Nhận xét chỉ định, kỹ thuật và kết quả phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp điều trị bệnh basedow tại bệnh viện nội tiết trung ương - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Basedow (Graves’ disease) là một bệnh tự miễn gây hậu quả cường
giáp khá phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới. Theo Tạ Văn Bình tại Bệnh
viện Nội tiết Trung ương số người đến khám bệnh cường giáp chiếm 40% trong
số bệnh nhân khám về nội tiết và nữ giới chiếm 95% [1].
Tại châu Âu thì tỷ lệ mắc bệnh hàng năm là 20/100.000 dân, tại Mỹ thì tỷ lệ
khoảng 40/100.000 dân [2],[3],[4].
Có 3 phương pháp điều trị bệnh Basedow là điều trị nội khoa, điều trị
xạ I131 và điều trị ngoại khoa. Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm
riêng và chỉ định phù hợp cho từng trường hợp cụ thể.
Phương pháp điều trị bằng phẫu thuật đã có lịch sử khá lâu, bắt đầu từ
năm 1869 với kỹ thuật cắt bỏ một phần tuyến giáp bởi Valdenver. Sau đó các
tác giả như Lister (1877), Tillaux (1880) thực hiện nhưng tỷ lệ tử vong và
biến chứng cao. Với sự cải tiến về kĩ thuật cắt tuyến giáp của Kocher (1920),
phẫu thuật đã mang lại kết quả đáng khích lệ. Đặc biệt việc sử dụng Lugol 1%
trước mổ đã làm giảm đáng kể biến chứng [5],[6],[7].
Năm 1950, với sự ra đời của thuốc kháng giáp tổng hợp và I131, việc điều trị
Basedow đã có nhiều thay đổi quan trọng. Phẫu thuật không còn là biện pháp
điều trị duy nhất. Tuy nhiên nó vẫn đóng vai trò quan trọng do có những ưu điểm
như tỷ lệ khỏi bệnh cao, kết quả bền vững, thời gian điều trị được rút ngắn, và có
thể áp dụng cho những trường hợp điều trị nội khoa thất bại hay không thể áp
dụng biện pháp điều trị khác [8],[9],[10].
Với sự hiểu biết giải phẫu vùng cổ, sinh lý bệnh Basedow, việc điều trị
tốt trước mổ, sự tiến bộ của gây mê hồi sức hiện nay nên việc điều trị
Basedow bằng ngoại khoa đã mang lại những thành công to lớn với những
biến chứng trong và sau mổ hạ thấp.


2

tuyến giáp do các kháng thể miễn dịch xuất hiện và lưu hành trong máu.
Cường giáp là hội chứng gây ra do tình trạng tăng quá mức hormone
tuyến giáp. Từ đồng nghĩa là nhiễm độc giáp.
Bệnh còn được gọi theo cơ chế bệnh sinh:
-

Cường giáp: Hyperthyroidism.

-

Bệnh cường chức năng giáp tự miễn: Autoimmine Hyperthyroidism.

-

Bệnh cường giáp miễn dịch: Immunogenic Hyperthyroidism.

-

Hoặc theo biểu hiện lâm sàng: Bệnh bướu giáp lồi mắt (Exophamic goiter).
1.1.2. Chẩn đoán xác định
Để chẩn đoán bệnh Basedow dựa vào một số triệu chứng lâm sàng và
cận lâm sàng chính sau [14]:
-

Hội chứng cường giáp: Mệt mỏi, hồi hộp, run tay, nóng bức, rối loạn
tiêu hóa: ỉa lỏng, sút cân…

-

Bướu giáp lan tỏa, mật độ mềm, nghe có tiếng thổi tại tuyến, phân độ

Độ
0
1
2
3
4
5
6

Biểu hiện
Không có tổn thương.
Chỉ có rối loạn chức năng - Co kéo cơ mi trên (dấu hiệu Dalrymple,
Von Graefe) mất đồng vận mi mắt và nhãn cầu, ít nháy mắt.
Tổn thương phần mềm - tổn thương kết mạc và phù mi, phù kết mạc,
chảy nước mắt, cảm giác có vật lạ ở mắt, sợ ánh sáng.
Lồi mắt quá 3 mm so với giá trị bình thường - đo bằng thước Hertel.
Tổn thương cơ vận nhãn: cơ thẳng dưới, cơ thẳng giữa. Vận nhãn bị
hạn chế, thị lực bị rối loạn hoặc song thị.
Tổn thương giác mạc – đục giác mạc, loét giác mạc vì không nhắm
kín được mắt.
Giảm thị lực đến mất thị lực - Tổn thương dây thần kinh thị giác.


5

* Phân độ bướu của Tổ chức y tế thế giới (1995) [1]
-

Độ O: Không có bướu giáp.


hãm được.
+ Cường giáp trạng cận ung thư: Các triệu chứng cường giáp có thể
thấy trước khi các biểu hiện của ung thư các tạng: Sinh dục, phổi...Người ta
cho rằng tổ chức ung thư tiết ra 1 chất giống TSH làm cho cường tuyến giáp.
+ U độc tuyến giáp: Thường xuất hiện ở người cao tuổi, triệu chứng
tim mạch nổi bật trên lâm sàng, không có dấu hiệu về mắt. Chẩn đoán xác
định nhân độc trên xạ hình là nhân nóng bắt Iốt mạnh, xung quanh bắt Iốt
thưa thớt, siêu âm tuyến giáp nhân đậm âm.


6

+ Cường giáp do Iốt: Quá tải Iốt có thể gây cường giáp trên bệnh nhân
bình thường hay đã có bệnh lý tuyến giáp trước đó.
+ Cường giáp do viêm tuyến giáp: Giai đoạn sớm có triệu chứng của
cường giáp cả trên lâm sàng và xét nghiệm sinh học nhưng khi điều trị viêm
giáp ổn định thì hết triệu chứng cường giáp.
+ Cường giáp do điều trị: Điều trị suy giáp, bướu đơn thuần bằng
hormone tuyến giáp quá liều mà không theo dõi chặt chẽ.
1.1.4. Biến chứng bệnh Basedow
Nếu không được phát hiện, chẩn đoán sớm, điều trị đúng cách, bệnh
tiến triển thành từng đợt, gây nhiều biến chứng, quan trọng nhất là:
- Cơn nhiễm độc giáp cấp:
Đây là một cấp cứu nội khoa, tỉ lệ tử vong khá cao, nếu không được
điều trị kịp thời thì tỉ lệ tử vong có thể trên 50%, xảy ra nhiều hơn trên những
bệnh nhân Basedow không được chuẩn bị trước về nội khoa khi can thiệp
ngoại khoa, điều trị I131 hoặc khi nhiễm khuẩn, chấn thương hoặc dừng thuốc
kháng giáp tổng hợp đột ngột [18].
Lâm sàng: Triệu chứng rầm rộ, có thể có phù phổi cấp, suy gan, suy
thận... Các xét nghiệm hormone tuyến giáp tăng rất cao.

Parry, bệnh bướu giáp lan tỏa nhiễm độc, bệnh bướu giáp lồi mắt. Năm
1856, Jean Charcot (1825- 1893) quan sát các triệu chứng của bệnh và
nhấn mạnh dấu hiệu run chân tay [24].
Năm 1891, George Murrey (1865- 1939), thầy thuốc xứ Gan-lơ (Anh) đã
xác định được hoạt động của tuyến giáp. Murrey đã tiêm dưới da tinh chất tuyến
giáp cừu cho chứng phù niêm và nhận thấy các dấu hiệu của bệnh mắt [24].
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh Basedow cũng có một số vấn
đề chưa được xác định rõ. Những nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh này có
kèm theo những rối loạn quan trọng về đáp ứng tự miễn dịch của cơ thể, cụ thể
là những rối loạn tự miễn dịch do các globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp


8

– TSI (Thyroid Stimulating Immune) được hình thành để chống lại kháng
nguyên trong tuyến giáp [25].
Rapoport B. (1984) nhận thấy TSI có ở hơn 90% bệnh nhân mắc
bệnh Basedow và cho rằng TSI là nguyên nhân gây ra bệnh này. Zakanja
M. chứng minh rằng có thể làm giảm mức TSI về bình thường ở khoảng
50% bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng giáp hay điều trị bằng I131
và ở 83% bệnh nhân sau mổ cắt gần hoàn toàn tuyến giáp [26].
Lê Huy Liệu, Thái Hồng Quang cho rằng bệnh Basedow là một bệnh tự
miễn thông qua sự có mặt của các tự kháng thể trong huyết thanh, kết hợp với
hiện tượng thẩm lậu lympho bào trong mô bướu giáp [27],[28].
Có hai nhóm kháng thể: Nhóm có tác dụng kích thích tuyến giáp và
nhóm kháng thể kháng thyroglobulin, microsome.
Nhóm kháng thể có tác dụng kích thích tuyến giáp gồm có LAST và
TSI. LAST (Long Acting Thyroid Stimulator) ở trong huyết thanh 3050% bệnh nhân và người không bị bệnh cũng có, do vậy LATS không phải
là nguyên nhân chính gây bệnh. TSI hay còn gọi là TSAb (Thyroid
Stimulating Antibody) là các globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp

khoa một cách triệt để do bệnh nhân đang có thai, cho con bú hoặc bị dị
ứng với các thuốc kháng giáp. Ngoài ra, điều trị nội khoa cũng không làm
nhỏ được kích thước bướu giáp ở các trường hợp bị bệnh Basedow với
bướu cổ to, ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ và chức năng vùng cổ [28].
1.2.2. Điều trị bằng I131
* Cơ chế tác dụng.
Nguyên lý cơ bản của phương pháp điều trị bệnh Basedow bằng I131 là
khi đưa I131 vào cơ thể thì phần lớn (60- 90%) số Iốt này sẽ được hấp thu bởi
các tế bào tuyến giáp. Tại đây, chúng sẽ phát ra các tia phóng xạ β và γ để phá
hủy các tế bào nhu mô tuyến giáp. Liều điều trị I131 trung bình là 4 -10mCi,
tương đương với 60 - 80 micro Ci/g tổ chức tuyến giáp [36].


10

* Kết quả điều trị.
Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là liệu trình điều trị tương đối
nhanh, ít tác động phiền phức cho bệnh nhân trong quá trình thực hiện điều
trị. Nhưng phương pháp này cũng có nhiều nhược điểm, đó là:
- Tỷ lệ nhược giáp sau điều trị cao và khó kiểm soát. Theo các nghiên
cứu trong và ngoài nước, tỷ lệ nhược giáp sau điều trị I131 năm đầu tiên là
10-20%, các năm sau tỷ lệ này tăng thêm hàng năm là 2- 4%. Do có tính
chất tích lũy, nên càng về sau tỷ lệ nhược giáp càng cao. Theo Fish L. H.
(1987), Mandel S. J. (1993), tùy thuộc vào chiến lược điều trị mà tần suất
nhược giáp vĩnh viễn có thể từ 50- 80% [26].
- Phương pháp này không áp dụng được cho các bệnh nhân là trẻ em,
phụ nữ đang có thai hoặc đang cho con bú với những ảnh hưởng của tia
phóng xạ. Mặt khác, trong điều trị có thể gặp các biến chứng như nhiễm độc
thyroxin kịch phát, ung thư tuyến giáp và tỷ lệ nhược giáp cũng tăng theo thời
gian điều trị [37].

phẫu thuật. Ngày nay khoa học phát triển đặc biệt nền y học, các chỉ định mổ
cũng luôn luôn thay đổi để phù hợp với trình độ cụ thể của các cơ sở y tế điều
trị. Chỉ định mổ trong bệnh Basedow cũng có những thay đổi và ngày càng
hoàn thiện hơn.
1.3.1. Tình hình chỉ định phẫu thuật cho bệnh Basedow trên thế giới
-

Luton và cộng sự (1984) nghiên cứu trên 125 BN Basedow [43].
BN trẻ tuổi, bướu to, điều trị nội khoa kéo dài.
Phụ nữ có thai: Chống chỉ định điều trị I131. Điều trị kháng giáp tổng hợp có

-

nguy cơ suy giáp.
Biến chứng đã được điều trị ổn định.





Kraimps nghiên cứu 557 BN (1991-1997): Có 3,8% ung thư [44].
- Chỉ định mổ: Trẻ em, phụ nữ trẻ, bệnh nhân có nhân tuyến giáp tồn tại

có chỉ định tuyệt đối.
- Chỉ định chung: Tái phát nặng sau điều trị thuốc kháng giáp tổng hợp


12

kéo dài, dị ứng, không đáp ứng điều trị; Kích thước bướu tăng chèn ép; Phụ


không kết quả. Những tháng cuối thai kì khi bệnh có chiều hướng nặng lên.
- Trường hợp đã có biến chứng tim.
- Theo Đặng Ngọc Hùng, Thái Hồng Quang (1997) và một số tác giả
khác [44],[48].
-

ĐT nội 4 - 6 tháng không đạt kết quả rõ rệt.
Thể nặng ở trẻ dưới 10 tuổi, thiếu niên, trẻ em điều trị nội khoa không có kết

-

quả.
Phụ nữ có thai, thời kỳ cho con bú.
Bệnh nhân không có điều kiện điều trị nội khoa.
Các thể có biến chứng tim.
Bướu giáp to gây chèn ép.
- Tác giả Kiều Trung Thành (2003) nghiên cứu trên 433 BN Basedow thì
chỉ định mổ căn cứ vào các điều kiện sau [49]:

-

Kinh tế xã hội.
Khả năng điều trị nội khoa.
Tùy thuộc từng lứa tuổi.
Đặc điểm bướu, thể bệnh, mức độ bệnh.
Kinh nghiệm của PTV và cơ sở điều trị.
Sự lựa chọn của BN.
- Nguyễn Ngọc Trung (2009) nghiên cứu trên 95 BN Basedow có chỉ
định phẫu thuật như sau [50]:

Washington Crile cùng với Charles Mayo, là những nhà phẫu thuật hàng đầu ở
Mỹ trong cắt tuyến giáp điều trị bệnh cường giáp. Thời gian này Halsted mổ 90
trường hợp bướu giáp nhiễm độc, tỷ lệ tử vong chỉ trên 2%, còn Crile có tỷ lệ
tử vong là 1,8%. Cùng thời gian này ở Anh, nhà phẫu thuật tuyến giáp đứng
đầu là James Berry mới thu thập được 60 bệnh nhân cường giáp để mổ (loại trừ
những trường hợp nặng và những bệnh nhân có bệnh tuyến giáp - tim là không
mổ) thì tỷ lệ tử vong là 3,3%. Trong khi đó, tại bệnh viện St. Thomas giữa
những năm 1908-1912, mổ 19 bệnh nhân nhiễm có tỷ lệ tử vong là 33%.
Ở Úc, phẫu thuật tuyến giáp phát triển sớm do có sự ảnh hưởng mạnh mẽ
của Kocher. Tài liệu đầu tiên về cắt tuyến giáp điều trị bệnh Basedow ở Úc
xuất hiện vào năm 1896 do Albert Martin mô tả cắt 1 thùy của tuyến giáp


15

trong cuốn “Transactions of the Intercolonial medical Congress of 1896”.
Trong cùng số phát hành, Closs J. O. mô tả mổ 4 bệnh nhân Basedow có 1
trường hợp tử vong (25%).
Hiện nay với sự tiến bộ trong y học cũng như các phương diện khác, tỷ
lệ tai biến và biến chứng trong phẫu thuật tuyến giáp nói chung và Basedow
nói riêng đã giảm đi đáng kể. Phẫu thuật tuyến giáp trở nên an toàn hơn, BN
tử vong sau mổ gần như không gặp.
Le Clech. G, Caze. A và cộng sự (2005) từ năm 1973 đến 2003 đã phẫu
thuật cho 378 BN Basedow trong đó cắt gần toàn bộ tuyến giáp cho 312 BN,
cắt toàn bộ tuyến giáp 66 BN. Kết quả: tổn thương TKQN 1%, hạ canxi máu
vĩnh viễn 2,3%, không có trường hợp nào tử vong sau mổ [11].
Wilhelm SM, McHenry CR. (2010) Thực hiện phẫu thuật cho 136 BN
Basedow cho kết quả: Hạ canxi máu sau phẫu thuật thường gặp hơn sau cắt toàn
bộ tuyến giáp, không bệnh nhân nào trong nhóm bị suy tuyến cận giáp vĩnh viễn.
2 BN cắt toàn bộ tuyến giáp có tổn thương dây TKQN thoáng qua [13].

Quân y 103 cho thấy: Suy hô hấp cấp sau mổ là 2,11%, cơn nhiễm độc giáp kịch
phát sau mổ 0,6% và tử vong là 0,06% [55].
Tại Viện Quân y 103, Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2000) đã tổng kết 10
năm (1989-1999) phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp điều trị bệnh Basedow
với tổng số 2976 ca đạt kết quả tốt, trong đó biến chứng sớm sau mổ là thấp: Chảy
máu 21 BN (0,71%), tetani 43 BN (1,45%), suy hô hấp 3 BN (0,44%), khàn tiếng
tạm thời 26 BN (0,87%), cơn cường giáp 2 BN (0,07%), gặp 1 trường hợp tử
vong (0,03%) [46].
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trong điều trị ngoại khoa bệnh
Basedow, song phẫu thuật cắt gần toàn bộ tuyến giáp vẫn còn một tỉ lệ nhất định
các biến chứng ở thời kỳ sớm và ở giai đoạn xa sau mổ. Tập hợp kết quả
chung của một số công trình nghiên cứu trong 15 năm gần đây cho thấy tỷ
lệ các biến chứng trong phẫu thuật bệnh Basedow như sau: Chảy máu sau
mổ (0,1- 5,0%), tetani sau mổ (0,2-19,6%), tổn thương TKQN (0,1- 18%),


17

cơn cường giáp kịch phát sau mổ (0-15%), suy hô hấp cấp sau mổ (0,12,26%), tử vong ở giai đoạn sớm sau mổ (0-1,13%), cường giáp tái phát
sau mổ 6 tháng đến 10 năm (0,5- 27,9%), nhược giáp sau mổ từ 6 tháng
đến 10 năm (2,5- 30%) [56],[57].
Để giảm được tỉ lệ các biến chứng này phải nghiên cứu hoàn thiện đồng
bộ tất cả các khâu của quá trình điều trị ngoại khoa bệnh Basedow. Cụ thể:
Chỉ định mổ, điều trị chuẩn bị mổ, phương pháp vô cảm, kỹ thuật mổ, theo
dõi điều trị sau mổ.
1.4.2. Điểm lại các kỹ thuật mổ tuyến giáp điều trị Basedow [58]
- Mikulicz (1884) người đầu tiên đề xuất phương pháp cắt tuyến giáp sau
khi thắt 2 động mạch giáp trạng trên để điều trị Basedow.
- Phẫu thuật Mikulicz được A. V. Martuinov cải tiến và được gọi là phẫu
thuật Mikulicz - Martuinov: Sau khi thắt động mạch giáp xẻ eo tuyến, cắt gần

- Đặng Ngọc Hùng, Ngô Văn Hoàng Linh đã nghiên cứu cải tiến một số
chi tiết kỹ thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp theo phương pháp O.V Nicolaev
như sau:
+ Bộc lộ tuyến giáp bằng đường dọc giữa các cơ dưới móng, không cắt
ngang cơ.
+ Thắt các động mạch giáp trên sát cực trên tuyến. Sau đó thắt các
mạch máu nhỏ sát trong bao tuyến ở phần tuyến còn lại. Không thắt động
mạch giáp dưới.
+ Kẹp cầm máu đặt song song dọc theo trục của từng thùy tuyến (một
cành xuyên trong nhu mô). Cắt tuyến giáp trên các kẹp đó rồi khâu mỏm cắt
bằng mối chỉ chữ U.
+ Khâu da vết mổ bằng chỉ vắt luồn dưới da.
Với phương pháp cải tiến này cuộc mổ an toàn, thời gian mổ rút ngắn, giảm
được các biến chứng sau mổ, vết mổ đẹp, giữ được thẩm mỹ cho bệnh nhân.
- Nguyễn Hoài Nam từ năm 1992-1998 đã phẫu thuật cho 192 bệnh nhân
Basedow theo phương pháp cải tiến của bệnh viện 103 đạt kết quả tốt [59].


19

- Gần đây một số nghiên cứu lại chủ trương đề ra phương pháp phẫu thuật
tuyến giáp mở rộng điều trị bệnh Basedow. Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp được
chỉ định với các bệnh nhân có cùng tồn tại ung thư tuyến giáp, Basedow có nhân
tuyến giáp nguy cơ ung thư, ung thư tuyến cận giáp kèm theo, có nhiều u tuyến nội
tiết, có lồi mắt nặng, hoặc các bệnh nhân không muốn phẫu thuật lại hoặc phải điều
trị xạ khi tái phát.
-

Năm 2007, Daniel Oertli, Robert Udelsman đã nghiên cứu đề xuất phương
pháp mổ cắt toàn bộ tuyến giáp khuyến cáo sử dụng cho tới nay [60].

- Cắt ngang cân cổ nông cả tĩnh mạch nông vùng cổ trước tuyến giáp

.

- Cắt tuyến giáp ngoài bao hoặc trong bao.
- Thắt các động mạch giáp trạng.
- Xẻ eo tuyến hoặc không, cắt gần hoàn toàn tuyến giáp hoặc cắt toàn bộ
tuyến giáp.
- Khâu cầm máu quanh tuyến giáp hoặc dùng kẹp cầm máu kẹp tổ chức
tuyến, khâu các mũi chỉ chữ U sát kẹp cầm máu.
- Dẫn lưu vùng cổ, băng ép dịch.
Nhược điểm của các phẫu thuật này là:
- Do khâu cầm máu và tổ chức tuyến bằng chỉ (kể cả chỉ tiêu) để lại
nhiều mối chỉ trong vùng cổ sẽ gây cộm và có thể gây rò chỉ kéo dài.
- Tổ chức tuyến trong Basedow đôi khi rất mủn nát, mạch máu thường
giãn mỏng vì vậy khi kẹp và khâu sẽ khó khăn và chảy máu nhiều làm thời
gian cuộc mổ kéo dài.
- Những trường hợp bướu to có thể phải cắt ngang nhóm cơ cổ bên.
- Những trường hợp xẻ eo tuyến thường gây chảy máu vì trong Basedow
eo tuyến thường lớn.
1.5. CÁC ĐIỂM CẦN CHÚ Ý KHI PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP
1.5.1. Cầm máu


21

Cầm máu là một khâu rất quan trọng trong phẫu thuật tuyến giáp, và
được chú ý thực hiện từ lúc bắt đầu mổ cho tới tận khi kết thúc. Cầm máu
bằng dao điện, dao siêu âm hay bằng thắt chỉ tiêu chậm bao giờ các thao tác
cũng phải sát tuyến giáp. Không bao giờ được hút máu vào chỗ dây quặt

nơi mà các tế bào dầy đặc và chỗ dây cố định chặt chẽ với thân tuyến giáp
và khí quản.
Dây thần kinh quặt ngược được phân chia cho tới tận chỗ đổ vào của
màng giáp nhẫn nơi mà nó bắt chéo nhau tạo thành một cuống hậu quặt
ngược. Việc kiểm tra bằng mắt cuống hậu quặt ngược này được cặp và thắt
nhẹ nhàng giữa khí quản và dây thần kinh quặt ngược là một thì rất quan
trọng của phẫu thuật.
Ở những bệnh nhân có bướu to hay mổ lại dây thần kinh quặt ngược nằm
thấp hơn ở trong cổ trước khi vào u hay tổ chức sẹo hoặc cao hơn trong cổ sau
khi ra khỏi bướu và nơi nó vào cơ nhẫn giáp.
Phần khó khăn nhất trong khi bóc tách cắt tuyến giáp thường ở chỗ dây
chằng treo sau hay dây chằng Berry. Dây chằng này nằm ở phần bên sau của
tuyến giáp ngay dưới sụn nhẫn. Một nhánh nhỏ của động mạch giáp dưới
chạy ngang qua dây chằng cũng như là một hay nhiều tĩnh mạch từ tuyến
giáp. Khi có chảy máu từ các mạch máu này thì không nên cặp mà ép bằng
gạc để cầm máu. Đặc biệt sau khi lấy bỏ thuỳ giáp có ít máu chảy ngay lập
tức ở chỗ đổ vào thanh quản của dây thần kinh quặt ngược [64].
1.5.4. Tuyến cận giáp trạng
Theo Proye C. khó khăn thực sự không phải là nhìn thấy thần kinh quặt
ngược hay tuyến cận giáp mà là cách tách dây thần kinh hay bảo toàn mạch
máu nuôi tuyến cận giáp [63].
Có khoảng 85% người bình thường có 4 tuyến cận giáp nằm sát ngay
tuyến giáp ở trên bao bên sau. Kích thước mỗi tuyến khoảng 3x3x4 mm, có


23

màu nâu sáng. Tuyến cận giáp trên ở vị trí sau hơn so với cận giáp dưới và
chúng cũng thường ở vị trí cố định hơn. Cả 2 tuyến trên và dưới đều được
nuôi dưỡng bởi 1 nhánh nhỏ của động mạch giáp dưới. Khoảng 15% tuyến

Ngày nay do điều trị chuẩn bị trước mổ tốt nên biến chứng này hầu như
không có [59].
Triệu chứng cơn nhiễm độc giáp kịch phát:
+ Sốt cao 40-41oC, đổ mồ hôi, mất nước.
+ Nhịp tim rất nhanh 200l/p, rối loạn nhịp, suy tim cấp, trụy mạch.
+ Run, kích thích, thương tổn cơ (rối loạn nuốt), mê sảng, hôn mê.
+ Tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, vàng da.
+ Có thể gặp cơn bão giáp vô cảm với đặc trưng yếu cơ, vô tình cảm, rối
loạn tâm thần.
1.6.1.3. Hạ canxi máu sau mổ
Là biến chứng nguy hiểm của phẫu thuật tuyến giáp, có thể do chấn
thương trực tiếp tuyến cận giáp, thiếu máu hoặc cắt bỏ tuyến trong khi phẫu
thuật. Nguyên nhân hạ canxi thoáng qua có thể do thiếu máu, giảm nhiệt độ
tuyến hoặc phóng thích endothelin-1 là một chất phản ứng ngăn chặn sản xuất
PTH. Endothelin-1 tăng lên ở các BN giảm năng tuyến giáp thoáng qua. Các
yếu tố nguy cơ do hạ canxi máu sau cắt bỏ tuyến giáp bao gồm bệnh Basedow
và bệnh ác tính [66].
Tỉ lệ hạ canxi máu sau mổ Basedow tạm thời là 0,8%, vĩnh viễn 0,4%
+ Tiền triệu: Cảm giác tê bì đầu chi, lưỡi, quanh miệng.
+ Triệu chứng: Chuột rút, co thắt các thớ cơ, bàn tay đỡ đẻ.
+ Định lượng canxi máu < 2 mmol/l.
1.6.1.4. Biến chứng đường thở
Có thể do tổn thương cả hai dây TK quặt ngược, phù nề thanh môn, tăng
tiết ứ đọng dịch trong khí phế quản sau mổ, chèn ép khí quản do máu tụ. Xẹp


25

khí quản sau mổ thường gặp ở các bướu to, các vòng sụn khí quản bị chèn ép
lâu ngày, rối loạn tuần hoàn, loạn dưỡng nên bị mềm hoá dẫn tới tình trạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status