ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp là bệnh ác tính thường gặp, chiếm 90% bệnh nhân
ung thư tuyến nội tiết và khoảng 1% các loại ung thư. Tần xuất mắc bệnh
hằng năm từ 0,5 - 10/100 000 dân và khác nhau giữa cỏc vựng. Tỷ lệ mắc
chuẩn theo tuổi ở nam giới là 3/100.000 dõn/năm, ở nữ giới cao hơn 2 - 3 lần
[2], [21], [49], [59]. Ung thư tuyến giáp ngày càng tăng, đặc biệt ở phụ nữ
.Theo thống kê tại sỏu vựng trờn cả nước, tại Hà Nội tỷ lệ mắc ung thư tuyến
giáp theo tuổi là 1,9/100000 dân, nữ giới mắc nhiều hơn nam giới : 1/2,6; tại
thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến giáp ở nữ giới là
2,8/100000 dân và ở nam giới là 1,5/100000 dân [12], [16]. Ở Mỹ ước tính
hàng năm có 17000 bệnh nhân mới mắc ung thư tuyến giáp được chẩn đoán
và có 1300 bệnh nhân chết vì căn bệnh này, khoảng 190000 bệnh nhân ung
thư tuyến giáp đang được theo dõi ở độ tuổi trên 40 [21].
Hiện nay việc điều trị ung thư tuyến giáp với sự kết hợp đa phương thức:
phẫu thuật, đồng vị phóng xạ I-131, xạ trị ngoài bằng tia Gamma, hóa trị liệu,
hormone liệu pháp được hầu hết các giả trong và ngoài nước ủng hộ. Trong
đó phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp toàn bộ đóng một vai trò chủ chốt trong phức
hệ điều trị căn bệnh ác tính này , nó gần như cần phải được lựa chọn và yờu
tiờn hàng đầu [4]. Kết quả của phẫu thuật phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố
như : hình thái mô bệnh học , giai đoạn tiến triển của bệnh,…. rồi sự phối kết
hợp giữa cỏc bỏc sỹ trong các chuyên ngành: Ung thư, Ngoại lồng ngực, Y
học hạt nhân và Nội tiết có được chặt chẽ hay không? [2].
Theo khuyến cáo của Hiệp hội chống ung thư Quốc tế thì hầu hết các
giai đoạn của ung thư tuyến giỏp, dự thuộc hình thái mô bệnh học nào cũng
đều cần phải phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp toàn bộ. Ưu điểm của cắt toàn bộ
tuyến giáp là làm cho sự hấp thụ I - 131 của tế bào ung thư tuyến giáp còn lại
1
được dễ dàng hơn, làm tăng được hiệu quả của i-ốt phóng xạ, cũng như thuận
lợi cho việc theo dõi sự tái phát qua định lượng Thyroglobulin, giảm được
nguy cơ tái phát tại chỗ, loại bỏ những ổ ung thư vi thể ở thựy giỏp đối bên,
hạn chế di căn xa và giảm tỷ lệ tử do bệnh [26], [42], [43], [51], [52], đồng
tuyến giáp. Khi cường chức năng hay tuyến giáp hoạt động nhiều thì
lượng tưới máu đến tuyến giáp tăng. Vì vậy, có thể sờ thấy hiện tượng
dung mưu hay nghe thấy tiếng thổi tâm thu.
Ngoài ra tuyến giáp còn có hệ thống mạng lưới Lympho phong phú,
do đó khi tổ chức tuyến giáp bị ung thư, tế bào ung thư giáp dễ dàng di
căn vào hệ hạch cổ.
Thựy bên tuyến giáp hình tháp tam giác có ba mặt, hai bờ, hai cực.
Eo giáp: dính vào vòng sụn khí quản 2 - 3, trước eo giáp từ nông vào
sâu là da, các mạc cổ, các cơ dưới móng, sau eo tuyến giáp là sụn khí
3
quản, nờn nú di chuyển theo khí quản khi nuốt, đặc điểm này để phân biệt
khối u tuyến giáp với khối u khỏc vựng cổ.
1.1.2. Liên quan thần kinh chi phối [11], [20], [30].
Ở vùng cổ trước, dây X đi sau động mạch và tĩnh mạch cảnh, cho ra
cỏc nhỏnh bờn:
- Dây thanh quản trên: từ đám rối hạch chạy vòng quanh, sau đó bắt chéo
mặt trong của động mạch cảnh tới bờ trên xương móng rồi chia làm hai nhánh:
+ Nhánh trong: chi phối cảm giác niêm mạc thanh quản, chạy ngang vào
màng giỏp - múng, tận hết ở thanh quản.
+ Nhánh ngoài: chi phối vận động cơ nhẫn giáp và sự căng của dây
thanh. Khi nhánh ngoài bị tổn thương dẫn đến khó nói do mất sự điều chỉnh
dây thanh. Cỏc nhỏnh này dễ có nguy cơ bị tổn thương do nằm cạnh động
mạch giỏp trờn mà trong quá trình phẫu thuật lại phải thắt cầm máu động
mạch này [48].
- Liên quan của thần kinh với cực trờn thựy giỏp và cỏc nhỏnh của động
mạch là luôn biến đổi, thần kinh và mạch máu đi vào cực trên tuyến giáp,
cách cực trên tuyến giáp 1cm, nên rất dễ bị tổn thương khi phẫu thuật cắt
tuyến giáp toàn bộ. Có ba loại:
+ Loại 1: thần kinh đi qua mạch máu giỏp trờn để vào cực trên tuyến giáp.
+ Loại 2: thần kinh đi vào cực trên tuyến giáp nhưng đi phía trên động
+ Dây thần kinh đi ra khỏi dây X ngang mức cực trên tuyến giáp, đi
hướng vào trong tới thanh quản, không mượn đường đi của dây bình thường.
+ Dây thần kinh tách từ dây X ở ngang mức cực dưới tuyến giáp, đi vào
khe khí - thực quản theo đường cong lên trên, ra ngoài, tiếp xúc chặt chẽ với
động mạch giáp dưới rồi theo đường đi lên thông thường của dây quặt ngược
[11], [20], [57].
1.1.3. Tuyến cận giáp
Tuyến cận giáp, nằm ở bờ sau của thùy tuyến giáp, số lượng và vị trí là
tùy thuộc từng người. Trong nghiên cứu thấy có khoảng 13% số người có 5
tuyến cận giáp và 3% có 3 tuyến. Tuyến cận giỏp trờn được bắt nguồn từ túi
hầu 4 và nằm trong tuyến giáp, cùng phát triển với tuyến giáp, thời kỳ bào
thai chúng xuống thấp phía sau tuyến giáp và nằm trong vỏ tuyến giỏp.Tuyến
cận giáp dưới được bắt nguồn từ túi hầu 3 và xuống thấp trong lúc tuyến ức
phát triển, bởi vậy chúng ở thấp và thường vị trí có nhiều thay đổi. Tuyến cận
giáp dưới có thể phát triển cùng tuyến ức trong trung thất trước hoặc ở màng
ngoài tim, chúng có thể ở bên phải phía trước cung động mạch chủ. Hầu hết
6
tuyến cận giáp dưới được tìm thấy ở cực dưới tuyến giáp, trong vỏ tuyến giáp,
có thể thấy trong tổ chức tuyến giáp. Mặc dù có sự biến đổi trong giải phẫu
tuyến cận giáp nhưng thường đối xứng hai bên cổ. Tuyến cận giỏp trờn đối
xứng 80% trường hợp, cận giáp dưới là 70%. Tuyến cận giáp hình bầu dục,
dẹt, màu vàng nâu, trong bao tuyến. Kích thước trung bình: dài 6mm, rộng 3 -
4mm, dầy 1-2mm, nặng khoảng 50mg. Có từ 2-6 tuyến ở người bình thường,
thường là 4 tuyến. Các tuyến cận giáp liên quan với bờ sau thựy bờn tuyến
giỏpá sự tiếp nối giữa động mạch giỏp trên và giáp dưới nằm dọc theo bờ sau
của thựy bờn tuyến giáp có liên quan chặt chẽ với các tuyến cận giáp, là mốc
để tìm tuyến cận giáp, mỗi bên có 2 tuyến cận giáp: một ở trên, một ở dưới
[11], [20], [48],[57].
- Tuyến cận giỏp trờn có thể ở một trong các vị trí [TDT 1]:
+ Vị trí 1: ở ngay phía trên của tuyến giáp, tiếp giáp với sụn giáp.
- Vùng IV: hạch cảnh dưới.
- Vùng V: hạch thượng đòn và tam giác sau.
- Vùng VI: hạch khoang trung tâm gồm: hạch trước thanh quản, hạch
trước khí quản, hạch cạnh khí quản.
- Vùng VII: hạch trung thất trên.
8
Hình 1.2. Các chuỗi hạch chính ở cổ [8]
Tuyến giáp chứa hệ bạch huyết dày đặc nối với nhau ở vùng eo, rời
tuyến giáp đi theo các mạch máu lớn của tuyến. Bạch huyết ở phía trên đi
theo động mạch giỏp trờn. Bạch huyết ở phía dưới đi theo động mạch giáp
dưới. Dòng Lympho ban đầu có xu hướng đi vào hạch nhóm VI cựng bờn. Ở
cực trờn thựy giỏp và eo giáp, hạch bạch huyết dẫn lưu lên phía trên, vào hạch
nhóm II và nhóm III. Ở cực dưới, hệ bạch huyết ở cực dưới ban đầu dẫn lưu
vào hạch nhóm VI, sau đó vào nhóm IV và nhóm VII.
Ban đầu hạch Lympho thường di căn tới hạch nhóm VI cựng bờn, sau đó
lên hạch cổ cựng bờn, rồi đi đến hạch cổ đối bên, tuy nhiên vẫn xẩy ra di căn
kiểu nhảy cách.
Đám rối bạch huyết ở niêm mạc khí quản và tuyến giáp có sự thông
thương trực tiếp với nhau, vì vậy những ung thư tuyến giỏp cú di căn sớm vào
hạch trước khí quản.
9
Hình 1.3. Sơ đồ phân chia vùng hạch cổ [40]
Căn cứ vào động mạch cảnh chung để xác định khoang bạch huyết trung
tâm và khoang bên, những khoang này thường được tiến hành nạo vét hạch
trong ung thư tuyến giáp.
1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG UNG THƯ TUYẾN GIÁP
1.2.1. Triệu chứng cơ năng
- Giai đoạn đầu: Bệnh nhân đến khám vỡ cú khối u tuyến giáp. U phát
triển nhanh nghĩ đến ung thư, nhưng u tuyến và nang cũng có thể to nhanh.
Khi xuất huyết trong u thường đau và to nhanh. Thể giả viêm của ung thư
11
hạch cổ cựng bờn sờ thấy trên lâm sàng kốm cú giọng nói khàn. Cần khám tai
mũi họng để phát hiện liệt dây thanh [49].
DeGroot nghiên cứu trên 269 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú thấy:
21,6% trường hợp có nhiều u nhỏ và 10,8% trường hợp có một u xâm nhiễm vỏ
tuyến giáp. Khi u đã xâm lấn ra tổ chức xung quanh thì tiên lượng kém hơn. Hay
đã nghiên cứu trên 1468 bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp thể nhú, qua theo dõi
20 năm thấy tỷ lệ tử vong khi u đã xâm lấn ra phần mềm vùng cổ là 28% và
1,9% khi u chưa xâm lấn. Khi có di căn xa ở thời điểm chẩn đoán, tiên lượng
bệnh sẽ kém, sau 10 năm theo dõi tỷ lệ tử vong 69% (có di căn xa) và 3% (chưa
di căn). Mazzaferri nghiên cứu 9248 bệnh nhân ung thư tuyến giỏp cú di căn xa
ở thời điểm chẩn đoán, sau 5 năm tỷ lệ tử vong là 53%; 1355 bệnh nhân ung thư
tuyến giáp biệt húa cú di căn xa ở thời điểm chẩn đoán, sau 30 năm theo dõi tỷ lệ
tử vong của ung thư tuyến giáp thể nang (10%) cao hơn ung thư tuyến giáp thể
nhú (8%) [TDT 55].
1.2.3. Siêu âm tuyến giáp
Phát hiện được cả những u nhỏ, u nằm sâu mà lâm sàng không thấy
được, u đặc hay u nang, vị trí, kích thước, giới hạn, số lượng khối u [12], [56],
tổ chức u đã phá vỡ vỏ tuyến giáp chưa, đây là một dấu hiệu nghĩ tới ung thư
tuyến giáp [44].
Siêu âm phát hiện hạch cổ mà lâm sàng không nhận biết được, hạch cổ
đối bên với u tuyến giáp, kể cả hạch nhỏ 2 - 3mm. Xác định các ổ can xi hóa
trong tổ chức tuyến giáp (ung thư giáp thể tủy). Siêu âm trong khi mổ cũn giỳp
phát hiện những u không sờ thấy, hay tổ chức tuyến giáp còn lại sau phẫu thuật
[28], [44]. Siêu âm phát hiện được sự tái phát của khối u tại vùng cổ sau điều trị
bằng phẫu thuật kết hợp I-131 [56].
12
Siêu âm cũn giỳp cho việc xét nghiệm chọc sinh thiết tế bào được chính xác
hơn, nhất là u nhỏ có đường kính ≤ 5 mm, ở sâu, không thể sờ thấy được trên
lâm sàng [45], [56].
Chọc sinh thiết tế bào u tuyến giáp khi kích thước u ≥ 1 cm, u cứng,
khám thấy trên lâm sàng hoặc các hạch di căn. Nếu u có kích thước nhỏ <
5mm, u ở sâu, hoặc u không sờ thấy thì cần có sự hướng dẫn của siêu âm trợ
giúp sẽ thu được kết quả cao (63%) [49]. Đặc biệt ở trẻ em phối hợp chọc tế
bào, siêu âm, xạ hình tuyến giáp rất có ý nghĩa. Khi thấy tế bào giáp trạng ở
hạch thì chắc chắn là ung thư tuyến giáp. Nếu tế bào nghi ngờ ung thư tuyến
giỏp thỡ cắt thùy tuyến giáp có u làm sinh thiết tức thì để chẩn đoán xác định.
Sinh thiết tức thì trong phẫu thuật (áp lam, cắt lạnh) rất có ý nghĩa trong
việc quyết định phẫu thuật, tránh phẫu thuật không cần thiết trong 20% bệnh
nhân chọc tế bào xác định là ung thư.
1.2.6. Sinh thiết tuyến giáp
Có giá trị quyết định, phải sinh thiết đúng và bệnh phẩm phải đủ tại u
tuyến giáp hoặc tại hạch nghi ngờ do di căn ung thư. Chẩn đoán chính xác
được 90% cho kết quả lành hay nghi ngờ ác tính và dưới 5% bệnh nhân được
chọc sinh thiết cho kết quả âm tính giả hoặc dương tính giả.
Chẩn đoán giải phẫu bệnh tức thì trong khi phẫu thuật rất có giá trị cho
phẫu thuật viên quyết định phương pháp phẫu thuật.
Chẩn đoán dựa trên mô bệnh học rất có giá trị trong việc quyết định
điều trị phẫu thuật có kết hợpvới I-131 hay xạ trị ngoài.
1.2.7. Xạ hình tuyến giáp và xạ hình toàn thân bằng I
131
:
Cho thấy hình ảnh, chức năng của tuyến giáp và nhõn giỏp. Ung thư
tuyến giáp đa số là không bắt xạ, biểu hiện bằng hình ảnh nhân lạnh, nhiều
14
khả năng ác tính hơn nhõn núng. Tỷ lệ ác tính trờn cỏc nhõn lạnh là 5 - 15%.
Nhưng nhân lạnh trên xạ hình đa số là u lành, nang tuyến… cho nên chụp xạ
hình ít có giá trị xác định bản chất u nhưng có thể bỏ sót những u có kích
thước nhỏ hơn 1 cm do độ phân giải hạn chế [12], [15].
Xạ hình tuyến giáp thường được sử dụng với mục đích sau [28], [49]:
[16].
- Định lượng Anti-thyroglobulin (TgAb): Thyroglobulin là chất chỉ
điểm trong ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, khi khối u tăng sinh thì nồng độ
Thyroglobulin trong máu cũng tăng theo, đồng thời TgAb cũng tăng dần theo
sự gia tăng của Thyroglobulin. Khoảng 21% bệnh nhân ung thư tuyến giáp
thể biệt húa cú sự hiện diện của kháng thể kháng Thyroglobulin sẽ làm cho
kết quả định lượng Thyroglobulin thấp một cách giả tạo vì một lượng
Thyroglobulin nằm trong phức hợp Tg - TgAb mà không định lượng được,
nồng độ TgAb càng cao ở những bệnh nhân ung thư tuyến giỏp cú di căn phổi
và xương so với các trường hợp chưa có di căn hoặc di căn hạch, định lượng
TgAb là rất cần thiết, phải đi kèm với định lượng Thyroglobulin, để đánh giá
đúng mức nồng độ Thyroglobulin [4].
- PET (Positron Emission Tomogaphy): PET với 18 F-fluoro- deoxyglucose
có giá trị cao, PET xác định giai đoạn ung thư tuyến giáp khi xét nghiệm
Thyroglobulin và xạ hình âm tính, mức độ di căn, xâm lấn tại chỗ và tiên
lượng của ung thư tuyến giáp [38]. Dùng PET khi Thyroglobulin cao, xạ hỡnh
khụng bắt xạ trong trường hợp bệnh tái phát, để xác định mức độ xâm lấn và
tái phát để có phương án điều trị tốt nhất.
PET sử dụng 18 F- fluoro-deoxyglucose (FDG) xác định được bệnh tái
phát là 60 - 94% khi xạ hình âm tính, phát hiện các ung thư tuyến giáp kích
thước cũn bộ, cỏc khối di căn và các hạch còn nhỏ, cũng như mức độ xâm
nhiễm mạch máu [49].
16
1.3. PHÂN LOẠI TNM VÀ CHẨN ĐOÁN GIAI ĐOẠN UNG THƯ TUYẾN GIÁP.
- Phân loại TNM: theo Hiệp hội ung thư thế giới (UICC – International
Union Against Cancer – 2002) và Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC –
American Joint Committee on Cancer – 1997) có đưa ra cách phân loại như
sau [21], [23], [36], [55].
• T: Khối u nguyờn phỏt:
+ T
: di căn hạch vựng cựng bờn.
N
1b
: di căn hạch cổ hai bên hoặc hạch cổ đường giữa hoặc hạch cổ
đối bên hoặc hạch trung thất.
• M: Di căn xa:
+ M
X
: không xác định được di căn xa.
+ M
0
: không có di căn xa.
+ M
1
: di căn xa.
- Chẩn đoán giai đoạn bệnh: theo Hiệp hội ung thư thế giới (UICC -
2002) và Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC - 1997) [21], [26].
17
+ Ung thư biểu mô thể nhú hoặc thể nang:
< 45 tuổi ≥ 45 tuổi
Giai đoạn I: T, N bất kỳ, M
0
T
1
N
0
M
0
Giai đoạn II: T, N bất kỳ, M
1
- Ung thư tuyến giáp thể nhú (60-80% trường hợp)
- Ung thư thể nang (10-20%).
- Ung thư thể tủy (5-10%)
- Ung thư thể không biệt hóa (10%)
- Ung thư tế bào Hurthle: phổ biến là ung thư biểu mô tuyến giáp
thể nang, có trường hợp chứa cả nhú và nang
1.4. CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG UNG THƯ TUYẾN GIÁP
Nhìn chung tiên lượng ung thư tuyến giáp thể biệt hóa là tốt. Tuy nhiên
phụ thuộc vào tuổi, giới, giải phẫu bệnh, kích thước khối u, mức độ xâm lấn
của u, sự tái phát, mức độ di căn, phương pháp điều trị: Cắt toàn bộ tuyến
giáp hay còn tổ chức giỏp, cú bắt I-131 hay không [49], [60].
Ung thư tuyến giáp xuất hiện ở nam giới, 16 < độ tuổi < 45 tuổi, gia đình
không có người bị bệnh, kích thước u còn nhỏ, không xâm lấn xung quanh,
chưa di căn tại hạch cổ và di căn xa thì tiên lượng tốt hơn. Bệnh nhân có nguy cơ
thấp, sau 10 - 20 năm theo dõi: tỷ lệ chết là 2 - 5 %, tỷ lệ tái phát là 10%, trong khi
đó bệnh nhân có nguy cơ cao: tỷ lệ chết là 40 - 50%, tỷ lệ tái phát là 45%, khoảng
18
10 - 15% di căn xa, tỷ lệ chết khi ung thư tái phát là 33 - 50%. Nếu tổ chức ung
thư xâm nhập ra tổ chức xung quanh, có di căn hạch tiên lượng càng xấu. Ung thư
tuyến giáp thể nhú và nang có tiên lượng tốt [45], [49].
Mazzaferri và Jhiang (1994) nhận thấy rằng: ung thư tuyến giáp tỷ lệ tử
vong sau 40 tuổi tăng lên, bệnh nhân nam tiên lượng kém bệnh nhân nữ, tỷ lệ
tử vong bệnh nhân nam cao gấp hai lần bệnh nhân nữ, nam giới ung thư tuyến
giỏp trờn 50 tuổi gặp nhiều hơn. Trong ung thư tuyến giáp, tỷ lệ tái phát hạch
cổ là 74%, tại tổ chức tuyến giáp còn lại 20%, tại khí quản và cơ là 6%. Tỷ lệ
bệnh nhân tử vong trong nhóm tái phát là 6%, khi tái phát có di căn xa lên đến
21%, thường là di căn phổi (63%), khoảng một nửa bệnh nhân có di căn xa bị
tử vong [46].
Tiên lượng ung thư tuyến giáp phụ thuộc vào: tuổi, giới, tiền sử có tia xạ
vùng đầu cổ, kích thước u > 4 cm, số lượng u, thâm nhiễm tổ chức ung thư ra
(1994) nhận thấy: khi kích thước u < 1,5 cm sau 30 năm tỷ lệ tái phát bằng
1/3 so với u có kích thước > 1,5 cm và tỷ lệ tử vong là 0,4%, trong khi đó nếu
u ≥ 1,5 cm thì tỷ lệ tử vong là 7% [46].
Nghiên cứu của Mazzafferi (1993) thấy: di căn hạch chiếm 36% trong
tổng số 8029 bệnh nhân người lớn bị ung thư tuyến giáp thể nhú, 17% của
1540 bệnh nhân ung tuyến giáp thể nang và trên 80% trẻ em ung thư tuyến
giáp thể nhú. Di căn hạch cổ có thể được phát hiện là triệu chứng đầu tiên của
ung thư tuyến giáp hoặc trong lúc phẫu thuật. Yamashita (1997) và Tsang
(1998) cho rằng: di căn hạch cổ là yếu tố tiên lượng rất quan trọng trong tái
phát tại chỗ, di căn xa và tử vong, đặc biệt nếu di căn hạch cổ hai bên hoặc
hạch trung thất hoặc u thâm nhiễm ra vỏ bao tuyến giáp. Mazzaferri và Jhiang
(1994) nhận thấy: ung thư tuyến giáp thể nhú và nang có di căn hạch cổ, hạch
trung thất, tỷ lệ chết là 10% so với không di căn hạch là 6% [46].
1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT CẮT BỎ TUYẾN GIÁP
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về lựa chọn phương pháp
phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp và dù phương pháp nào được áp dụng, cũng đều
20
phải dựa vào các yếu tố: chẩn đoán mô bệnh học, vị trí, kích thước, số lượng
khối u, mức độ xâm lấn ra tổ chức xung quanh của khối u , tình trạng di căn
hạch cổ, nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao (tuổi < 45, kích thước u > 4 cm, vỏ
bao bị xâm lấn, nhiều ổ, mô bệnh học thể tủy) và nhóm bệnh nhân có nguy cơ
thấp (kích thước u ≤ 1 cm, chưa xâm lấn vỏ bao tuyến giáp, một ổ, mô bệnh
học thể nhú, thể nang) để có thể tiến hành cắt bỏ một thùy hay toàn bộ tuyến
giáp kết hợp nạo vét hạch cổ và bảo tồn cơ ức đòn chũm.
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Nội tiết học lâm sàng Hoa Kỳ [22], điều trị
phẫu thuật các khối u tuyến giáp nên áp dụng các phương pháp sau:
- Cắt khối u tuyến giáp đơn thuần: chỉ cắt khối u và rất ít tổ chức xung quanh.
- Cắt khối u và lấy rộng tổ chức tuyến giáp xung quanh.
- Cắt một nửa 2 thùy và eo tuyến giáp.
Các phương pháp này thường áp dụng với u tuyến giáp lành tính.
1.5.2.1. Chỉ định phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp theo thể loại mô bệnh học
1 5.2.1.1. Ung thư tuyến giáp thể nhú
- Chỉ định - kỹ thuật phẫu thuật và phương thức điều trị phối hợp:
+ Cắt toàn bộ thựy giỏp đối với những khối u có kích thước < 1 cm, u nhỏ,
đơn độc, chưa vượt quá vỏ tuyến giáp, chưa thâm nhiễm mạch máu và di căn
hạch cổ, bệnh nhân thuộc nhúm cú nguy cơ thấp, thì phẫu thuật cắt bỏ thùy và eo
tuyến giáp [26], [46], [51], [59].
+ Cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp khi khối u có kích thước ≥ 1cm, ung thư tuyến
giáp thể nhú cả hai thùy, khối u đã vượt qua vỏ tuyến giáp, xâm lấn tại chỗ và đó
cú di căn [26], [59].
Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú khi u còn nhỏ chưa xâm lấn vỏ bao
tuyến (T
1
), chưa có di căn hạch vùng (N
0
), chưa có di căn xa (M
0
), bệnh nhân
còn trẻ dưới 40 tuổi có thể chỉ phẫu thuật cắt thùy là đủ, tuy nhiên thực tế cho
22
thấy ung thư biểu mô tuyến giáp thường là nhiều ổ, cú cỏc tổn thương mức vi
thể mà mắt thường chưa nhìn thấy được (microcarcinoma), mặt khác do bệnh
nhân đến muộn nên phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp nạo vét hạch cổ là cần
thiết, chỉ búc tỏch nhõn và cắt thùy là chưa đủ, phẫu thuật triệt để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc điều trị bổ sung I-131 về sau, cắt sạch được tuyến giáp thì I-
131 mới tập trung cao vào tổ chức di căn để tiêu diệt tế bào ung thư, bệnh nhân
không cần phải chịu liều phóng xạ lớn, trỏnh cỏc tai biến do bức xạ gây ra [9].
Năm 1998, Schlumberger đó khuyờn: khi chẩn đoán xác định trước phẫu
thuật là ung thư tuyến giỏp thỡ nờn cắt toàn bộ tuyến giáp ở tất cả các bệnh nhân
vì sẽ cải thiên được kết quả sau điều trị, thậm chí ở cả trẻ em và người lớn có
với cắt toàn bộ tuyến giáp là 2% và 6% (p=0,001), như vậy cắt toàn bộ tuyến
giáp kết quả sẽ tốt hơn cắt một thùy tuyến giáp trong ung thư tuyến giáp thể
nhỳ cú nguy cơ thấp [46].
Ở Mỹ, năm 1985-1998, đã theo dõi kết quả điều trị cho 52173 trường
hợp ung thư tuyến giáp thể nhú bằng phẫu thuật, trong đó cắt toàn bộ tuyến
giáp là 43227 trường hợp (82,9%), cắt thựy giỏp là 8946 trường hợp (17,1%).
Trong số này thì những trường hợp khối u có kích thước < 1 cm là 23,9%, u
có kích thước 1-2 cm là 29,8%, u có kích thước > 2 cm là 46,3%, và tổng số
bệnh nhân đó cú di căn hạch là 34,6% và có di căn xa là 2,2% vào thời điểm
được chẩn đoán. Qua theo dõi thấy: tỷ lệ tái phát sau 5 năm là 5,7%, sau 10 năm
là 9,4%. Tỷ lệ tái phát phụ thuộc vào kích thước và độ xâm lấn của khối u. Sau
10 năm theo dõi, tỷ lệ tái phát tăng khi kích thước u tăng: U < 1cm tỷ lệ tái phát
là 4,6%. U từ 1 - 1,9 cm tái phát 7,1%. U từ 2 - 2,9 cm tái phát 8,6%. U từ 3 -
24
3,9% tái phát 11,9%. U từ 4-8 cm tái phát 17,2%. U > 8 cm tái phát là 24,8%.
Khi u có kích thước nhỏ, tỷ lệ tái phát là ít hơn. Cắt toàn bộ tuyến giáp tỷ lệ tái
phát và tỷ lệ chết thấp hơn so với cắt một thùy tuyến giáp [32].
Ung thư tuyến giáp thể nhú sau cắt toàn bộ tuyến giáp, tỷ lệ tái phát là
7,1% và tỷ lệ chết là 0,3%. Cắt gần toàn bộ tuyến giáp, tỷ lệ tái phát là 18,4%
và tỷ lệ chết là 1,5%. Nếu có điều trị I - 131 sau cắt toàn bộ tuyến giáp thì tỷ
lệ tái phát là 2,6% và tỷ lệ chết là 0%. Nếu chỉ điều trị hormon sau cắt tuyến
giáp thì tỷ lệ tái phát là 10% và tỷ lệ chết là 0%. Nếu không điều trị I-131 và
hormone tuyến giáp thì tỷ lệ tái phát là 40% và tỷ lệ chết là 13,3% [56].
Hay và cộng sự nhận thấy: bệnh nhân được cắt thựy giỏp đơn thuần có
5% - 10% tái phát ở thùy đối diện. Qua theo dõi lâu dài thấy tỷ lệ tái phát là
30% , trong khi đó nếu cắt toàn bộ kết hợp điều trị I-131 tỷ lệ tái phát chỉ là
1% [46].
Young và cộng sự nghiên cứu 214 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú
cũng nhận thấy: tỷ lệ tái phát tăng khi khối u đã xâm lấn ra vỏ tuyến giáp, sau
phẫu thuật tỷ lệ tái phát giảm nếu có điều trị kết hợp I-131 và hormon thay thế,