Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân nhiễm candida máu tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện bạch mai - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm trước đây, nhiễm Candida máu là bệnh lý thường gặp
ở các bệnh nhân giảm bạch cầu hạt, ghép tạng đặc, bệnh nhân nhiễm HIV,
bệnh nhân dùng corticoid kéo dài hoặc các bệnh nhân đã và đang dùng các
thuốc gây độc tế bào. Tuy nhiên, gần đây các trường hợp nhiễm Candida xuất
hiện ngày càng nhiều ở bệnh nhân không giảm bạch cầu hạt tại các khoa Hồi
sức. Nhiễm Candida máu dần trở thành mối nguy hại đe dọa đến tính mạng
của bệnh nhân nằm tại các khoa Hồi sức tích cực. Đây là các bệnh nhân đang
trong tình trạng phối hợp nhiều bệnh lý nặng, hệ thống miễn dịch suy giảm
nặng và cấp tính, lại được thực hiện nhiều thủ thuật xâm lấn, nên nguy cơ
nhiễm nấm cơ hội cũng vì thế mà tăng lên gấp nhiều lần [1,2] Tỷ lệ nhiễm
Candida máu ước tính từ 0,24 đến 34,3 bệnh nhân/ 1000 bệnh nhân vào khoa
Hồi sức tích cực [3,4]. Theo số liệu của CDC, từ những năm 1980, tỷ lệ
nhiễm nấm xâm nhập ở các bệnh nhân trong khoa Hồi sức tăng gấp 10 lần so
với các bệnh nhân khác, trong đó đa số các trường hợp là nhiễm Candida
species. Năm 2006, Cơ quan bảo vệ sức khỏe (Health Protection Agency) ước
tính ở Anh có khoảng 5000 ca nhiễm Candida species mỗi năm, và có khoảng
40% trong số đó xảy ra ở các bệnh nhân trong khoa Hồi sức. Tỷ lệ tử vong
của các trường hợp nhiễm Candida máu cần điều trị tại khoa Hồi sức cao gấp
hai lần so với nhóm các bệnh nhân ở các khoa khác trong bệnh viện. Nói
chung tỷ lệ tử vong của nhiễm Candida máu dao động trong khoảng từ 2040% tùy theo từng nhóm bệnh nhân được nghiên cứu [1]. Nguy cơ tử vong
của các trường hợp nhiễm nấm Candida có biến chứng nhiễm khuẩn huyết là
rất cao, do đó nỗ lực kiểm soát nhiễm nấm Candida cũng như điều trị kháng
nấm phù hợp kịp thời là những biện pháp quan trọng giúp cải thiện tiên lượng
của các bệnh nhân này [3].
Tuy nhiên, chẩn đoán nhiễm Candida máu trên lâm sàng thường khó, do
các triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, không đặc hiệu, hơn nữa các bệnh nhân
được thông khí nhân tạo xâm nhập thường có Candida spp khu trú trên cơ


máu tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Bạch Mai.
2. Nhận xét kết quả điều trị ở bệnh nhân nhiễm Candida máu tại khoa Hồi
sức tích cực bệnh viện Bạch Mai.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Nhắc lại một số đặc điểm nấm Candida.
1.1.1. Đặc điểm chung của nấm
Nấm có cấu trúc giống thực vật, thô sơ, không chứa chất diệp lục, sống
cộng sinh, ký sinh hay hoại sinh [7,8,9]. Nấm có thể xâm nhập vào tất cả các
cơ quan, các mô bên trong cơ thể.
Đế sinh sản hay phát triển, nấm cần nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Nấm có
thể phát triển ở nhiệt độ 1 - 37 o C, nhưng tốt nhất là từ 25 - 35 oC. Nấm phát
triển mạnh khi độ ẩm môi trường cao (> 70%). Nấm có thể phát triển trên môi
trường đơn giản gồm carbonhydrat, nguồn nito vô cơ và hữu cơ, muối
khoáng. Phần lớn nấm không cần vitamin, nhưng một số loại cần thiamin,
biotin ... để phát triển [7,11].
1.1.2. Đặc điểm cấu tạo tế bào nấm
- Vỏ tế bào nấm là màng bảo vệ dày và chắc, được cấu tạo chủ yếu bằng
chitin. Các enzym trong cơ thể người không có khả năng thủy phân chất này.
Do đó, đối với những vật chủ khi bị nhiễm nấm xâm nhập và gây bệnh, quá
trình thực bào gặp nhiều khó khăn [7,11].
- Thành tế bào: ở ngay sau vỏ, có nhiệm vụ giữ cho tế bào nấm có hình
dạng nhất định. Thành tế bào được cấu tạo bởi hỗn hợp Protid - polysaccarid.
Thành phần polysaccarid có cấu trúc phức tạp, khác nhau đặc trưng cho từng
nhóm nấm và dựa vào thành phần đó có thể phân loại các nhóm nấm. Đây
cũng là thành phần có vai trò quan trọng trong miễn dịch.

cùng với 30 - 40 loại protetin).


5

Phân loại nấm của Alexopous và cộng sự (1996):
Alexopous và cộng sự (1996) phân giới nấm thành 4 ngành:
Chytridiomycota, Zygomycota, Ascomycota, Basidiomycota. Trong đó ngành
Chytridiomycota không gây bệnh cho người.
Ba ngành còn lại có những chi gây bệnh cho người, được phân loại đơn
giản theo các lớp, họ ngành như sau [10]:
Bảng 1.1: Phân loại đơn giản của giới nấm quan trọng trong y học
Bậc phân loại
Ngành Zygomycota
Lớp Zygomycetes
Bộ Mucorales
Bộ Entomophthorales
Ngành Basidiomycota
Lớp Basidiomycetes
Bộ Filobasidiales
Bộ Agaricales
Ngành Ascomycota
Lớp Arachiascomycota
Bộ Pneumocystidales
Lớp Hemiascomycetes
Bộ Saccharomycetales
Lớp Euascomycetes
Bộ Onygenales
Bộ Eurotiales
Bộ Hypocreales

hoàn toàn. Trong nhóm này chia thành nấm không chứa sắc tố và nấm chứa
sắc tố (Dematiaceae).



Nấm sợi không có vách ngăn bao gồm: Rhizopus, Absidia.
- Nấm men bao gồm chủ yếu là các loài Candida, là những vi sinh vật
đơn bào có hình tròn hoặc hình ovan.
1.1.3. Dịch tễ học của nhiễm Candida máu trong khoa Hồi sức.
Nhiễm nấm máu là tình trạng nhiễm trùng nặng do nhiều loại nấm gây
nên, và thường đe dọa đến tính mạng. Các căn nguyên thường gặp nhất là
Candida, Aspergillus - 2 loại nấm hay gặp nhất trong khoa Hồi sức, và ngoài
ra là Cryptococcus. Theo số liệu thống kê từ một nghiên cứu trên 75 quốc gia
về tỷ lệ hiện mắc và tiên lượng của bệnh lý nhiễm trùng tại 1265 khoa Hồi
sức, tiền hành năm 2007, Candida là nguyên nhân của 88% các trường hợp
nhiễm nấm nói chung (n= 963), 89% các ca bệnh nhiễm nấm ở châu Âu (n=
633), và 89% các ca bệnh nhiễm nấm ở Châu Á (n=84). Nghiên cứu này cũng
cho thấy, trong các khoa Hồi sức, Candida là căn nguyên gây nhiễm khuẩn
thường gặp đứng thứ ba, sau Staphylococcus aureus và Pseudomonas spp
[15]. Tỷ lệ bệnh lý nhiễm nấm máu trong 2 thập kỷ trở lại đây ngày càng gia
tăng, do đó số bệnh nhân có nguy cơ nhiễm nấm gần đây gia tăng nhanh
chóng [1]. Các trường hợp nhiễm nấm máu trong khoa Hồi sức thường là các
nhiễm trùng do các loại nấm gây bệnh cơ hội. Bình thường các loại nấm này
không gây bệnh, chỉ lây nhiễm và gây bệnh ở người có hệ thống bảo vệ bị tổn
thương, đặc biệt là bệnh nhân có giảm bạch cầu đa nhân trung tính - nên tăng
độ nhạy cảm với các bệnh nhiễm trùng. Đa số các trường hợp nhiễm nấm đều


7



azole thế hệ 2 (như fluconazol) được đưa vào sử dụng rộng rãi từ cuối những
năm 1980 [19,6,20]. Đã có nhiều yếu tố được nghiên cứu và nêu ra như là
nguy cơ của nhiễm các loài non-albicans như: trước đây có sử dụng
fluconazol, không điều trị kháng sinh trước đó, có bệnh lý ung thư các tạng
đặc, nam giới. Candida non-albicans là loài nấm thường gặp nhất ở những
bệnh nhân có bệnh máu ác tính (65%). Ngoài ra nghiên cứu này cũng cho
thấy tuổi càng cao, tỷ lẹ nhiễm Candida glabrata càng tăng [17]
Trong số các Candida non-albicans, Candida glabrata và Candida
tropicalis là hai loài thường được phân lập nhất, với tỷ lệ khoảng 20% và 30%
tương ứng. Trong khi Candida tropicalis nhạy hầu hết với các thuốc kháng
nấm hiện nay, Candida glabrata lại giảm nhạy cảm với các thuốc kháng nấm
loại azole, đặc biệt là fluconazol [21].
Candida parasilosis gây bệnh với tỷ lệ từ 10% đến 20% trong tổng số
các trường hợp nhiễm Candida, là tác nhân gây bệnh thường gặp gây nên
nhiễm trùng bệnh viện do Candida. Loài nấm này thường liên quan đến việc
sử dụng các dụng cụ bằng chất dẻo, do đó hay gặp ở các bệnh nhân nhiễm
trùng thứ phát liên quan đến các ống thông trong lòng mạch, đặc biệt ở các
bệnh nhân dinh dưỡng hoàn toàn đường tĩnh mạch. Rất may mắn là loài nấm
này ít gây hại hơn các loài Candida khác.
Candida krusei và Candida lusitaniae là hai loài nấm gây bệnh với tỷ lệ
nhỏ: tỷ lệ nhiễm ước chừng của cả hai loài này chỉ chiếm khoảng dưới 15%
trong tổng số các ca nhiễm trùng do Candida. Tuy vậy, sức đề kháng nội sinh
của Candida krusei với fluconazol, và Candida lusitaniae với amphotericin B
làm cho việc định danh chính xác loài nấm này rất quan trọng, đặc biệt trong
các khoa Hồi sức [1].
Việc nắm rõ được đặc điểm dịch tễ học của nhiễm Candida tại từng bệnh
viện, thậm chí từng khoa Hồi sức (có thể tính chất dịch tễ của mỗi khoa Hồi



10

- Đau
- Xuất hiện những mảng da mềm màu trắng
- Xuất hiện mụn mủ xung quanh khu vực bị nhiễm nấm
Niêm mạc
Miệng:
- Tổn thương kem trắng trên lưỡi, má bên trong và đôi khi trên vòm
miệng, lợi và amiđan.
- Tổn thương với hình giống như pho mát cottage.
- Đau.
- Chảy máu nếu tổn thương cọ xát hoặc cạo.
- Nứt ở góc miệng.
- Cảm giác bông trong miệng.
- Mất vị.
Tiết niệu
- Tiểu buốt, tiểu rát
- Nước tiểu đục
1.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng nhiễm Candida máu
1.2.2.1. Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm Candida máu
Chẩn đoán tình trạng nhiễm Candida máu có thể dựa trên các kỹ thuật
khác nhau: như nuôi cấy máu, xét nghiệm huyết thanh cho các dấu hiệu như
1,3-β -D-glucan và mannan, phản ứng chuỗi polymerase và xét nghiệm hấp


11

thụ miễn dịch kết hợp với enzzyme để phát hiện kháng nguyên được tạo ra
bởi Candida được phân lập.
Nuôi cấy phân lập

vào kết quả BG trong huyết thanh [73]. Các nghiên cứu hiện nay ủng hộ việc
sử dụng xét nghiệm BG như là một công cụ sàng lọc nhậy cảm để theo dõi
nhiễm Aspergillus xâm lấn và các bệnh nấm xâm lấn khác ở những quần thể
bệnh nhân nguy cơ [74]. Việc kết hợp sử dụng cả hai xét nghiệm BG và GM
giúp cải thiện độ đặc hiệu của chẩn đoán [69]
- Xét nghiệm BG âm tính có giá trị dự đoán âm tính là 100%, và độ
đặc hiệu của xét nghiệm là 90% cho một lần kết quả dương tính duy nhất. Độ
đặc hiệu tăng lên 96% khi hai lần xét nghiệm liên tiếp dương tính [75].
- BG khá phổ biên trong môi trường (ví dụ ở một số loại gạc và bột
giặt), vì vậy dương tính giả có thể xảy ra nếu bệnh phẩm được xử lý không
tốt, ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ sử dụng một số loại màng lọc cellulose, bệnh
nhân trải qua thủ thuật tim phổi nhân tạo, được điều trị liệu pháp globulin
miễn dịch liều cao, và tiếp xúc với gạc chứa glucan trong quá trình phẫu thuật
[76], [77]. Vì vậy các yếu tố có thể gây dương tính giả cần được cân nhắc khi
phiên giải kết quả xét nghiệm BG.
Xét nghiệm phân tử: kỹ thuật PCR [7]
Xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase (PCR) hiện nay chưa đạt được
sự chấp thuận ở mức cao như xét nghiệm GM và BD do thiếu sự chuẩn hóa về
loại bệnh phẩm lâm sàng (huyết thanh, huyết tương, mô), loại mồi được sử
dụng (“toàn bộ các loại nấm”, chủng nấm cụ thể) và dạng kỹ thuật PCR (định
tính so với định lượng, kỹ thuật real-time) [78]. Các đánh giá tổng quan ủng
hộ tiềm năng hứa hẹn trong chẩn đoán của các xét nghiệm này. Các đánh giá


13

hệ thống cho thấy PCR bệnh phẩm máu có độ nhậy 0,88 (khoảng tin cậy 95%:
0,75-0,94) trong chẩn đoán nhiễm Aspergillus xâm nhập nếu 1 mẫu xét
nghiệm duy nhất dương tính và độ đặc hiệu là 0,87 (khoảng tin cậy 95%:
0,78-0,93) nếu hai mẫu xét nghiệm dương tính [79]; xét nghiệm PCR dịch rửa

các yếu tố nguy cơ của bệnh nấm, trên cơ sở đó giúp cho các bác sỹ lâm sàng
có thể xem xét xác định các bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ nhiễm nấm rất
cao để có biện pháp phòng ngừa và xử trí kịp thời.
Các yếu tố nguy cơ có thể gặp với bệnh nhân trong khoa Hồi sức được
liệt kê như sau [1,5,21,22,23,24,25,36]
• Các yếu tố liên quan đến bệnh nhân:

- Giảm bạch cầu trong máu (nhất là khi kéo dài trên 10 ngày)
- Khuẩn lạc Candida (ví dụ như chỉ số khuẩn lạc [colonisation
index] > 0,5)
- Viêm tụy hoại tử
- Thủng tạng rỗng
- Suy thận cấp
- Nhiễm trùng huyết
- Bệnh lý huyết học ác tính
- Điểm số APACHE II cao
- Đái tháo đường
- Tuổi cao
• Các yếu tố liên quan đến điều trị:

- Liệu pháp ức chế miễn dịch (như corticosteroid)
- Liệu pháp kháng sinh phổ rộng
- Dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn
- Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm


15

- Thở máy
- Thực hiện các phẫu thuật lớn như phẫu thuật cắt u ổ bụng


4

Lọc máu

5

Từng trải qua cuộc phẫu thuật lớn

6

Viêm tụy

7

Từng điều trị với Steroid hoặc các thuốc UCMD khác

1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định nhiễm Candida máu
- Tiêu chuẩn vàng chẩn đoán xác định nhiễm Candida máu là có kết
quả cấy máu ít nhất một mẫu dương tính với Candida.


16

- Ngoài ra, BN còn có các triệu chứng lâm sàng biểu hiện tình trạng
nhiễm trùng huyết:
+ Sốt cao liên tục không tìm thấy ổ nhiễm khuẩn và không đáp
ứng với điều trị kháng sinh.
+ Da lạnh ẩm nổi vân tím
+ Mạch nhanh nhỏ, có thể có tụt huyết áp.

Amphotericin được tìm ra từ năm 1956, là một trong số 200 chất thuộc
họ kháng sinh Polyen, không tan trong nước, vì vậy thuốc tiêm dùng dưới
dạng dung dịch treo. Mặc dù đã được sử dụng trên 50 năm nay, thuốc vẫn là
lựa chọn trong điều trị nhiều bệnh lý nhiễm nấm xâm nhập do vẫn duy trì
được hoạt tính với nhiều loại nấm [1,32].


Tác dụng và cơ chế:
- Tác dụng trên các loại Candida albicans, Cryptococcus neoformans,
Blastomyces dermatitidis, Histoplasma capsulatum, Coccidioides immitis,
Aspergilus [32].
- Amphotericin B gắn vào ergosterol của vách tế bào nấm, tạo nên các
ống dẫn làm rỏ rỉ các ion và các phân tử nhỏ từ trong tế bào nấm ra ngoài, gây
chết tế bào. Sterol của vách tế bào nấm là ergosterol , còn sterol chính của
vách vi khuẩn tế bào người lại là cholesterol, vì vậy amphotericin B không có
tác dụng diệt khuẩn và không độc với người [32].



Dược động học:
Không hấp thu qua đường uống, gắn vào protein huyết tương tới 95%,
chủ yếu vào β-lipoprotein. Chỉ dùng đường truyền tĩnh mạch, thấm tốt vào
các mô gan, lách, phổi, thận. Nồng độ trong dịch bao khớp bằng khoảng 2/3
nồng độ huyết tương, nhưng chỉ 2-3% vào được dịch não tủy. Thời gian bán
thải khoảng 15 ngày. Thải trừ chậm qua thận trong vài ngày.



Độc tính:
- Độc tính liên quan đến việc truyền thuốc: run, sốt, nhức đầu, nôn, hạ

nằm viện kéo dài, trong tình trạng bị ức chế miễn dịch nặng nề), nên được
tăng cường điều trị kinh nghiệm bằng echinocandin trong khi chờ có kết quả
xét nghiệm độ nhạy cảm của các thuốc kháng nấm. Echinocandin có ít độc
tính trên thận hơn amphotericin B, nhưng việc sử dụng thuốc ở các nước đang


19

phát triển vẫn còn nhiều hạn chế do giá thành cao và không phải luôn luôn sẵn
có trên thị trường [1,21].
1.4.2. Phác đồ điều trị nhiễm Candida máu
1.4.2.1. Nhiễm nấm Candida máu ở bệnh nhân không giảm bạch cầu
Điều trị ban đầu
- Echinocandin:
Hoặc anidulafungin với liều loading
200mg, sau đó duy trì 100mg hàng
ngày.
Hoặc micafungin 100mg hàng ngày.
Hoặc Caspofungin với liều loading
70mg, sau đó duy trì 50mg hàng ngày.
-

Điều trị thay thế
- Fluconazole ở những bệnh nhân
không có biểu hiện lâm sàng và
không có nhiễm loại Candida kháng
fluconazole. Uống hoặc truyền tĩnh
mạch với liều loading 800mg
(12mg/kg). Sau đó duy trì 400mg
(6mg/kg) hàng ngày.

Ở bệnh nhân gợi ý nhiễm Candidas kháng azole và echinocandin nên dùng

-

dẫn xuất lipid của Amphotericin B (3 – 5 mg/kg/ngày).
Voriconazole 400mg (6mg/kg) hai lần/ngày cho 2 liều sau đó duy trì 200mg
(3 mg/kg) hai lần/ngày có hiệu quả với nhiễm nấm Candida máu nhưng ít lợi


20

ích so với fluconazole trong điều trị ban đầu. Voriconazole nên điều trị hạ bậc
-

đường uống ở bệnh nhân nhiễm nấm C. krusei.
Tất cả bệnh nhân nhiễm nấm Candida máu không giảm bạch cầu nên kiểm tra

-

mắt bởi bác sĩ chuyên khoa trong tuần đầu tiên sau chẩn đoán.
Theo dõi cấy máu hàng ngày.
Thời gian điều trị nhiễm nấm Candida máu không có biến chứng di bệnh rõ
ràng là 2 tuần sau khi cấy máu lại tìm nấm âm tính và cải thiện triệu chứng do
nấm Candida.
1.4.2.1. Nhiễm nấm Candida máu ở bệnh nhân giảm bạch cầu
Điều trị ban đầu
Echinocandin:
Hoặc anidulafungin với liều
loading 200mg, sau đó duy trì 100mg
hàng ngày.

Nhiễm nấm C. krusei nên điều trị bằng echinocandin, dẫn xuất lipid của

-

amphotericin B hoặc voriconazole.
Thời gian điều trị tối thiểu nhiễm nấm Candida máu không có biến chứng di
bệnh rõ là 2 tuần sau khi cấy máu lại tìm nấm âm tính, cải thiện tình trạng
giảm bạch cầu và cải thiện triệu chứng do Candida.


21

-

Khám mắt phát hiện nhiễm nấm hắc mạc và thủy tinh thể ngay khi giảm bạch

-

cầu. Soi đáy mắt trong tuần đầu tiên thấy giảm bạch cầu.
Ở bệnh nhân giảm bạch cầu, nguồn nhiễm Candida chủ yếu là catheter tĩnh

-

mạch trung tâm. Việc nên rút catheter tùy thuộc từng cá nhân.
Dùng thuốc kích bạch cầu có thể xem xét ở bệnh nhân nhiễm nấm máu
Candida có khả năng giảm bạch cầu kéo dài.


22



Thông tin liên quan đến các đối tượng nghiên cứu được khai thác từ sổ theo
dõi bệnh nhân cùng toàn bộ hồ sơ bệnh án của các đối tượng nghiên cứu được
lưu trữ tại phòng Hồ sơ bệnh án - bệnh viện Bạch Mai.



Thu thập số liệu:
Các trường hợp nhiễm Candida máu được thu thập thông tin bằng cách
khai thác hồ sơ bệnh án và hoàn thành mẫu bệnh án bao gồm các thông tin:
+ Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu:
- Tuổi
- Giới
- Địa chỉ
- Thời gian vào viện
- Tiền sử các bệnh mạn tính nặng kèm theo (theo định nghĩa của Knaus phụ lục 4)
+ Lý do vào khoa HSTC
+ Chẩn đoán
- Chẩn đoán bệnh khi vào khoa HSTC
- Mã ICD 10
+ Mức độ nặng của bệnh khi vào khoa HSTC:
- Thang điểm APACHE II (phụ lục 1)
+ Đánh giá mức độ nặng tại thời điểm cấy máu:
- Thang điểm SOFA
+ Khai thác các đặc điểm lâm sàng tại thời điểm cấy máu


24

- Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm trùng nặng - theo tiêu chuẩn

- Các xét nghiệm sinh hóa: ure máu, creatinin máu, bilirubin toàn phần,
procalcitonin máu, lactat máu.
- Khí máu động mạch: ghi nhận các giá trị pH máu, PaO 2, PaCO2,
HCO3 máu và A-a DO2 (= 713 FiO2 - PaO2 - PaCO2), PaO2/ FiO2.


25

- Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh và mô bệnh học chẩn đoán nhiễm
Candida (nếu có)
+ Các thông số về dữ kiện vi sinh cần thu thập:
- Các dữ kiện vi sinh - ngày cấy dương tính đầu tiên - loại nấm định danh.
- Kết quả kháng nấm đồ
- Nhiễm khuẩn đồng thời - vị trí nhiễm khuẩn - tên vi khuẩn cấy được
(nếu có)
+ Các thông số về điều trị cần thu thập
• Có nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn không - loại dịch dinh dưỡng - số ngày
nuôi dưỡng.
• Điều trị Corticoid - số ngày điều trị - liều dùng hàng ngày.


Điều trị thuốc ức chế miễn dịch - số ngày điều trị - liều dùng hàng ngày.

• Điều trị kháng sinh - loại kháng sinh - liều dùng hàng ngày - số ngày điều trị.
+ Kết quả điều trị:
- Thuốc chống nấm được dùng - Tên thuốc - liều điều trị hàng ngày thời gian điều trị.
- Thời gian từ khi dùng thuốc đến khi cấy máu âm tính.
- Thời gian từ khi cấy máu đến khi dùng thuốc.
- Thời gian từ khi dùng thuốc chống nấm đến khi kết quả cấy máu dương tính.
- Kết quả điều trị:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status