BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
------***------
BỘ Y TẾ
LÊ THỊ TRANG
ĐÁNH GIÁ SỰ GẮN KẾT TRONG CÔNG VIỆC
CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN - NHI ĐÀ NẴNG NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
------***------
LÊ THỊ TRANG
ĐÁNH GIÁ SỰ GẮN KẾT TRONG CÔNG VIỆC
CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN - NHI ĐÀ NẴNG NĂM 2018
Chuyên ngành
: Điều dưỡng
1.3.1. Lịch sử phát triển
11
1.3.2. Chức năng nhiệm vụ của Điều dưỡng
1.4. Những nghiên cứu liên quan
1.4.1. Ở nước ngoài
12
1.4.2. Ở trong nước
16
11
12
12
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................18
2.1. Địa điểm nghiên cứu
18
2.2. Thời gian nghiên cứu
18
2.3. Đối tượng nghiên cứu
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1. Mô hình Nhu cầu và tài nguyên công việc.................................................7
Hình 1.2. Mô hình Nhu cầu và tài nguyên công việc mở rộng..................................9
Hình 1.3. Mô hình Nhu cầu và tài nguyên công việc Điều dưỡng...........................16
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu................................25
Bảng 3.2. Đặc điểm về công việc của đối tượng nghiên cứu...................................25
Bảng 3.3. Đặc điểm về áp lực công việc, sự nỗ lực đóng góp, mức độ được đãi ngộ,
sự hỗ trợ từ lãnh đạo của đối tượng nghiên cứu....................................26
Bảng 3.4. Đặc điểm về mức độ kết nối với xã hội, tác động qua lại giữa gia đình và
công việc của đối tượng nghiên cứu......................................................26
Bảng 3.5. Hiệu suất công việc và tình trạng sức khỏe tổng quát của đối tượng
nghiên cứu.............................................................................................27
Bảng 3.6. Điểm trung bình sự gắn kết với công việc của đối tượng nghiên cứu......27
Bảng 3.7. Một số yếu tố đặc điểm cá nhân liên quan đến sự gắn kết với công việc.27
Bảng 3.8. Một số yếu tố về đặc điểm công việc liên quan đến sự gắn kết với công
việc của đối tượng nghiên cứu..............................................................28
Bảng 3.9. Mối liên quan của các yếu tố áp lực công việc, sự nỗ lực, mức độ đãi ngộ,
sự hỗ trợ của lãnh đạo tới sự gắn kết trong công việc Điều dưỡng........29
Bảng 3.10. Mối liên quan của các yếu tố mối quan hệ xã hội, sự tác động qua lại của
gia đình và công việc tới sự gắn kết trong công việc.............................29
Bảng 3.11 . Mối liên quan của hiệu suất công việc và tình trạng sức khỏe tổng quát
với sự gắn kết trong công việc..............................................................29
Bảng 3.12 . Mối liên quan của sự gắn kết trong công việc tới hiệu suất công việc..29
Bảng 3.13. Mối liên quan của sự gắn kết trong công việc và tình trạng sức khỏe
tổng quát của Điều dưỡng.....................................................................29
Bảng 3.14. Một số yếu tố liên quan đến sự gắn kết trong công việc của đối tượng
nghiên cứu.............................................................................................29
1
2
cảm. Trong khi hầu hết Điều dưỡng chỉ được đào tạo theo hình thức đa khoa, nên
cần có thời gian nhiều hơn để thích nghi dễ dẫn đến chán nản. Tìm hiểu về sự gắn
kết sẽ giúp cho người quản lý nhận ra một số yếu tố ảnh hưởng và yếu tố ảnh hưởng
nhiều nhất đến sự gắn kết với công việc chăm sóc bà mẹ, trẻ em của người Điều
dưỡng. Từ đó tìm ra phương pháp để kích thích sự gắn kết của người Điều dưỡng
tại bệnh viện tạo ra hiệu suất công việc cao hơn, giải quyết được vấn đề thiếu hụt
Điều dưỡng có kinh nghiệm mà người bệnh thì quá tải.
Bệnh viện phụ sản - Nhi Đà Nẵng là một bệnh viện mới được thành lập từ
năm 2012, không chỉ phục vụ cho người dân thành phố Đà Nẵng mà còn là cả khu
vực nam miền trung và tây nguyên, số lượng người bệnh ngày càng tăng lên, hiệu
suất sử dụng giường bệnh luôn ở mức cao . Cơ chế quản lý đang trong giai đoạn
thường xuyên thay đổi theo sự thay đổi về cơ cấu các khoa phòng trong bệnh viện ,
điều này làm ảnh hưởng đến tâm lý của người lao động.
Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá sự gắn kết trong công việc của
Điều dưỡng và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm
2018” nhằm các mục tiêu:
1.
Mô tả sự gắn kết với công việc của Điều dưỡng tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi
2.
Đà Nẵng.
Xác định một số yếu tố liên quan đến sự gắn kết với công việc của Điều dưỡng
tại viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng.
cảm giác hăng hái và ý nghĩa. Niềm đam mê liên quan đến việc bị cuốn hút hoàn
toàn trong công việc của mình và khó có thể tách rời khỏi nó. Khi gặp áp lực công
4
việc, nhân viên cảm thấy phải phấn đấu vượt qua thách thức hướng tới mục tiêu bởi
vì họ muốn thành công.
1.1.2. Vai trò của sự gắn kết trong công việc
Sự gắn kết trong công việc đóng vai trò rất quan trọng đối với cơ quan, người
quản lý, đồng nghiệp, đối tượng hướng đến của ngành, sự phát triển của ngành và
chính bản thân người lao động.
Sự gắn kết trong công việc xuất phát từ tâm lý của người lao động, họ luôn
tập trung vào công việc, tin tưởng công việc của mình, nhờ đó phần lớn thời gian họ
làm việc và suy nghĩ làm thế nào để công việc của mình tốt hơn, đạt hiệu quả cao
hơn, khi tổ chức gặp khó khăn họ sẵn sàng tham gia để vượt qua khó khăn đó chứ
không tìm tới một cơ sở khác có mức ưu đãi tốt hơn hoặc công việc nhẹ nhàng hơn.
Họ cũng yêu ngành nghề của họ điều này giúp họ tự tin trong công việc, tư tưởng
luôn muốn nâng cao vai trò vị thế của ngành mình đang làm, họ còn truyền hứng
thú công việc cho những người xung quanh để nâng cao hiệu suất công việc, tạo
nên mối quan hệ với đồng nghiệp và những người liên quan trong công việc tốt hơn.
Gắn kết với công việc tức là làm việc lâu dài trong một lĩnh vực cụ thể tại một cơ sở
nào đó, điều này giúp cho người lao động có kinh nghiệm ngày càng dày dặn trong
nghề nghiệp của mình trở thành những người hoạt động chuyên nghiệp, họ còn nắm
bắt được đặc điểm và quy luật trong tổ chức quản lý, tạo tiền đề để đổi mới tổ chức,
đi theo con đường mới phù hợp hơn.
Với các vai trò như vậy thì sự gắn kết trong công việc Điều dưỡng sẽ tạo ra
được hiệu quả chăm sóc cao hơn, đồng thời phát triển ngành Điều dưỡng thực sự là
một ngành độc lập, được công nhận thật sự.
1.1.3. Học thuyết có liên quan đến sự gắn kết công việc
Nói cách khác, có thể một yếu tố trong giai đoạn này là áp lực công việc, nhưng trong
giai đoạn khác lại trở thành yếu tố kiểm soát stress trong công việc, nội dung và bản
chất khác nhau từ thiết lập công việc khác nhau.
Mô hình nhu cầu tài nguyên công việc năm 2011 đã được tác giả
Demerouti, Bakker, Nachreiner, & Schaufeli, đưa luận điểm này thêm một bước
nữa. Đây là một mô hình phỏng đoán bao gồm hai điều kiện làm việc là nhu cầu
6
công việc và nguồn lực công việc, trong việc dự đoán tình trạng phúc lợi của nhân
viên, bất kể nhóm nghề nghiệp nào.
1.1.3.2. Nội dung của mô hình nhu cầu tài nguyên công việc
Để minh họa các tiền đề cơ bản của mô hình nhu cầu tài nguyên công việc
đầu tiên tác giả tập trung vào tất cả các khía cạnh trong công việc gây cảm giác căng
thẳng và kiệt sức. Tiếp theo là xem xét các khía cạnh giúp đạt được thành công
trong công việc như những điều khiến con người cảm thấy tràn đầy năng
lượng, cung cấp một cảm giác tự hào và thành công, và cho phép họ thụ hưởng
những kết quả đã hoàn thành Đó là tất cả những gì góp phần vào một cảm giác gắn
kết. Những khía cạnh này có khả năng bao trùm những mục đa dạng khác nhau, hầu
hết có thể được gọi là tài nguyên công việc. Ngoài ra, một số khía cạnh của công
việc căng thẳng bao gồm thiếu nguồn lực cần thiết để hoàn thành các nhiệm vụ
được yêu cầu gọi là nhu cầu công việc .
Nhu cầu công việc đại diện cho đặc điểm của công việc có thể gây ra căng
thẳng, trong trường hợp nó vượt quá khả năng thích ứng của nhân viên. Cần phải
xác định chính xác hơn, nhu cầu công việc đề cập đến: những khía cạnh thể chất,
xã hội, hoặc tổ chức của công việc đòi hỏi sự duy trì thể chất, tâm lý (nhận thức và
tình cảm) ảnh hưởng một phần đến người lao động, và do đó liên quan đến các chi
phí sinh lý, tâm lý nhất định. Mặc dù nhu cầu về công việc không phải luôn luôn là
tiêu cực, nhưng chúng có thể trở thành những căng thẳng trong công việc khi đáp
Sự kiệt
+
Hậu quả liên
quan sức
sức
việc
khỏe tiêu cực
_
_
Hậu quả tích
Tài
+
nguyên
công việc
Sự gắn
+
cực trên liên
ngừa tốt nhất các vấn đề động lực, và khi thiếu nó dẫn đến sự không hài lòng.
Hướng tới phát triển mô hình nhu cầu và tài nguyên công việc có sự bổ sung
của những đặc điểm phi công việc, bao gồm các nguồn lực cá nhân và các mối liên
kết tương hỗ giữa các nguồn lực cá nhân với công việc và đưa ra một số kết quả tích
cực tiềm ẩn. Trong đó đặc biệt chú ý đến là người lãnh đạo, sự tương tác giữa nhà
lãnh đạo và nhân viênNhu
cũngcầu
có thể cung cấp cái nhìn mới về cách giữ nhân viên làm
công điều
việc kiện căng thẳng. Các mức độ công việc, tổ chức công
việc ngay cả trong những
việc, quan hệ giữa các cá nhân xã hội và tổ chức bao gồm các quy mô để thể hiện
các mức độ khác nhau của các nguồn lực công việc khác nhau. Yếu tố nguồn lực cá
nhân và nguồn lực công việc đều có tác động qua lại trực tiếp đến sự gắn kết với
Tài
Sự gắn
Kết quả
công việc của nhân viên. Còn yếu tố yêu cầu công việc tác động gián tiếp tới sự gắn
nguyên
tíchđến
cựcsự gắn kết. Do
kết, cụ thể
là làm thay đổi mối quankết
hệcông
ra công cụ để đánh giá về nó đó là công cụ đo lường sự gắn kết công việc (The
Utrecht Work Engagement Scale, UWES). Công cụ này được sử dụng rất phổ
biến, dịch ra trên 21 ngôn ngữ và có mặt trong hơn 60 000 bộ hồ sơ nhân viên
quốc tế. Bộ câu hỏi UWES gốc có 17 câu hỏi, năm 2009 được rút gọn lại là 9
10
câu . Các câu hỏi được đánh giá theo thang điểm Likert từ 0 đến 6 tăng theo
mức độ thường xuyên từ không bao giờ đến luôn luôn xảy ra.
1.2. Vài nét về bệnh viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng
Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng được thành lập theo quyết định số
2821/QĐ-UBND ngày 13/4/2012. Theo đó Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng là
Bệnh viện chuyên khoa hạng 1 về lĩnh vực Phụ sản và Nhi khoa, trực thuộc Sở Y tế
thành phố Đà Nẵng.
Với các chức năng là khám, cấp cứu, chữa bệnh, phục hồi chức năng về lĩnh
vực chuyên ngành Phụ sản và Nhi khoa; Đào tạo và tham gia đào tạo nhân lực y tế;
Chỉ đạo tuyến và tham gia phòng, chống dịch bệnh; Nghiên cứu khoa học; Triển
khai ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại phục vụ người bệnh và phục
vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Bệnh viện thực hiện các nhiệm vụ cụ thể là:
- Khám, cấp cứu, chữa bệnh cho bệnh nhân trong thành phố và khu vực và
người nước ngoài về lĩnh vực chuyên ngành phụ sản và nhi, phục hồi chức năng sau
điều trị và phục hồi chức năng tại cộng đồng.
- Là cơ sở thực hành của các cơ sở đào tạo nhân lực y tế đào tạo cán bộ viên
chức trong Bệnh viện và các cơ sở y tế khác khi có nhu cầu.
- Nghiên cứu khoa học triển khai ứng dụng những tiến bộ khoa học để phục vụ
công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng, đào tạo về lĩnh vực phụ
sản và nhi khoa.
- Tham gia hệ thống mạng lưới các cơ sở khám chữa bệnh về lĩnh vực theo
lệ chết của thương binh do nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2%. Sau này bà lập nên
Trường Điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo 1 năm đã đặt nền
tảng cho hệ thống đào tạo Điều dưỡng không chỉ ở nước Anh mà còn ở nhiều nước
trên thế giới. Từ đây ngành Điều dưỡng bắt đầu được đào tạo một cách bài bản và
phẩm chất của bà Florence Nightingale được coi như phẩm chất cần có của người
điều dưỡng, đó là sự hết mình vì người bệnh không quản điều kiện chiến tranh thiếu
thốn bà vẫn quyết tâm cống hiến sức mình để chăm sóc thương binh, đêm đêm vẫn
thắp đèn đi thăm bệnh, bà còn tự mở mang kiến thức của mình bằng cách tham gia các
khóa đào tạo của bệnh viện tại Đức, Pháp, học nhiều loại ngoại ngữ khác nhau. Điều
cao cả hơn bà không nghĩ cho mình mà đặt sự phát triển của ngành lên trên hết, thay vì
12
dùng ngân sách 50 nghìn bảng Anh cho cuộc sống bản thân, bà đã dùng tiền đó để lập
nên chương trình đào tạo nền tảng cho sự phát triển ngành Điều dưỡng.
Hiện nay ngành điều dưỡng của thế giới đã được công nhận xếp là một
ngành nghề riêng biệt, ngang hàng với các ngành nghề khác. Có nhiều trường đào tạo
điều dưỡng với nhiều trình độ điều dưỡng khác nhau: trung học, cao đẳng, đại học, sau
đại học. Nhiều cán bộ điều dưỡng đã có bằng thạc sĩ, tiến sĩ và nhiều công trình nghiên
cứu khoa học điều dưỡng nhằm nâng cao phát triển thực hành điều dưỡng.
Tại Việt Nam công việc chăm sóc trước đây được gọi là Y tá bao hàm nghĩa
phụ thuộc hoàn toàn vào bác sỹ, thực hiện theo y lệnh và chỉ đạo của bác sỹ. Năm
1990, sau bao cố gắng nỗ lực khẳng định ngành nghề của hội Y tá, Bộ Y Tế đã đổi
tên y tá thành Điều dưỡng, từ đây ngành điều dưỡng có những chuyển biến quan
trọng trong chức năng và có thêm vai trò độc lập đi liền với sự hỗ trợ bác sỹ.
1.3.2. Chức năng nhiệm vụ của Điều dưỡng
Vai trò chức năng nhiệm vụ của Điều dưỡng Việt Nam hiện nay được Bộ Y tế
quy định trong thông tư 07/2011/TT-BYT trong đó có những nội dung chính là:
Nhiệm vụ chuyên môn của Điều dưỡng gồm: Tư vấn giáo dục sức khỏe,
gắn kết với công việc. Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu về mô hình dự đoán sự gắn
kết với công việc của điều dưỡng .
Nghiên cứu tiền thân tức là các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết, tập trung
vào 6 chủ đề. Đó là môi trường liên quan đến: tổ chức ,,, nguồn lực công việc ,,,,
nguồn lực chuyên nghiệp ,,, nguồn lực cá nhân ,, yêu cầu công việc ,, và các yếu tố
nhân khẩu học ,. Giallonardo 2010 đã cho thấy có mối liên quan giữa nhận thức của
điều dưỡng mới tốt nghiệp về sự lãnh đạo thực sự của người quản lý với sự gắn kết
công việc của họ. Khi các nhà lãnh đạo đã hành động phù hợp với nguyên tắc đạo
đức, trung thực và liêm chính, có thể xác định với các Điều dưỡng mới tốt nghiệp
và giữ họ gắn kết với công việc theo thời gian. Các nhà lãnh đạo chứng tỏ khả năng
lãnh đạo thực sự sẽ hỗ trợ các điều dưỡng mới tốt nghiệp để xác định những điểm
mạnh và hạn chế của họ xây dựng các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn phù hợp .
Sawatzky nghiên cứu trên 261 điều dưỡng đã có chứng chỉ hành nghề làm việc
trong môi trường cấp cứu ở cả nông thôn và thành thị cho thấy sự gắn kết đóng vai
trò trung tâm trong việc Điều dưỡng cấp cứu có ý định bỏ việc, từ đó những yếu tố
ảnh hưởng tới sự gắn kết có thể làm thay đổi ý định bỏ việc của Điều dưỡng .
14
Nghiên cứu định lượng chỉ ra rằng có sự ảnh hưởng của đơn vị làm việc, sự hài lòng
với quá trình tương tác, mối quan hệ giữa Điều dưỡng và đồng nghiệp, người bệnh
và người nhà, sự hỗ trợ từ đồng nghiệp, người bệnh, người nhà và người quản lý tới
sự gắn kết . Warshawsky khảo sát trên đối tượng người quản lý điều dưỡng cho thấy
cần phải tạo ra mối quan hệ tích cực giữa các cá nhân trong môi trường làm việc
mới tạo ra sự gắn kết với công việc cao, nhất là mối quan hệ giữa điều dưỡng quản
lý và bác sỹ . Verweij (2017) nghiên cứu về ảnh hưởng giữa các yếu tố về công việc,
các yếu tố về gia đình và sự ảnh hưởng qua lại giữa công việc và gia đình với sự
gắn kết trong công việc của 2115 nhân viên y tế ở Hà Lan cho thấy yêu cầu và
nguồn lực của công việc, yêu cầu và nguồn lực từ gia đình, mối tương tác giữa công
kiệt sức, giảm ý định bỏ việc có ý nghĩa thống kê ,.
Một phân tích tổng quan tài liệu có hệ thống về các yếu tố ảnh hưởng đến sự
gắn kết trong công việc của Điều dưỡng chuyên nghiệp, và kết quả của sự gắn kết,
Keyko đã tổng hợp các nghiên cứu đã được công bố trong giai đoạn 2009-2014 .
Bằng chứng từ tổng quan này chứng minh rằng các nguồn lực cá nhân và chuyên
môn là yếu tố ảnh hưởng và dự đoán sự gắn kết công việc có ý nghĩa đối với cá
nhân điều dưỡng đã đăng ký hành nghề. Đặc biệt, thực hành phát triển chuyên
nghiệp, như thực hành phản xạ tích cực và tự tin đã được tìm thấy để dự đoán sự
gắn kết công việc và tầm quan trọng của sự hỗ trợ trong thực hành. Ngoài ra, niềm
đam mê trong công việc điều dưỡng, khám phá giá trị cốt lõi của điều dưỡng cũng
được xác định ảnh hưởng đến sự gắn kết công việc của điều dưỡng. Hơn nữa, sự
gắn kết công việc là điều thiết yếu đối với thực hành đạo đức điều dưỡng, do đó
trách nhiệm đạo đức của các điều dưỡng
Nhuđã đăng
cầu ký hành nghề có trách nhiệm hỗ
lực
trợ cá nhân tham giaNguồn
công việc
trong thực
công hành
việc chuyên môn. Kết hợp các kết quả
công việc
vào mô hình Nhu cầu và tài nguyên công việc Điều dưỡng cho phép hiểu thêm của
các hiện
Môitượng phức tạp của gắn kết công việc trong thực hành chuyên nghiệp điều
Kết quả:
trường
và một số yếu tố liên quan trong các tài liệu nghiên cứu về quản lý bệnh viện.
Theo nghiên cứu của Trần Thị Hà Giang (2014) tại bệnh viện Hà Nam thì sự
gắn kết trong công việc được đánh giá là một phần của đánh giá về sự mất cân đối
giữa nỗ lực cống hiến và chính sách đãi ngộ và được đánh giá dựa vào bộ câu hỏi
xây dựng bởi Seigrist. Kết quả cho thấy có mối tương quan có ý nghĩa thống kê
giữa gắn kết với công việc với trình độ chuyên môn của nhân viên y tế, nhóm làm
việc theo mảng cận lâm sàng và lâm sàng và không có mối tương quan có ý nghĩa
thống kê với tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng thu nhập, ngành nghề trong lĩnh
vực y tế, vị trí lãnh đạo và nhân viên, loại hình hợp đồng thời gian làm việc và
tuyến làm việc .
Theo nghiên cứu của Phùng Thị Huyền 2015, cũng dùng bộ câu hỏi do
Seigrist xây dựng, đánh giá có sự ảnh hưởng của gắn kết công việc với mức độ cân
17
bằng giữa nỗ lực làm việc và sự đãi ngộ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Cụ thể là
những người có gắn kết trong công việc cao thì cân bằng giữa sự đóng góp và đãi
ngộ cao gấp 2,67 lần nhóm có gắn kết trong công việc thấp .
Theo tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mỹ (2009) nghiên cứu sự hài lòng của kỹ
thuật viên và điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy sự chênh lệch
giữa tỷ lệ nhân viên y tế hài lòng với tổng thể công việc đang được phân công tại
bệnh viện, có 5 vấn đề ảnh hưởng cần được cải thiện để làm tăng mức độ hài lòng
đối với công việc của các Điều dưỡng, Kỹ thuật viên là: Thu nhập 57.6%, chính
sách thích hợp và thuyết phục 65.4%, điều kiện làm việc 79.9%, quan hệ tốt với cấp
trên cấp dưới 79.4%, thích thú với công việc được giao 79.1%, hài lòng với công
việc được giao 85.1% .
18
19
2.4.3. Các biến số thu thập số liệu
2.4.3.1. Các biến định lượng
Biến phụ thuộc gồm:
- Sự gắn kết với công việc.
- Hiệu suất công việc.
- Sức khỏe tổng quát.
Biến độc lập gồm:
- Các biến nhân khẩu học: Giới tính, tuổi, trình trạng hôn nhân, trình độ
chuyên môn.
- Các biến về đặc điểm công việc: số năm công tác, khoa công tác, thời gian
làm việc trong tuần, vị trí công việc, loại hợp đồng, hài lòng với công việc, mối
quan hệ trong công việc,…
- Áp lực công việc.
- Sự nỗ lực trong công việc.
- Sự đãi ngộ.
- Ảnh hưởng qua lại giữa công việc và gia đình.
- Sự hỗ trợ của người lãnh đạo.
2.4.3.2. Các biến định tính
Dựa vào kết quả của phần nghiên cứu định lượng.
2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu, khống chế sai số, phân tích, xử lý số liệu
2.5.1. Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi nghiên cứu định lượng được xây dựng dựa vào mục tiêu và biến
số/chỉ số nghiên cứu. Gồm có:
Đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm công việc: Xây dựng dựa trên các
đến K18 bị đảo ngược.
Tình trạng sức khỏe: Được xét cả về mặt thể chất, tinh thần, xã hội theo bộ
câu hỏi sức khỏe tổng quát (The General Health Questionnaire, GHQ) của tác giả
Goldberg và Hillier nhưng có lược ỏ một phần để phù hợp với định nghĩa về sức
khỏe (Điểm trung bình từ câu L1đến L14).
Sự gắn kết với công việc: Được đánh giá bằng bộ câu hỏi đánh giá sự gắn
kết trong công việc phiên bản rút gọn (Utrecht Work Engagement Scale - 9, UWES9) của tác giả Schaufeli và Bakker đã được nghiên cứu và đánh giá tính giá trị và độ
tin cậy, phù hợp và đã được sử dụng cho nhiều nhiên cứu với đối tượng nghiên cứu
là nhân viên y tế ,. Trong nghiên cứu hiện tại, tương ứng với các câu từ H1 đến H9.
Tôi cũng tiến hành nghiên cứu thử trên một mẫu 20 đối tượng là Điều dưỡng đang
công tác tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng để kiểm định tính phù hợp và độ tin
cậy của bộ công cụ nghiên cứu cũng như xác định cách tiếp cận điều tra phù hợp
hơn.