NHU cầu và KHẢ NĂNG CUNG cấp DỊCH vụ CÔNG tác xã hội đối với NGƯỜI BỆNH tại BỆNH VIỆN hữu NGHỊ VIỆT đức năm 2019 - Pdf 55

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

NGUYN NGC TON

NHU CầU Và KHả NĂNG CUNG CấP
DịCH Vụ CÔNG TáC Xã HộI ĐốI VớI NGƯờI
BệNH
TạI BệNH VIệN HữU NGHị VIệT ĐứC NĂM
2019
Chuyờn ngnh : Qun lý bnh vin
Mó s

: 60720701

LUN VN THC S QUN Lí BNH VIN

Ngi hng dn khoa hc:
GS. TS. LU NGC HOT
2. TS. L


E VIỆT KHANH
HÀ NỘI – 2019
CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CTXH
DV

2.1.2. Đối tượng nghiên cứu định tính..............................................................21
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.................................................................21
2.3. Thiết kế nghiên cứu......................................................................................21
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu...............................................................22
2.4.1. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng......................................22
2.4.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính..........................................23
2.5. Phương pháp thu thập số liệu........................................................................23
2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu định lượng................................................23
2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu định tính...................................................24
2.6. Biến số nghiên cứu.......................................................................................24
2.6.1. Nhóm biến số nghiên cứu định lượng.....................................................24


2.6.2. Chủ đề nghiên cứu định tính...................................................................24
2.7. Phương pháp phân tích số liệu......................................................................24
2.7.1. Các thông tin định lượng.........................................................................24
2.7.2. Các thông tin định tính............................................................................26
2.8. Đạo đức nghiên cứu......................................................................................26
2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục...............................27
2.9.1. Hạn chế của nghiên cứu..........................................................................27
2.9.2. Sai số và Biện pháp khắc phục của nghiên cứu.......................................27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................28
3.1. Thông tin về người bệnh...............................................................................28
3.2. Nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người bệnh.....................32
3.2.1. Nhu cầu dich vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh....34
3.2.2. Nhu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin điều trị bệnh........................37
3.2.3. Nhu cầu cung cấp thông tin, kiến thức truyền thông giáo dục sức khỏe.....40
3.2.4. Nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội................................................................41
3.2.5. Nhu cầu hỗ trợ kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện.........................43
3.3. Khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với bệnh nhân tại Bệnh viện



DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tốcung cấp dịch vụ
chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh theo khu vực ...............34
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin
chung về khám chữa bệnh..................................................................35
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tốcung cấp dịch vụ
tư vấn thông tin điều trị bệnh theo khu vực........................................37
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin liên
quan phòng ngữa và điều trị bệnh......................................................38
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin điều
trị bệnh...............................................................................................38
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tố cung cấp thông
tin, kiến thức truyền thông giáo dục sức khỏe theo khu vực .............40
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp thông tin, kiến thức truyền
thông giáo dục sức khỏe.....................................................................40
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu chung được hỗ trợ nhóm yếu tố tâm lý xã
hội theo khu vực.................................................................................41
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội...............................42
Biểu đồ 3.10. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tố kết nối các
nguồn lực và hỗ trợ từ thiện theo khu vực .........................................43
Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu hỗ trợ kết nối các nguồn lực và hỗ trợ
từ thiện...............................................................................................44


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác xã hội (CTXH) là một nghề với sứ mạng giúp đỡ, hỗ trợ, chăm



2

kết nối nguồn lực. Các hoạt động về hỗ trợ tâm lý xã hội có chiều sâu còn rất hạn
chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của người bệnh và người nhà người bệnh [3].
Các nghiên cứu về CTXH hiện nay tại Việt Nam còn rất hạn chế, năm 2017 có
nghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Tiến Nam về “Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch
vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K năm 2017”. Nghiên
cứu này thực hiện trên NB được chẩn đoán là ung thư, một trong những đối
tượng có gánh nặng bệnh tật, chăm sóc, chi phí điều trị lớn. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, NB ung thư có 5 nhu cầu về dịch vụ CTXH như sau: nhu cầu về dịch
vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh; nhu cầu về dịch vụ tư
vấn thông tin điều trị bệnh; nhu cầu truyền thông, nâng cao nhận thức, các nội
dung về phòng, chống điều trị ung thư; nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội; nhu cầu
kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện. Thực trạng bệnh viện đáp ứng được cả 4
nhu cầu trên nhưng theo bệnh nhân đánh giá chưa cao [4].
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bệnh viện hạng đặc biệt, chuyên về ngoại
khoa tuyến trung ương, nơi tiếp nhận các trường hợp chấn thương nặng, đa chấn
thương chủ yếu là do tai nạn. Người bệnh và người nhà người bệnh thường đến
viện với tâm lí lo sợ, hoang mang, hoảng hốt, thậm chí mất phương hướng.Từ đó
nảy sinh nhu cầu muốn được chỉ dẫn, cung cấp thông tin, hỗ trợ các vấn đề liên
quan khi vào viện.
Phòng Công tác xã hội, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức được thành lập ngày
16/4/2015 là cầu nối giữa thầy thuốc, người bệnh và người nhà người bệnh có
chức năng cung cấp các dịch vụ về công tác xã hội. Quản lý tất cả các hoạt động
về CTXH tại bệnh viện. Hiện nay các hoạt động cung cấp DV CTXH tại bệnh
viện bước đầu tạo thuận lợi cho NB được tiếp cận các DV CTXH nhằm giải quyết
các vấn đề gặp phải trong quá trình khám và điều trị tại bệnh viện. Tuy nhiên do
mới được thành lập, thiếu hụt nhân sự, nguồn lực cần thiết và căn cứ thực tiễn để

Theo Từ điển Tiếng Việt (2004): “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp
cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”. Đề tài
sử dụng khái niệm dịch vụ theo từ điển Tiếng Việt này [7].
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013): “Dịch vụ công tác xã hội có thể
được coi là một loại hình dịch vụ xã hội được cung cấp, điều phối bởi các nhân
viên công tác xã hội. Việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội không thể tách
rời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền thông và các dịch vụ
khác. Chính vì vậy, nhân viên công tác xã hội phải có sự nối kết chặt chẽ với
các dịch vụ xã hội khác trong quá trình thực hiện dịch vụ công tác xã hội” [8].


4

1.1.3. Khái niệm nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội
Trước hết, để hiểu rõ hơn về các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, chúng
tôi đưa ra các quan điểm của các nhà khoa học về nhu cầu tối thiểu trong cuộc
sống.
Theo quan điểm A.Maslow chia nhu cầu thành 5 loại [9]:
– Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nước uống…
– Nhu cầu an toàn (bảo vệ): nhà ở, việc làm, sức khoẻ…
– Nhu cầu giao tiếp xã hội: Tình thương yêu, được hoà nhập
– Nhu cầu được tôn trọng: Được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm
người…
– Nhu cầu tự khẳng định mình: Nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khả
năng và tiềm lực của mình [9].
Và DV xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: DV xã hội cơ bản
là các hoạt động DV cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng
những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (UN – Africa Spending Less on Basic
Social Services) [10].
Như vậy:

hiện các hoạt động cung cấp DV CTXH giúp NB đáp ứng nhu cầu thông tin
khám - chữa bệnh, hỗ trợ tâm lý – xã hội, nâng cao kiến thức, vận động nguồn
lực và hỗ trợ từ thiện nhằm giảm bớt gánh nặng bệnh tật; xây dựng mối quan
hệ hài hoà giữa thể chất và tinh thần người bệnh, mối quan hệ giữa người bệnh
với người thân, giữa NB với người những người xung quanh và với cơ sở y tế.
Dựa trên các điều kiện vềcung ứng dịch vụ, nhân lực, hệ thống thông tin y tế,
trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, tài chính, quản lý/điều hành.
1.2. Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện ở trong và ngoài nước
1.2.1. Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện trên thế giới
CTXH trong bệnh viện có một lịch sự phát triển lâu đời trên thế giới, từ
cuối thế kỷ 19, từ những năm 1880 ở Anh [12] khi có một nhóm tình nguyện
viên làm việc tại một nhà thương điên của Anh đã có những cuộc thăm viếng
thân thiện nhằm tìm hiểu và giúp đỡ người bệnh sau khi xuất viện trở lại trạng
thái cân bằng trong điều kiện nhà ở hiện tại của họ. Sau đó, CTXH trong bệnh
viện được hình thành ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm 1990 khi những người y tá
đến thăm người bệnh sau khi xuất viện và họ đã thấy được tầm quan trọng của
việc hiểu các vấn đề xã hội của người bệnh [12]. Theo kết quả một cuộc khảo sát


6

quốc gia về chứng chỉ hành nghề của NVXH tại Mỹ thì bệnh viện là môi trường
làm việc thông dụng nhất của người làm nghề CTXH [1]. Nghiên cứu cũng cho
thấy các bệnh viện trên thế giới hiện nay đều phải giải quyết những vấn đề nghiêm
trọng của người bệnh, khối lượng công việc của bệnh viện gia tăng, những công
việc liên quan đến những thủ tục giấy tờ, danh sách người bệnh chờ đợi được cung
cấp dịch vụ ngày càng tăng [1].
Năm 1877, “tổ chức từ thiện xã hội” được thành lập ở Mỹ đã chú ý tới
việc các tình nguyện viên.Cũng từ đó “các tình nguyện viên” của những năm
1880-1890 đã trở thành những nhân viên công tác xã hội.

gây quỹ từ thiện… Trong khi đó hầu hết tại các bệnh viện của cả nước, nhất là
các bệnh viện tuyến trên thường xuyên ở trong tình trạng quá tải. Nhân viên y
tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bức xúc của
NB như: khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hội của người bệnh,
cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của các loại dịch vụ, tư vấn
về phác đồ điều trị, tư vấn cách phòng ngừa, trần an tinh thần cho người
bệnh… Do vậy, hiện đang có nhiều vấn đề nảy sinh tại bệnh viện như: “cò
bệnh viện”, sự hiểu biết thiếu hụt thông tin khi tiếp cận và sử dụng DV khám
chữa bệnh, sự không hài lòng của NB đối với các cơ sở y tế, sự căng thẳng
trong mối quan hệ giữa NB và thầy thuốc ,… [13]. Có nhiều lý do khiến cho
người nhà của NB cảm thấy bức xúc vì người thân của họ có thể không được
chữa trị kịp thời, có thể bị chết mà không rõ lý do... Việc giải quyết những vấn
đề thiếu hụt thông tin khám chữa bệnh, sự không hài lòng, bức xúc này là vấn
đề mà không phải ai trong bệnh viện cũng có thể làm được và do đó rất cần
người có chuyên môn và trình độ nhất định, người có thể làm những DV hỗ trợ,
tham vấn người bệnh, người nhà người bệnh và cả nhân viên trong bệnh viện
[14].
Chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng,
là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động được Đảng và Nhà nước ta hết sức
quan tâm. Để thực hiện được mục tiêu: “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong,
nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng
cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống


8

chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ trung ương đến cơ sở, và thói quen giữ gìn sức
khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc”, trong các kỳ đại hội và trong Nghị quyết số 46-NQ/TW
của Bộ Chính trị ngày 23/5/2005 về công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe

nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương đối với viên chức chuyên ngành CTXH. Thông
tư áp dụng đối với viên chức chuyên ngành CTXH làm việc trong các loại hình
đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực an sinh xã hội. Mã
số và phân hạng cụ thể: CTXH viên chính (hạng II – mã số: V.09.04.01);
CTXH viên (hạng III – mã số: 09.04.02) và nhân viên CTXH (hạng IV – mã
số: V.09.04.03) [17].
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc phát triển nghề CTXH trong
y tế, ngày 26/11/2015, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43/2015/TT-BYT quy định
về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của bệnh
viện.Thông tư quy định 7 nhiệm vụ cụ thể: (1) Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn
đề về CTXH cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám
bệnh, chữa bệnh. (2) Thông tin, truyền thông và phổ biến giáo dục pháp luật.
(3) Vận động tiếp nhận tài trợ về kinh phí, vật chất để hỗ trợ người bệnh có
hoàn cảnh khó khăn. (4) Hỗ trợ nhân viên y tế như cung cấp thông tin về người
bệnh cho nhân viên y tế trong trường hợp cần thiết để hỗ trợ công tác điều trị;
động viên chia sẻ với nhân viên y tế khi có vướng mắc với người bệnh trong
quá trình điều trị. (5) Đào tạo, bồi dưỡng nghề CTXH cho học sinh, sinh viên
các cơ sở đào tạo nghề CTXH; bồi dưỡng, tập huấn kiến thức CTXH cho nhân
viên y tế và nhân viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản
về y tế cho người làm việc về CTXH. (6) Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm
CTXH của bệnh viện. (7) Tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện
tại cộng đồng (nếu có) [11].
Tuy nhiên, hoạt động CTXH trong ngành hiện mới chỉ mang tính tự
phát, chưa được điều chỉnh nhiều bới các văn bản mang tính pháp lý. Đội ngũ
cán bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm,
chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính
chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi.


10



11

Đặc biệt nghiên cứu “Ảnh hưởng của nhu cầu chăm sóc, tính hỗ trợ và
chuẩn bị sẵn sàng về kết cục chăm sóc gia đình trong quá trình điều trị ung
thư” của Đại học Nebraska (2008) đã cho ra những kết quả bất ngờ: Nhu cầu có
liên quan mạnh nhất với khó khăn trong việc chăm sóc và căng thẳng bao trùm.
Sự phụ thuộc lẫn nhau (tính hỗ trợ) có liên quan mạnh nhất với sự tức giận của
người chăm sóc. Thật bất ngờ, chuẩn bị sẵn sàng có mối liên hệ mạnh mẽ với
các kết quả rối loạn tâm lý hơn so với các biến việc chăm sóc cụ thể khó khăn
và căng thẳng [19]. Nghiên cứu “Vai trò nổi bật và nhu cầu của người chăm sóc
người bệnh ung thư” (Glajchen M, 2008) nhấn mạnh lại một lần nữa: Sự tham
gia của những người chăm sóc gia đình là điều cần thiết để điều trị tối ưu cho
các người bệnh ung thư trong việc đảm bảo tuân thủ điều trị, tiếp tục chăm sóc,
và hỗ trợ xã hội, đặc biệt là ở giai đoạn cuối cuộc đời. Chăm sóc cho một thành
viên trong gia đình mắc bệnh ung thư đặt ra những thách thức đáng kể, với
những hậu quả đáng kể, tâm lý và thể chất cho người chăm sóc [19].
Theo Chandwani, Kavita D và các cộng sự (2012), tỷ lệ hiện mắc các rối
loạn tâm thần nói chung ở người bệnh ung thư dao động từ 24% đến 59%, tỷ lệ
mắc rối loạn trầm cảm dao động từ 0 đến 46%, đối với rối loạn lo âu là từ 1 đến
49%. Tính trung bình, khoảng 1/3 người bệnh ung thư có các biểu hiện lo âu,
căng thẳng và đau khổ về tâm lý. Tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý thay đổi theo
từng loại bệnh ung thư và có khác biệt giữa các quốc gia; tỷ lệ rối loạn trầm
cảm ở người bệnh ung thư vú trung bình là 50% trong khi ở người bệnh mắc
ung thư phổi là 67% [20]. Trầm cảm ở người bệnh ung thư có mối liên hệ với
một số đặc điểm nhân khẩu học, xã hội, và các yếu tố liên quan đến điều trị
bệnh, các yếu tố về tâm lý, lối sống, sự hỗ trợ xã hội và chất lượng cuộc sống
[21].
Khảo cứu của Khoa Thần kinh tâm trí, Trường Đại học Y Hofstra North

bộ phải có hiểu biết về hai vai trò hoàn toàn khác biệt: (1) kiến thức và thực hành về
CTXH và (2) khoa học và nghệ thuật trong điều trị [26]. Vai trò của họ là “sử dụng
tối đa các dịch vụ trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ của người bệnh, giúp xây dựng
các chiến lược ứng phó tối ưu và huy động tốt nhất các nguồn lực hỗ trợ từ cộng
đồng". Ở nhiều nước phát triển, nhân viên CTXH được đào tạo các kiến thức và kỹ
năng lâm sàng cũng như tâm lý học xã hội để đánh giá nhu cầu, thực hiện can thiệp


13

cho người bệnh và gia đình của họ để giúp họ có những quyết định tốt nhất trong
quá trình điều trị; đồng thời, nhân viên CTXH có thể làm việcvới các cán bộ y tế
khác, đào tạo và giám sát các cán bộ trẻ hơn [12]. Hiệu quả hoạt động của họ được
chứng minh thông qua việc tăng tỷ lệ sống sót cũng như chất lượng cuộc sống rõ rệt
cho người bệnh.
Nhân viên CTXH đang đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của NB, đặc biệt tại
các quốc gia đang phát triển. Tuy vậy, hiện các cơ sở điều trị ở hầu hết các nước đang
phát triển đều đang phải đối mặt với các vấn đề về thiếu hụt nguồn nhân lực và tài
chính, cũng như cung cấp dịch vụ CTXH, chăm sóc hỗ trợ và giảm nhẹ để giảm gánh
nặng bệnh tật cho người bệnh [27]. Thiếu hụt cán bộ và khâu tổ chức DV yếu kém dẫn
đến sự chậm trễ trong chẩn đoán, chẩn đoán sai và thiếu các DV chăm sóc và tư vấn hỗ
trợ cho NB. Bên cạnh đó, việc cung cấp các DV đặc thù như dịch vụ CTXH thường chỉ
được thực hiện bởi các cán bộ được đào tạo chung để làm việc trong các hệ thống y tế
công cộng thay vì những cán bộ được đào tạo chuyên ngành.
Việc thiếu hụt cán bộ được đào tạo chuyên ngành như điều dưỡng và cán bộ
CTXH là một vấn đề toàn cầu đe dọa đến việc tiếp tục cải thiện hiệu quả của các
dịch vụ điều trị và chăm sóc người bệnh ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.
Đây được coi là một trong những thách thức hàng đầu trong việc chăm sóc người
bệnh hiện nay.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

các nhu cầu được cung cấp thông tin về các mạng lưới, hỗ trợ tài chính, tư vấn
chăm sóc con cái và tư vấn sức khỏe tình dục [33].
Nghiên cứu của tác giả Đặng Kim Chung và cộng sự (2011) về “Đánh
giá nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội”. Nghiên
cứu đánh giá nhu cầu dịch vụ CTXH (tại cộng đồng và trong trung tâm),
nghiên cứu việc phát triển những dịch vụ CTXH trong phạm vi tài nguyên có
thể huy động, đề xuất kế hoạch xây dựng và vận hành mô hình và hệ thống
cung cấp dịch vụ CTXH từ Trung ương đến cộng đồng. Đề tài đã phân tích và
đánh giá nhu cầu của các đối tượng dựa trên hai khía cạnh: cung và cầu dịch vụ
cho từng nhóm đối tượng cụ thể: người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em,


15

người trưởng thành…Nhu cầu với dịch vụ công tác xã hội của các nhóm đối
tượng rất lớn nhưng vẫn còn đang tiềm ẩn trong xã hội. Hệ thống cơ sở cung
cấp dịch vụ còn manh mún và chất lượng còn kém. Nhận thức và hiểu biết của
công chúng và các nhà hoạch định chính sách về nghề CTXH còn chưa sâu.
Cán bộ làm CTXH còn thiếu và chưa được đào tạo chính quy, tổ chức cung cấp
dịch vụ CTXH ở cộng đồng gần như chưa có. Khuyến nghị các giải pháp: Tăng
cường tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ trợ cấp, các dịch vụ xã hội;
Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện của các trung tâm cung cấp dịch vụ
CTXHđặc biệt là các cán bộ thực hiện ở cấp cơ sở; Tuyên truyền, vận động các
tổ chức, đoàn thể để có sự hiểu biết về các dịch vụ của CTXH [3].
Năm 2015, nghiên cứu “Đánh giá vai trò của hoạt động CTXH trong
bệnh viện đối với việc gia tăng mức độ hài lòng của bệnh nhân và gia đình
người bệnh tại một số cơ sở khám chữa bệnh công lập” được Bộ Y tế tiếp tục
giao cho Viện Chiến lược và Chính sách Y tế thực hiện để làm rõ, chứng minh
vai trò, ý nghĩa của nghề CTXH đối với hoạt động chăm sóc người bệnh toàn
diện, nâng cao chất lượng của công tác khám, chữa bệnh [34].

phát (87.3%). Thứ ba, nhu cầu truyền thông, nâng cao nhận thức, các nội dung về
phòng, chống điều trị ung thư chính là điều bệnh nhân mong muốn được cung cấp
(84.4%). Thứ tư, nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội, bệnh nhân rất muốn nhận được
thăm hỏi về tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh khó khăn của gia đình (86.1%); tư
vấn – tham vấn tâm lý (68.4%); cung cấp thông tin mạng lưới hỗ trợ bệnh nhân ung
thư (75.7%). Thứ năm, nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện, hỗ trợ tiền
mặt thanh toán một phần chi phí điều trị (84.2%); hỗ trợ tiền mặt chi dùng cho sinh
hoạt phí (84.9%); được tặng đồ dùng cá nhân (66.4%); được cung cấp bữa ăn miễn
phí (79.6%); hỗ trợ chỗ ở cho người nhà trong thời gian chăm sóc (74.3%) là những
nhu cầu bệnh nhân rất cần được đáp ứng. Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra rõ mối
tương quan giữa nhu cầu cung cấp DV CTXH cho bệnh nhân ung thư và giới tính,
nhóm tuổi, số lần điều trị, phương pháp điều trị, và trạng thái tâm lý. Bên cạnh đó,
nghiên cứu cũng đã tìm hiểu và làm sáng tỏ những khó khăn, thuận lợi về khả năng
cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K thông qua
các tiêu chí trình độ chuyên môn của nhân viên công tác xã hội, nhận thức và thái
độ hợp tác của đội ngũ y bác sĩ, cơ sở vật chất và tài chính, cơ chế chính sách [4].


17

1.3.2.2. Khả năng cung cấp dịch vụ CTXH cho người bệnh
Cho đến nay, công tác xã hội tại Việt Nam đang ngày càng nhận được sự
quan tâm của Đảng và nhà nước của các cấp chính quyền. Năm 2010 Thủ
tướng chính phủ đã phê duyệt quyết định số 32/210/QĐ/TTg về Đề án phát
triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 [13]. Tiếp đó, năm 2011, Bộ Y
tế phê duyệt Quyết định 2514/QĐ-BYT Đề án phát triển nghề CTXH trong
ngành y tế giai đoạn 2011-2020 và tiếp theo đó là Thông tư 43/2015/TT-BYT
quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của
bệnh viện [2],[11]. Bên cạnh những mặt thuận lợi về cơ chế, chính sách, CTXH
đang gặp những khó khăn, thách thức trong việc cung cấp DV CTXH cho NB.

là nguồn tài liệu tham khảo rất thiết thực từ thực tiễn chứng minh sự cần thiết
của CTXH trong việc hỗ trợ, động viên, khuyến khích, tạo động lực cho người
bệnh trong suốt quá trình điều trị bệnh. Tuy nhiên, các đề tài chưa đi sâu vào
phân tích CTXH tại một đơn vị y tế cụ thể để nhìn nhận những tác động mang
tính thực tiễn trong công tác điều trị cho người bệnh. Chính vì vậy, vấn đề
nghiên cứu của luận văn này hy vọng sẽ tạo thêm một luận cứ về vai trò của
CTXH trong hỗ trợ điều trị, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tạo sự hài lòng
cho người bệnh từ thực tiễn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
1.4. Khung lý thuyết
Theo Thông tư số 43/2015/TT-BYT ban hành ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế
quy định nhiệm vụ và hình thành tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH trong bệnh
viện, khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu dịch vụ CTXH như sau
[11]:
Nhu cầu của người bệnh:
Nhu cầu cung cấp thông tin, tư
vấn khám, chữa bệnh
Nhu cầu cung cấp dịch vụ truyền
thông và nâng cao nhận thức
Nhu cầu cung cấp dịch vụhỗ trợ
tâm lý – xã hội
Nhu cầu cung cấp dịch vụ kết nối
nguồn lực và hỗ trợ từ thiện

Khả năng cung cấpDịch vụ
CTXH:
Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn
đề về CTXH
Cung cấp thông tin, truyền thông
giáo dục sức khỏe
Vận động tiếp nhận tài trợ

dân
Tổ hỗ trợ
người bệnh

Tiếp
cận
dịch
vụ
BV

Không hài lòng
Hài lòng

Khó khăn kinh tế

Tổ hỗ
trợ
người
bệnh
Tổ trợ giúp
BN nghèo

Tổ truyền thông

Tổ trợ giúp xã hội và bộ phận
quản lý Nhà truyền thống



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status