụ thuộc
Kết quả
Awokuse và
5 quốc gia
GDP, Xuất
Xuất khẩu (đối với biến phụ
Xuât khẩu và GDP có mối
Christopoulos (2009)
(1960 -
khẩu
Xuất khẩu
RD
RD có tác động tiêu cực (rất
quy mô, cạnh tranh, nhu cầu,
bé) đến xuất khẩu
expenditures and
lao động, thời gian hoạt động
exports: An empirical
doanh nghiệp, vốn, đại lý, nhà
analysis ofitalian SMEs
đầu tư nước ngoài
Chen (2007) “Exactly
29 quan
what is the link between
sát từ 1976 xuất khẩu
quan hệ tích cực