Đánh giá kết quả hóa xạ trị điều biến liều đồng thời ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIb tại bệnh viện k hà nội - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi nguyên phát (UTPNP) hiện là loại ung thư hay gặp nhất ở
cả nam và nữ trên thế giới, chiếm 11,6% trên tống số các loại ung thư và gây
tử vong cho 1,7 triệu người (chiếm 18,4% tổng số người tử vong do ung thư)
theo thống kê mới nhất năm 2018 ở 185 quốc gia trên toàn thế giới [1]. Tại
Mỹ, có hơn 228.000 người được chẩn đoán ung thư phổi mỗi năm, trong đó
cứ 2,3 phút lại có một ca mới được phát hiện, nó cũng là nguyên nhân gây tử
vong hơn cả các ung thư thường gặp như ung thư đại trực tràng, ung thư vú,
ung thư tuyến tiền liệt cộng lại [2]. Tại Việt Nam, các kết quả ghi nhận ung
thư phổi nguyên phát hay gặp ở cả hai giới, ước tính mỗi năm có khoảng hơn
20.000 bệnh nhân UTPNP mới xuất hiện. Đây thực sự là gánh nặng cho
ngành y tế và cả xã hội trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam.
Ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) chiếm chủ yếu các trường
hợp ung thư phổi (85%) và gây ra khoảng 1,4 triệu cái chết mỗi năm [3]. Nếu
UTKTBN được chẩn đoán ở giai đoạn sớm (I/II), phẫu thuật là lựa chọn thích
hợp nhất với tỉ lệ sống còn 5 năm từ 75 – 80% [4]. Tuy nhiên, UTPNP hầu hết
ở nước ta phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn. Ở giai đoạn này tỉ lệ sống còn 5
năm chỉ tử 10 – 15% [5]. Với những bệnh nhân không còn chỉ định phẫu
thuật, có nhiều phương pháp điều trị được đưa ra nghiên cứu như xạ trị đơn
thuần, hóa xạ trị kết hợp kiểu tuần tự hoặc cùng lúc (hóa xạ trị đồng thời), …
và các kết quả đưa ra đều cho thấy sự kết hợp hóa xạ trị cải thiện rõ rệt tỉ lệ
sống còn so với xạ trị đơn thuần [6]. Tuy nhiên, vấn đề trở ngại ở đây chính là
độc tính liên quan đến điều trị, nhất là khi sử dụng xạ trị đơn thuần và các
thuốc hóa trị thế hệ hai. Câu hỏi được đặt ra là làm sao để có thể giảm thấp
nhất các tác hại trên mô lành cho người bệnh.


2


mới mắc và 1.761.007(18,4%) bệnh nhân tử vong do ung thư phổi. Tại Mỹ,
ung thư phổi đứng thứ hai cả hai giới sau ung thư tiền liệt tuyến ở nam và ung
thư vú ở nữ [7]. Ung thư phổi cũng tăng nhanh về xuất độ để trở thành một
trong các nguyên nhân chính gây tử vong ở vùng Trung Đông, châu Phi
cũng như châu Á. Trong năm 2010, số trường hợp ung thư phổi có khoảng
605.946 ca mới được chẩn đoán chỉ riêng tại Trung Quốc [8].
- Tại Việt Nam 2012 ung thư phổi là loại ung thư đứng hàng đầunở
nam giới với tỉ lệ mắc 41,1/100.000 dân, ở nữ giới ung thư phổi đứng
hàng thứ hai sau ung thư vú với tỉ lệ mắc 10,6/ 100.000 dân [9]
1.1.2. Các yếu tố nguy cơ
Hút thuốc là yếu tố nguy cơ chính cho sự phát triển của ung thư phổi,
ước tính chiếm khoảng 90% các trường hợp. Nguy cơ mắc ung thư phổi ở
một người hút thuốc một gói/ngày trong 40 năm gấp 20 lần so với người
chưa bao giờ hút thuốc. Các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển ung thư
phổi ở người hút thuốc bao gồm mức độ hút thuốc và tiếp xúc với chất gây
ung thư các yếu tố khác, chẳng hạn như chất amiăng. Hút thuốc lá kéo dài
làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi 16 lần và nguy cơ này tăng lên gấp đôi
nếu bắt đầu hút thuốc lá trước 15 tuổi. Hít khói thuốc lá thụ động sinh ung
cho khoảng 25% người không hút thuốc. Vợ hoặc chồng của người nghiện
thuốc lá tăng 25-35% nguy cơ mắc ung thư phổi. Hít khói thuốc lá thụ động


4

nơi làm việc tăng 20% nguy cơ mắc ung thư phổi [10],[11].
Ô nhiễm không khí: chất benzopyrene, d ioxit lưu huỳnh và oxit sắt,
hiện diện trong không khí ô nhiễm gây ra ung thư ở động vật. Nhiều thống kê
cho thấy tỉ lệ tử vong do ung thư phổi ở vùng thành thị cao hơn ở nông
thôn. Các bức xạ ion hóa trong môi trường như uranium, khí radon 222
phân rã từ radium, polonium 218, 214 và 210 cũng được xem là các yếu tố

mạch máu. Ung thư phổi có tiềm năng di căn âm thầm đến bất kỳ cơ quan
nào trong cơ thể, nhưng xương, gan, tuyến thượng thận và não là những cơ
quan hay bị di căn nhất. Di căn phổi được giải thích theo nhiều cơ chế khác
nhau, bao gồm: thuyên tắc nội khí quản, dẫn lưu lymphô ngược dòng và di
căn theo đường máu [14].
1.2.2. Triêu chứng lâm sàng thường gặp
Ở giai đoạn sớm các triệu chứng của bệnh thường nghèo nàn, âm thầm,
bệnh thường được phát hiện tình cờ. Khi có triệu chứng rõ rệt thì bệnh thường
đã ở giai đoạn muộn. Biểu hiện lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào vị trí, kích
thước và mức xâm lấn của u, hạch hay cơ quan bị di căn. Các triệu chứng và
hội chứng thường gặp [15] là:
* Hội chứng hô hấp:
Ho khan kéo dài hoặc ho máu
- Khó thở khi u to chèn ép, biết tắc đường hô hấp hoặc gây xẹp phổi
hoặc u gây tràn dịch màng phổi.
* Các triệu chứng, hội chứng trung thất
- Đau ngực tương ứng với vị trí khối u
- Khàn tiếng do u đỉnh phổi chèn ép dây thần kinh quặt ngược
- Hội chứng phù áo khoác do chèn ép tĩnh mạch chủ trên
- Hội chứng tràn dịch màng phổi, màng tim
Hội chứng chèn ép đám rối thần kinh cánh tay (Pancos Tobias)
- Hội chứng chèn ép giao cảm cổ (Claude Bernard Horner): sụp mi mắt,
thụt nhãn cầu, co đồng tử do u đỉnh phổi chèn ép hạch giao cảm cổ.


6

* Các triệu chứng, hội chứng của di căn: tùy thuộc vị trí, kích thước ổ di căn
- Di căn hạch thượng đòn
- Di căn xương: đau xương, gãy xương bệnh lý

trong điều kiện thật cần thiết và bệnh nhân có khả năng kinh tế [18]. Tuy
nhiên, các tổn thương nghi ngờ trên hình ảnh PET vẫn cần sinh thiết để có chẩn
đoán mô học vì tỷ lệ dương tính giả khá cao, dẫn đến định giai đoạn trễ không
chính xác và bỏ lỡ cơ hội chữa khỏi bằng phẫu thuật cho bệnh nhân [19].
1.3.2. Phân loại TNM
Theo phân loại TNM lần thứ 8 của IASLC năm 2016
* T : Khối u nguyên phát

Tx: Không xác định được u nguyên phát, hoặc có tế bào ung thư trong
dịch tiết hay dịch rửa phế quản nhưng không nhìn thấy u trên hình
ảnh hoặc nội soi phế quản.
To: Không tìm thấy u nguyên phát
Tis: ung thư tại chỗ
T1: Kích thước lớn nhất của khối u ≤ 3cm, được bao quanh bởi nhu mô phổi

hoặc lá tạng màng phổi, không có bằng chứng xâm lấn vượt quá đoạn gần của
phế quản thùy (ví dụ, không ở trong phế quản gốc)1
T1a(mi) : Ung thư biểu mô tuyến xâm lấn tối thiểu 2
T1a : Kích thước lớn nhất của u ≤ 1cm
T1b : 1cm < Kích thước lớn nhất của u ≤ 2cm

T1c: 2cm < Kích thước lớn nhất của u ≤ 3cm
T2: 3cm < Kích thước lớn nhất của khối u ≤ 5cm, hoặc mang một trong các

đặc điểm sau:
+ Liên quan tới phế quản gốc nhưng không tới carina
+ Xâm lấn lá tạng màng phổi
+ Gây ra xẹp phổi hoặc viêm phổi tắc nghẽn lan đến rốn phổi, liên quan
tới một phần hoặc toàn bộ phổi :


hoặc tràn dịch màng phổi hoặc màng tim ác tính
M1b: Di căn đơn ổ ở 1 cơ quan
M1c : Di căn đa ổ ở 1 hoặc nhiều cơ quan


9

Xếp loại giai đoạn

Giai đoạn

T

N

M

Ung thư dạng ẩn

TX

N0

M0

0

Tis

N0


IB

T2a

N0

M0

IIA

T2b

N0

M0

IIB

T1a,b,c

N1

M0

T2a,b

N1

M0


T4

N1

M0

T1a,b,c

N3

M0

T2a,b

N3

M0

T3

N2

M0

T4

N2

M0


IA1

IIIA

IIIB

IIIC
IVA
IVB

T1mi: ung thư biểu mô tuyến xâm lấn tối thiểu; Tis: khối u tại chỗ
[20].


10

1.4. Đặc điểm mô bệnh học
Theo bảng phân loại giải phẫu bệnh ung thư phổi của WHO thì bảng
phân loại năm 2015 có một số điểm thay đổi so với bảng phân loại năm
2004[21].
Ung thư biểu mô tuyến
UTBMT là 1 u biểu mô ác tính có biệt hoá tuyến, sản xuất chất nhầy
hoặc biểu lộ dấu ấn TB phổi (pneumocyte).
Các khối u được phân loại theo thể nào chiếm ưu thế, gồm các type:
lepidic, túi nang, nhú, vi nhú và type đặc.
UTBMT xâm nhập chiếm > 70-90% các ca được phẫu thuật, như vậy
có sự khác nhau về tỷ lệ UTBMT tại chỗ & UTBMT xâm nhập tối thiểu.
Các biến thể của UTBMT của phổi: nhầy xâm nhập, dạng keo, dạng
bào thai, dạng ruột .

1 UTBM TKNT TBL + thêm thành phần UTBMT, UTBM TB vảy, hoặc
UTBM TB hình thoi, và/ hoặc UTBM TB khổng lồ.
- U Carcinoid: U carcinoid là các u biểu mô TK nội tiết ác tính & có thể
được chia thành 2 loại: u carcinoid điển hình và u carcinoid không điển hình.
Ung thư biểu mô tế bào lớn
UTBM TB lớn là 1 UTBM không phải TB nhỏ mà không có đặc điểm về
TB học, cấu trúc và HMMD của UTBM TB nhỏ, UTBMT hay UTBM TB vảy.
Ung thư biểu mô tuyến – vẩy
UTBM tuyến vảy là 1 UTBM có các thành phần của cả UTBM TB vảy
& UTBMT, với mỗi thành phần chiếm ít nhất 10% của khối u. tỷ lệ dưới 10%
trong ung thư phổi KTBN, u thường nằm ở ngoại vi của phổi và thường kết
hợp với sẹo cũ điều này nói lên carcinoma tuyến vẩy có liên hệ gần gũi với
carcinoma tuyến hơn là carcinoma tế bào vẩy.
UTBM đa hình thái, TB hình thoi, TB khổng lồ
UTBM đa hình thái là 1 UTBM của phổi không phải TB nhỏ kém biệt
hoá, là 1 UTBM TB vảy, UTBMT, hay UTBM không phải TB nhỏ không biệt


12

hoá chứa ít nhất 10% UTBM TB hình thoi &/ hoặc TB khổng lồ hoặc là 1
UTBM chỉ chứa các TB hình thoi & các TB khổng lồ.
Carcinosarcoma
Carcinosarcoma là 1 u ác tính gồm hỗn hợp của UTPKTBN (UTBM
TB vảy hoặc UTBMT điển hình) + thành phần sarcoma (như sarcoma cơ vân,
sarcoma sụn, sarcoma xương).
Ung thư biều mô không xếp loại
1.5. Đặc điểm điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ
Nguyên tắc điều trị UTPKTBN tùy thuộc vào thể mô bệnh học, giai đoạn
bệnh, tình trạng đột biến gien (EGFR, ALK, Kras,…) cũng như thể trạng

nhân giai đoạn này kết luận rằng nhóm có xạ trị (với liều xạ từ 40Gy đến
50Gy) cải thiện thời gian sống còn 1 năm có ý nghĩa thống kê so với nhóm
không xạ trị (18% so với 14%) [23].
Nhiều nghiên cứu sau đó của các tác giả như Johnson và cộng sự
(1990), Sause và cộng sự (1995), Dillman và cộng sự (1996), Basaki và cộng
sự (2006) đều cho kết quả thời gian sống còn trung bình cao nhất là 10 tháng
và tỷ lệ sống còn 5 năm khoảng từ 3-6% [24], [25]. Nghiên cứu của Basaki
và cộng sự còn cho rằng thể tích tổng khối u và kích thước u nguyên phát có
liên quan đến kết quả xạ trị, càng nhỏ càng cho kết quả khả quan [24].
1.5.1. Cơ sở phối hợp hóa và xạ trị
Xạ trị đơn thuần trong UTPKTBN giai đoạn III chỉ mang lại thời gian sống
thêm trung bình 10 tháng và tỷ lệ sống sau 5 năm khoảng 5%. Để nâng cao hiệu
quả điều trị đã có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ có sự cải thiện thời gian
sống thêm khi phối hợp thêm hóa chất. Có nhiều cách phối hợp giữa hóa chất và
xạ trị đã được nghiên cứu như hóa chất trước – xạ trị sau (HXTTT), hóa chất
trước – hóa xạ trị sau, xạ trị trước – hóa chất sau, hóa xạ trị đồng thời (HXTĐT.
Nhiều thử nghiệm lâm sàng lần lượt được tiến hành ở nhiều trung tâm và nhiều
quốc gia như Le Chevalier và cộng sự (1991), Blanke và cộng sự (1995), Cullen


14

và cộng sự (1997), Clamon và cộng sự (1999) đều khẳng định lợi ích sống còn
của phối hợp này so với xạ trị đơn thuần [26], [27].
Nghiên cứu CALGB 8433 của Dillman và cộng sự (1990) là một
trong những thử nghiệm lâm sàng phân ngẫu nhiên đầu tiên chứng tỏ sự cải
thiện đáng kể khi phối hợp hóa-xạ trị. Trong đó, 155 bệnh nhân UTPKTBN
được phân ngẫu nhiên thành 2 nhóm: xạ trị (60Gy trong sáu tuần) và nhóm xạ trị
sau hóa trị dẫn đầu hai chu kỳ với phác đồ có cisplatin. Với thời gian theo dõi 7
năm, nhóm có hóa trị dẫn đầu có thời gian sống trung bình 14 tháng so với 10

tâm thành nhóm HXTĐT (cisplatin-mitomycin-vindesine đồng thời xạ trị
ngắt quãng hai liệu trình cách nhau mười ngày) và nhóm HXTTT (cùng phác
đồ hóa trị sau đó xạ trị 56Gy). Dù xạ trị ngắt quãng những liệu pháp
HXTĐT cho kết quả rất khả quan so với HXTTT: tỷ lệ đáp ứng 84% so với
66%, thời gian sống còn trung bình 17 tháng so với 13 tháng, tỷ lệ sống còn
2 năm 35% so với 17%, tỷ lệ sống còn 5 năm 16% so với 9% [31].
Curran và cộng sự (2003) tiến hành thử nghiệm lâm sàng RTOG 9410
cho 610 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn III không mổ được. Kết quả thời
gian sống còn trung bình ở nhánh HXTĐT với xạ trị phân liều chuẩn tốt
hơn nhánh HXTTT (17 tháng so với 14,6 tháng). Tỷ lệ độc tính điều trị trong
nhánh hóa-xạ trị đồng thời có tăng hơn nhưng tỷ lệ tử vong liên quan với điều
trị thì không tăng [32].
Zatloukal và cộng sự (2004) nghiên cứu HXTĐT với phác đồ hóa
trị cisplatin-vinorelbine trên 102 bệnh nhân cũng cho thấy hiệu quả vượt
trội của HXTĐT với tỉ lệ đáp ứng là 80% so với 47% ở nhóm hóa-xạ trị
tuần tự (p=0,001), trung vị thời gian sống còn dài hơn, 16,6 so với 12,9
tháng (p=0,023), trung vị thời gian bệnh không tiến triển dài hơn, 11,9 so với
8,5 tháng (p=0,024). Tuy nhiên, độc tính cũng tăng có ý nghĩa, giảm bạch cầu
53% so với 19% (p=0,009) và nôn ói 39% so với 15% (p=0,044) [33].
1.5.3. Độc tính của hoá-xạ trị điều biến liều đồng thời
Việc phối hợp hóa-xạ trị đồng thời (HXTĐT) về mặt lý thuyết ưu điểm


16

hơn việc phối hợp tuần tự, trên thực tế, các nhà lâm sàng đã tốn nhiều
công sức để chứng minh bằng các thử nghiệm lâm sàng. Các nghiên cứu
hóa-xạ trị đồng thời cho thấy tăng độc tính đáng kể so với hóa-xạ trị tuần
tự, đặc biệt là triệu chứng viêm thực quản cấp tính như nuốt nghẹn/ nuốt
đau. Tuy nhiên, đa số các độc tính này đều tự giới hạn. Các độc tính huyết

Tại Cộng hòa liên bang Đức, Huber và cộng sự thử nghiệm lâm sàng pha
III đa trung tâm trên 212 bệnh nhân so sánh HXTTT và HXTĐT với cùng
phác đồ [40].
Vokes và cộng sự (2007) nghiên cứu 331 bệnh nhân để đánh giá vai
trò của hóa trị dẫn đầu trong phối hợp với HXTĐT[41]. Năm 2010,
Yamamoto và cộng sự thuộc nhóm nghiên cứu Ung bướu lồng ngực Tây
Nhật bản thực hiện một nghiên cứu pha III đa trung tâm so sánh các phác đồ
hóa trị thế hệ 2 liều lượng đầy đủ với các thuốc thế hệ 3 nhưng giảm liều
trong phối hợp xạ trị đồng thời cho UTPKTBN giai đoạn III [42].
1.5.4. Xạ trị điều biến liều (IMRT)
Là kỹ thuật xạ trị tiên tiến sử dụng máy gia tốc tuyến tính để đưa liều
bức xạ chính xác tới khối u hoặc thể tích cần điều trị. Kỹ thuật này sử dụng phần
mềm lập kế hoạch ngược (inversed planning) chia các trường chiếu ra nhiều
chùm tia nhỏ (beamlet) và điều biến, kiểm soát cường độ của các chùm tia nhỏ
này để đảm bảo phân bố liều chính xác theo yêu cầu của thể tích điều trị.
Ưu điểm vượt trội của xạ trị điều biến liều so với kỹ thuật xạ trị thường
quy là nó cho phép nâng liều cao tại khối u trong khi hạn chế liều chiếu vào
mô lành xung quanh và khả năng kê liều đồng thời vào nhiều thể tích điều trị.
Do đó, kỹ thuật này giúp tăng khả năng tiêu diệt khối u đồng thời làm giảm
tác dụng phụ của xạ trị, nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên
do có sự chênh lệch về liều rất lớn giữa thể tích điều trị và mô lành xung
quanh đòi hỏi sự chính xác trong quá trình điều trị nên cần sự kết hợp với xạ


18

trị dưới hướng dẫn hình ảnh
Murshed H [43] khi nghiên cứu trên 41 bệnh nhân UTPKTBN giai
đoạn III-IV thấy rằng xạ trị điều biến liều cải thiện đáng kể phạm vi bảo vệ và
giảm được liều chiếu xạ so với nhu mô lành xung quanh

1.6. Một số hướng nghiên cứu HXT đồng thời trên thế giới
1.6.1. Phẫu thuật sau khi kết thúc HXTĐT
Một số nghiên cứu lâm sàng được thực hiện để đánh giá vai trò phẫu
thuật ở UTPKTBN giai đoạn III như là một phần trong liệu pháp phối hợp
đa mô thức. Eberhardt và cộng sự đánh giá vai trò của phẫu thuật sau khi
điều trị dẫn đầu với hoá trị hoặc hoá-xạ trị đồng thời. Tuy kết quả sống
còn cho thấy rất khả quan ở nghiên cứu pha II này nhưng tỷ lệ tử vong liên
quan phẫu thuật (hơn 5%) cao hơn hẳn tỷ lệ tử vong do phẫu thuật
UTPKTBN ở giai đoạn sớm [45]. Năm 2009, Albain và cộng sự báo cáo
nghiên cứu pha III đánh giá vai trò phẫu thuật sau HXTĐT, kết luận thời gian
sống không bệnh tiến triển tốt hơn ở nhóm có phẫu thuật (12,8 tháng so với
10,5 tháng) nhưng tỉ lệ tử vong do điều trị lại cao hơn (8% so với 2%) [46].
1.6.2. Ứng dụng các hóa chất thế hệ mới
Blackstock và cộng sự (2006) so sánh ngẫu nhiên 69 bệnh nhân
HXTĐT với 2 phác đồ khác nhau: carboplatin-paclitaxel hàng tuần và
gemcitabine mỗi 2 tuần. Trung vị thời gian sống còn là 24,2 tháng đối với
nhóm carboplatin-paclitaxel và 17 tháng đối với nhóm carboplatingemcitabine. Nhóm gemcitabine có 13% bệnh nhân tử vong do độc tính hô
hấp. Nghiên cứu đã chứng minh kết quả bất lợi về mặt tác dụng phụ khi sử
dụng gemcitabine phối hợp đồng thời với xạ trị [47]. Seiwert và cộng sự
(2005) nghiên cứu pha I kết luận HXTĐT với pemetrexed-carboplatin an
toàn cho UTPKTBN và ung thư thực quản [48]. Dựa trên kết quả này,
Bogart và cộng sự (2006) thuộc nhóm nghiên cứu CALGB nghiên cứu


20

pha II phối hợp pemetrexed-carboplatin đồng thời với xạ trị 70Gy [ 4 9 ] .
Tuy nhiên kết quả cũng chưa thật sự thuyết phục và cho đến nay,
pemetrexed vẫn chưa được công nhận trong các khuyến cáo thực hành lâm
sàng trong phối hợp đồng thời với xạ trị.

vị thời gian theo dõi 28 tháng, trung vị thời gian sống còn của tất cả bệnh
nhân là 37 tháng [14].
Nhóm CALGB tổng hợp và phân tích các dữ liệu nghiên cứu pha I và
II của Đại học North Carolina và Wake Forest (Hoa Kỳ) sử dụng liều xạ tăng
cường tối đa là 74Gy từ liều khởi đầu 60Gy. Về thể tích xạ trị, Đại học North
Carolina chỉ xạ trị hạch di căn và không xạ phòng ngừa hạch, ngoài ra, tất cả
bệnh nhân đều được hóa trị tân hỗ trợ trước khi HXTĐT với carboplatinpaclitaxel hàng tuần. Với trung vị thời gian theo dõi 43 tháng, trung vị thời
gian sống còn là 24 tháng [53].
1.6.5. Phối hợp liệu pháp nhắm trúng đích đồng thời xạ trị
Rischin và cộng sự (2004) nghiên cứu pha I phối hợp gefitinib và
carboplatin-paclitaxel hàng tuần kết hợp đồng thời với xạ trị cho thấy tính
dung nạp tốt [23]. Nghiên cứu CALGB 30106 (2006) tiến hành điều trị tân
hỗ trợ 2 chu kỳ paclitaxel-carboplatin mỗi 3 tuần cùng với gefitinib và
HXTĐT với gefitinib (tổng liều xạ 66Gy). Kết quả trung vị thời gian sống
còn không tái phát là 11,5 tháng và trung vị sống còn toàn bộ là 19 tháng
[54]. Kelly và cộng sự (SWOG 0023) nghiên cứu pha III so sánh giữa điều
trị duy trì với gefitinib và chất giả dược sau khi đã HXTĐT và docetaxel
củng cố. Trung vị sống còn toàn bộ của tất cả bệnh nhân khá tốt với 19
tháng tuy nhiên trung vị sống còn cho nhóm giả dược lại ưu thế hơn nhóm
duy trì với gefitinib (35 tháng so với 23 tháng; P=0,01) [55].
1.7. Tình hình nghiên cứu hóa xạ trị đồng thời ung thư phổi KTBN tại
Việt Nam
Tại Việt Nam còn ít các nghiên cứu về hóa xạ trị đồng thời ung thư phổi
không tế bào nhỏ giai đoạn III không mổ được bởi lẽ đây là phương pháp điều


22

trị đa mô thức mà không phải cơ sở y tế nào cũng có thể đáp ứng được sự
đồng bộ trang thiết bị kỹ thuật. Nhìn chung tại Việt Nam các nghiên cứu hóa

tháng là 38%, 36 tháng là 21%. Thời gian sống thêm không tiến triển trung
bình là 16 tháng. Tác dụng phụ chủ yếu trên hệ tạo huyết, viêm thực quản
và tổn thương da diện tia. Các tác giả đã kết luận phác đồ phối hợp hóa xạ
trên cho kết quả tốt và an toàn [57].
Lê Tuấn Anh (2015) nghiên cứu điều trị 60 BN UTPKTBN giai đoạn III
bằng phác đồ hóa xạ trị đồng thời (PC hàng tuần với Paclitaxel 45 mg/m 2 da,
Carboplatin AUC2 kết hợp đồng thời xạ trị 60 Gy, phân liều 2 Gy/ngày, 5
ngày/ tuần). Tỷ lệ đáp ứng điều trị là 57,2% trong đó 5,4% đáp ứng hoàn toàn
và 51,8% đáp ứng một phần. Với trung vị thời gian theo dõi 16 tháng, trung vị
thời gian sống thêm không bệnh tiến triển và sống thêm toàn bộ lần lượt là
10,8 và 17,5 tháng. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 1 năm và 2 năm lần lượt là 55%
và 37,5%. Tỷ lệ tái phát tại chỗ và di căn xa lần lượt là 33,3% và 38,3%. Các
yếu tố tiên lượng có ý nghĩa là chỉ số hoạt động cơ thể PS và tình trạng sụt
cân trước điều trị. Về tính an toàn, các độc tính huyết học thường gặp ở mọi
độ là giảm bạch cầu (65%) và giảm huyết sắc tố (61,7%), giảm bạch cầu nặng
ít gặp (11,7%). Các độc tính ngoài huyết học thường gặp ở mọi độ gồm chán
ăn/mệt mỏi (80%) và viêm thực quản (66,7%). Viêm thực quản nặng và chán
ăn/mệt mỏi mức độ nặng cùng chiếm tỉ lệ 21,7%. Hiếm gặp ho/khó thở mức
độ nặng (6,7%). Tác giả đã đi đến kết luận phác đồ hóa xạ trị đồng thời trên là
có hiệu quả và độc tính chấp nhận được [58].
Vũ Hữu Khiêm (2017) nghiên cứu điều trị 42 bệnh nhân ung thư phổi
KTBN giai đoạn III không mổ được bằng hóa xạ trị đồng thời (hóa chất
Paclitaxel 175 mg/m2 da, Carboplatin AUC6 kết hợp với xạ trị kỹ thuật
PET/CT mô phỏng tổng liều 60 – 70 Gy, phân liều 2 Gy/ngày, 5 ngày/tuần).
Tỷ lệ kiểm soát bệnh 91,5% trong đó đáp ứng hoàn toàn 28,6%, đáp ứng một
phần là 59,5%, bệnh giữ nguyên 2,4%. Trung vị thời gian sống thêm không
tiến triển là 17,7 ± 1,9 tháng. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4


24

25

xoắn của chúng. Tính ổn định này ức chế sự tái tổ chức bình thường của mạng
lưới vi thể, một hiện tượng chủ yếu của chức năng sống của tế bào trong gian
kỳ của gián phân. Ngoài ra, Pactitaxel còn gây sự hình thành không bình
thường các nhóm hay bó mạng lưới vi thể trong suốt chu kỳ tế bào
+ Chỉ định:
- Ung thư phổi không thế bào nhỏ
- Các bệnh khác: Ung thư biểu mô buồng trứng, ung thư vú, ung thư đầu
mặt cổ, ung thư bàng quang, …
+ Chống chỉ định:
- Tiền sử quá mẫn với paclitaxel
- Bạch cầu đa nhân trung tính giảm nặng
+ Liều lượng và cách sử dụng;
- 135 – 225 mg/m2 truyền tĩnh mạch chậm trong 3 giớ, chu kỳ 3 tuần
- 100 mg/m2 truyền tĩnh mạch chậm trong 3 giờ, chu kỳ 2 tuần (điều trị
sarcom Kaposi)
- 80 – 100 mg/m2, truyền tĩnh mạch trong 1 giờ, hàng tuần
+ Tác dụng không mong muốn:
- Ức chế tủy xương: hay gặp giảm bạch cầu và là độc tính giới hạn liều
Ngoài ra: giảm tiểu cầu, hồng cầu.
- Các tác dụng phụ khác: buồn nôn, nôn, rụng tóc, viêm niêm mạc, phản
ứng quá mẫn, rối loạn cảm giác, ỉa chảy, đau cơ khớp [15].
b. Carboplatin: Là một platin thế hệ 2 sau Ciplatin
- Cơ chế tác dụng : thuốc gắn với phân tử ADN qua liên kết alkyl. Qua
đó ức chế quá trình tổng hợp qua sao chép hoặc tác đôi phân tử ADN, ức chế
quá trình tổng hợp ADN và protein của tế bào
- Chỉ định:
- Ung thư phổi
- Các bệnh khác : ung thư đầu mặt cổ, ung thư buồng trứng, ung thư tinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status